Trang 3 của 8 Đầu tiênĐầu tiên 123456 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 73

Luật nhân quả trong đời  

ID Topic : 429225
5giay facebook share
  1. #21
    Thành Viên Cấp 4 jimmy_vnu's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    1,580

    Mặc định

    THỜI GIAN TỪ NGHIỆP ĐẾN KẾT QUẢ.
    Câu chuyện của Ngộ Đạt Quốc Sư bị mụt ghẻ mặt người làm ngài đau đớn vô cùng. Nguyên nhân của nó từ khoảng 10 kiếp trước ngài là nhân vật Viên Án tâu vua chém chết Triệu Thố một cách oan uổng.
    Chuyện khác gần đây, trong cơn căm giận tột độ, anh Tư đã dùng hết sức bình sinh tung một cước độc hại vào ngực anh Tuấn. Anh Tuấn đang ngồi dựa vào tường. Thoáng thấy cú đá anh lách người né ra cửa. Không trúng anh Tuấn, cú đá đi luôn vào tường dày 20 làm tường chấn động rạn nứt và năm ngón chân của anh Tư bị dập nát, phải đưa anh đi bệnh viện cấp cứu.

    Ở câu chuyện của Ngộ Đạt, thời gian để cho quả báo xuất hiện là 10 kiếp. Ở câu chuyện dưới quả báo xuất hiện song song với nghiệp nhân.

    Không có thể xác quyết rằng một nghiệp phải có quả báo ở lúc nào, đời này, đời sau, hay nhiều đời khác. Nó tùy thuộc vào nghiệp duyên của mỗi người. Ngay khi chúng ta vừa đắp xong một đoạn đường hư lỡ, lập tức ngay trong Bản Thể, luật Nghiệp Báo đã sắp xong các quả báo lành cho vị lai. Nhưng để xác định thời điểm cho mỗi quả báo xuất hiện, cần phải phối hợp với tất cả nghiệp duyên từ trước. Ở đây, luật Nghiệp Báo giống như một máy siêu điện toán cực kỳ tinh vi, trong thoáng chốc đã “tính ra” tình trạng của quả báo này và thời điểm của quả báo.
    Có người từng tạo phước quá nhiều, đời này có lỡ làm tội, quả báo cũng ít khi xảy ra trong thời gian gần, có thể kéo dài qua nhiều kiếp sau nữa. Ngược lại, người ít phước, năm nay vừa lừa gạt bạn bè, vài năm sau đã bị lừa gạt lại.

    Hoặc có người tội dày, bây giờ có ráng tu tập làm phước cũng khó thấy được kết quả nhanh chóng. Có khi phải qua đời sau mới được hưởng. Ngược lại người ít tội, vừa làm phước như bố thí, phóng sinh, năm mười năm sau đã thấy cuộc đời tràn đầy may mắn yên lành.

    Một ông già giữ mía, tưởng là heo đến phá, đã phóng cây xà-búp ghim vào bụng đứa bé. Ông sợ hãi chôn đứa bé để phi tang mặc dù nó chưa chết. Hơn mười năm sau, đứa bé tái sinh qua nhà hàng xóm, đã lỡ tay làm rớt con dao ghim vào bụng ông khi ông đang cõng nó để hái trái đu đủ. Ông chịu đựng đau đớn suốt mấy ngày, cho gọi gia đình có đứa bé bị giết hồi mười năm trước và tất cả mọi người thân thuộc đến, ông thuật lại câu chuyện đã được dấu kín từ lâu, và xác nhận đây là quả báo mà ông phải trả. Ông vui lòng nhận lãnh và khuyên mọi người ráng làm lành. Sau đó ông qua đời (trong Luận về Nhân Quả, Chơn Quang).
    Trong câu chuyện này thời gian để quả báo xuất hiện là mười năm, ngay trong kiếp hiện tại của ông già giữ mía.
    Mặt khác, một nghiệp nhân chính thường tạo ra nhiều nghiệp nhân phụ. Ví dụ tên trộm lẻn vào lấy cắp chiếc xe của ông chủ nhà. Nghiệp chính là đoạt tài sản của người khác một cách bất hợp pháp. Bên cạnh đó một số ảnh hưởng phụ kéo theo như, vì thiếu xe đi làm ông phải thay đổi sở làm gần nhà hơn và thu nhập ít đi, kinh tế gia đình bị giảm sút. Các con phải bỏ bớt giờ học thêm. Nỗi buồn kéo dài triền miên trong gia đình. Những nghiệp chính và phụ đó tạo thành nhiều loại quả báo khác nhau. Thời gian để cho mỗi loại xuất hiện cũng khác nhau. Tên trộm phải trả quả báo mất mát trong kiếp này, quả báo ít học trong kiếp sau, quả báo trầm uất trong kiếp sau nữa.
    Ví dụ một người mẹ kế đã âm mưu giết đứa con riêng của chồng. Có hai quả báo hiện ra từ một nghiệp nhân đó: một, chính bà sẽ bị giết khi còn nhỏ tuổi ở kiếp sau; ngay trong kiếp này bà phải chứng kiến đứa con ruột mình bị chết oan uổng.
    Ở tính chất khác, một người biết tu hành, có lòng thương loài vật, phát nguyện không sát sinh. Ông ít nghiệp ác, chỉ có nghiệp thiện và công đức tu hành hiện tại. Đời sống ông yên ổn bình thản. Một lần ông lỡ đốt rác làm chết nhiều con mối núp ở dưới. Vài ngày sau ông trở bệnh. Cơn bệnh của ông có hai nguyên nhân. Một là do tâm ông áy náy khi biết mình lỡ sát sinh; hai là do quả báo trả sớm, không để dây dưa qua kiếp khác.
    Một nhà kiến trúc tên Nhâm (tác giả công trình trụ sở Imexco) không theo tôn giáo nào, chỉ sống theo đạo lý do mình tự tìm thấy. Nhà ông có nuôi ít gà vịt. Ông quan niệm rằng không nên ăn thịt con vật nào đã từng cung cấp trứng cho mình trước đó vì nó đã có ơn với mình. Còn con nào chưa từng cho trứng thì có thể ăn thịt được. Một lần vợ ông giết thịt một con vịt cho cả nhà ăn. Sau đó cả nhà mới phát hiện ra rằng con vịt đã từng cho trứng. Chiều đó miệng ông sưng to như một sự trừng phạt vì đã vi phạm lời thề. Triệu chứng đó cũng có hai nguyên nhân. Một là tâm lý ray rứt của ông, hai là quả báo đến sớm.
    Một tính chất khác cũng cần được nói đến là sự thay đổi thời gian của quả báo. Ví dụ: anh Tám lỡ tạo nghiệp giam cầm thú vật. Sự ấn định của luật Nghiệp Báo từ trong Bản Thể là anh phải bị tù tội ngắn hạn vào mười năm sau. Nhưng khi gần đến thời gian ấn định, anh lại phát tâm làm các việc phước thiện như đắp đường, phóng sinh, bênh vực kẻ oan ức. Cái phước lớn này làm cho quả báo bị tù tội bị đẩy lùi qua kiếp sau để cho đời sống hiện tại của anh không bị xáo trộn.
    Như vậy những nghiệp mới làm thay đổi biến dạng quả báo của nghiệp cũ. Nhờ vào tính chất này, chúng ta có thể chuyển nghiệp từ xấu thành tốt, từ nặng thành nhẹ.


  2. #22
    Thành Viên Cấp 4 jimmy_vnu's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    1,580

    Mặc định

    NGƯỜI VÀ THÚ.
    Khi tinh trùng của cha kết hợp với tiểu noãn của mẹ, lúc đó mọi người bắt đầu một kiếp sống mới. Nhưng tùy theo nghiệp của mình mà tinh trùng và trứng đó là của loài người hay loài thú.
    Thông thường, người nào tội nặng mới bị đọa làm thú. Dưới ánh mắt của con người thì loài thú không có nhiều giá trị. Người ta có thể dùng thú vật để làm thức ăn, để thực hiện các thí nghiệm khoa học, để phục vụ cho con người. Mặc dù thời gian gần đây ở các nước tiên tiến có luật bảo vệ thú vật, hoặc có luật bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng. nhưng thú vật vẫn thuộc một “đẳng cấp” thấp kém so với loài người.
    Như vậy, kẻ nào tạo những nghiệp bỉ ổi, thấp hèn, mất giá trị, mất nhân phẩm sẽ bị đọa làm thú, và ở thân thú vật này họ bị coi thường khinh rẻ.
    Những nghiệp nào được xem là hèn hạ, mất nhân phẩm?
    Đó là tà dâm, loạn luân, phá vỡ luân thường đạo lý của xã hội loài người. Dục vọng không biết kềm chế, không có lý trí hướng dẫn, rõ ràng tương đương với dục vọng của loài thú. Hạnh nghiệp giống với loài thú đưa tác giả đi đến kiếp thú về sau.

    Hoặc lòng ích kỷ tột độ biến thành hành vi tranh giành xâu xé đồng loại không thương tiếc cũng rất giống với loài thú. Những người quá ích kỷ chỉ nghĩ đến mình, dùng mọi thủ đoạn hiểm độc để bức hại kẻ khác, dành quyền lợi cho mình. Tư cách này không khác biệt với loài thú chỉ biết sống theo bản năng ích kỷ, tranh giành hành vi giống như thú thì quả báo đọa làm thú là điều không tránh khỏi.
    Hoặc có người mỗi khi nóng giận thường chửi mắng kẻ khác là thú vật bằng cách gọi họ là trâu, chó, heo, ngựa... Lời nói ác khẩu này lập đi lập lại nhiều lần suốt đời sẽ đủ sức kết thành quả báo đọa thú ở thân sau. Trong luật Sadi của Phật Giáo Bắc Tông có kể câu chuyện một Sa Di, vì vô tình đã chê bai một vị A La Hán tụng kinh giống như tiếng chó sủa. Do lời nói này, người Sa Di bị đọa làm chó năm trăm đời liên tiếp.
    Hoặc có người làm nghề giết thịt như mổ gà vịt, mổ heo bò... Đến khi gần chết họ bỗng trở bệnh kêu la như vịt, như heo và thấy ảo ảnh có vô số thú vật đến cắn xé. Chuyển qua kiếp kế tiếp, chắc chắn họ phải đọa làm thú để chịu lại cảnh đau đớn khi bị mổ giết. Nhưng do trong một đời hành nghề, họ đã giết quá nhiều thú vật nên họ phải đọa làm thú liên tiếp nhiều kiếp sau để trả cho hết oan trái ngày xưa.
    Nếu người đó đã từng sát sinh thú vật cộng với một nhân cách hèn hạ chắc chắn đời sau họ sẽ đọa làm thú để vừa bị khinh rẻ, vừa bị giết hại trở lại.

    Còn nếu người đó chỉ phạm tội sát sinh, nhưng có nhân cách cao cả, độ lượng thương yêu mọi người, kiếp sau họ vẫn trở lại làm người nhưng phải chịu tai nạn thương tật hay chết yểu.

    Có người đời trước thọ nhận, nhiều tài vật của người khác một cách bất chính như trộm cắp, giật nợ, hoặc tu sĩ nhận cúng dường nhưng không giới hạnh, cộng với một tư cách đồi bại ích kỷ... Kiếp sau họ sẽ đọa làm các loài lao động nặng như trâu, bò, ngựa, lạc đà... để trả nợ. Còn nếu họ chỉ mắc nợ tài vật nhưng vẫn giữ được tư cách tốt thì đời sau họ cũng được làm người nhưng vẫn phải lao động quần quật để trả nợ. Sự thụ hưởng tài vật không chân chính luôn luôn để lại những món nợ khó chịu cho đời sau. Người phải nai lưng hầu hạ chủ, phải cẩn thận tùy thuận từng ý muốn của chủ một cách sợ sệt, hoặc con vật phải kéo cày, chở nặng chịu roi vọt đều là những hình thức trả nợ đời trước một cách đau khổ. Sở dĩ như vậy vì họ đã thọ những món nợ quá nhiều. Thế nên bây giờ khi được dâng tặng hậu hĩ, chúng ta hãy coi chừng phải chăng đây là những món nợ khó chịu để dành cho đời sau. Chỉ những tài sản được tạo nên từ công lao của mình bởi cách thức chân chính, dù ít hay nhiều, mới thật là thành quả đền bù của cuộc sống, không phải là nợ dây dưa về sau.
    Có người bị đọa làm thú, trở nên một loài giống bị khinh rẻ bởi vì họ thường xuyên khinh thường mọi người. Đó là sự công bình ! Khi chúng ta luôn luôn đánh giá thấp người khác, xem thường người khác tức là chúng ta đã tạo cho mình một quả báo bị khinh rẻ trở lại. Có nhiều hình thức để bị khinh rẻ. Hoặc người mang bệnh lây nhiễm khó chữa như phong hủi, lở lói hôi hám, hoặc người mang thân phận tù tội, hoặc người kém tiền bạc, kém tài năng, kém nhân cách, hoặc người bị mang tiếng xấu (do sự thực hay bị vu khống). Nhưng thân thú vẫn là “thân phận” bị xem thường rõ rệt nhất. Vì vậy, tâm tự cao cho mình là hơn, thấy người là kém, nếu quá đáng vẫn có thể đưa đến quả báo đọa làm thú ở mai sau.

    Trong các trường hợp khác chúng ta cũng thấy có một vài ngoại lệ. Một số con chó được chủ cưng chìu nuôi nấng còn sướng hơn con người (tất nhiên là người nghèo). Quả báo này do hai nguyên nhân: một, ở thân trước làm người, con chó này có nhiều ân nghĩa với chủ, đã giúp đỡ chủ đắc lực; hai, bên cạnh đó nó gây một số nghiệp bỉ ổi, mất nhân phẩm. Do nghiệp kém nhân cách, nó phải đọa làm chó, và do ân nghĩa lớn lao với chủ, nó được cưng chiều quá đáng.
    Đối với thuyết tiến hóa, các nhà sinh vật cho rằng thỉnh thoảng xuất hiện các đột biến về cấu trúc của thú vật khiến cho một vài con có đặc tính hơn hẳn đồng loại. Trong một đàn chó sói, thỉnh thoảng có một vài con thông minh hơn, hiền lành hơn, được con người tuyển chọn để nuôi dưỡng thuần hóa dần dần tạo thành giống chó nhà như hiện nay. Những con vật khác nhờ có tính chất đột biến này đã thích hợp với sự thay đổi của môi trường Địa cầu trong khi những con khác bị thiên nhiên đào thải. Sự đột biến đó làm cho loài vật tiến hóa dần dần để trở thành loài người. Rồi trong loài người cũng có sự đột biến để cho ra những vĩ nhân nổi bật. Nhưng con người không tìm thấy tiếp tục rằng với những vĩ nhân đó có thể sản sinh ra một “loài người mới” cao cấp hơn con người hiện tại. Họ chỉ như một vài vì sao đơn độc lóe sáng giữa bầu trời rồi rơi rụng bỏ lại con người với những sự quay cuồng lặn hụp tầm thường như xưa.

    Sự sống ban đầu của Địa cầu đã xuất hiện như thế nào vẫn còn là một bí ẩn. Các nhà khoa học tính toán rằng với điều kiện thiên nhiên ban đầu, khả năng xuất hiện một Protéin là một phần hai tỷ, nghĩa là coi như bằng không. Thế nhưng các tế bào đã có mặt càng lúc càng nhiều và phức tạp dần dần. Nhân Quả ở đây phải giải thích làm sao? Từ một chỗ không có gì, bỗng nhiên có sinh vật xuất hiện, rồi sau đó động vật chính thức ra đời có tâm thức phức tạp, có tạo nghiệp nhân để thọ quả báo. Ai đã làm thành động vật có tâm thức để cho động vật đó phải lăn lóc đấu tranh vì sự sống một cách cực khổ. Trong sự đấu tranh sinh tồn đó, các động vật khi thì giúp đỡ lẫn nhau (thiện) khi thì xâu xé lẫn nhau (ác) để tạo thành vô số nghiệp thiện ác lẫn lộn thúc đẩy họ lăn trôi trong luân hồi mãi mãi. Phải chăng nguyên nhân ban đầu là một Thượng Đế có quyền năng đã tạo ra tất cả như một vở bi hài kịch không lối thoát?

    Ở dịp khác chúng ta sẽ trở lại vấn đề này một cách kỹ lưỡng hơn.


  3. #23
    Thành Viên Cấp 4 jimmy_vnu's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    1,580

    Mặc định

    NGHIỆP CHUNG VÀ NGHIỆP RIÊNG.
    Một cơn động đất kinh khủng đã phá hoại một vùng đất rộng lớn ở Trung Hoa. Nhiều người chết, nhiều người bị thương và nhiều nhà cửa bị hư hại. Trước một tai họa chung đó, các nhà Nghiệp Báo học gọi là cộng nghiệp (nghiệp chung).

    Trong một khu phố yên tĩnh. Ông Ba bị dây điện đường đứt rơi trúng khi đi ngang. Ông chết tại chỗ, người ta gọi trường hợp này là biệt nghiệp (nghiệp riêng).

    Đối với nghiệp riêng thì vấn đề trở nên đơn giản, nghiệp ai đã gieo thì nấy chịu. Nhưng trước một tai họa chung thì sự việc phức tạp hơn nhiều.

    Không hẳn là những người cùng chịu chung một tai họa bởi vì trong quá khứ đã xúm nhau làm chung một điều ác. Họ chỉ là những người có quả báo giống nhau, rồi do sự thúc đẩy của nghiệp đã tìm về ở chung một môi trường với nhau.


    Bốn mươi người có chung quả báo sẽ bị tai nạn xe cộ, đã mua vé đi cùng một chuyến xe đò. Khi tài xế lái đến quảng đường vắng thì thấy bóng một cô gái áo trắng tóc xỏa chời vờn trước mũi xe. Anh vội vã bẻ volant và đạp thắng. Xe mất thăng bằng lật nhào vào cánh ruộng bên đường. Người nghiệp nặng thì chết, người khác thì bị gãy tay chân, chấn thương. Một vài người nghiệp nhẹ thì qua một cơn kinh hoàng và chỉ bị xây xát chút ít.

    Chính nghiệp của 40 người đã tạo ra một ảo ảnh trước mặt người tài xế. Nhiều người giải thích rằng có một hồn ma tại khúc đường đó muốn làm cho xe lật đổ tìm thêm người chết làm bạn.
    Chưa chắc là 40 người này đã tạo chung một nghiệp ác từ quá khứ. Có thể họ chỉ tạo nghiệp riêng rẽ, nhưng đều chiêu thành một quả báo giống nhau nên nghiệp duyên đã thúc đẩy họ đi cùng một chuyến xe định mệnh.

    Sông Mêkong dâng nước làm ngập lụt nhiều vùng ở hạ lưu. Một trong những nguyên nhân được tìm thấy là do khói các giếng dầu ở Koweit bị Irak đốt cháy làm xáo trộn thời tiết Địa cầu, cộng với nạn phá rừng từ thượng nguồn sông từ Hy Mã Lạp Sơn qua Vân Nam đến Lào, Thái Lan... khiến cho thiếu rừng giữ nước mưa lại. Như vậy phải chăng người Irak gây nhân và người Việt Nam chịu quả báo?
    Không phải vậy, đó chỉ là Nhân Quả của khoa học vật lý trong không gian vật lý. Nó chỉ là bề nổi của luật Nghiệp Báo ẩn dấu đằng sau.
    Hệ quả của việc phá rừng đầu nguồn là gây lũ lụt ở vùng hạ lưu. Những ai cũng có quả báo phải chịu lũ lụt sẽ sinh ra lớn lên, hoặc từ đâu chuyển về sinh sống, nơi những vùng đó để cùng nhau chịu chung tai họa. Còn những kẻ phá rừng đầu nguồn sẽ được “tính sổ” ở tương lai.


    Ở tính chất khác, có những người cùng tạo chung một nghiệp, cũng dễ dàng cùng chịu quả báo đồng thời.


    Ví dụ một ông quan ra lệnh giết một người tốt chỉ vì người này bênh vực dân nghèo chống lại những kẻ giàu có ức hiếp họ. Khi xử thiêu ở giàn hỏa, những kẻ giàu có reo hò biểu lộ sự đồng tình. Đến đời vị lai, ông quan, đao phủ và đám người hùa theo vô tình hội họp ở nhà ăn lớn. Thế rồi nhà ăn phát lửa, nhóm thực khách kinh hãi hỗn loạn, ông quan và tên đao phủ bị chết thiêu, còn những kẻ khác thì bị phỏng nặng.

    Nghiệp tùy hỉ với kẻ khác cũng làm chúng ta bị vạ lây. Mỗi khi trông thấy người mổ heo bò, đánh lộn hoặc cướp giật, nếu không ngăn cản được thì thôi chứ chúng ta đừng khởi tâm đồng tình với họ. Nếu có tâm niệm đồng tình ắt có ngày chúng ta “ăn theo” một chút quả báo của họ. Nhiều kẻ ăn không ngồi rồi hay xúm xít xem cảnh một người làm thịt chó với vài ý kiến đóng góp nhiệt tình, hy vọng sẽ được chia ít phần. Họ đâu biết rằng nghiệp nhân đó làm họ đổ thịt chảy máu ở mai sau.
    Cũng có trường hợp nhiều người chung tạo nghiệp, nhưng vì thiếu duyên để gặp gỡ nên họ chia ra nhận quả báo riêng rẽ mỗi nơi khác nhau mặc dù quả báo khá giống nhau.

    Ví dụ, ba người cùng phát tâm đắp một con đường cho dân làng đi lại dễ dàng. Nhưng do tư tưởng và một số nghiệp khác lại không giống nhau nên đời sau họ sinh qua ba đất nước khác nhau. Mỗi người đều học ngành xây dựng cầu đường và thành công giàu có tốt đẹp gần như nhau.

    Trong truyện tích về trưởng lão Losaka Tissa kể rằng vì đời quá khứ, trưởng lão đã đố kỵ với một vị ALaHán, nên nhiều đời về sau trưởng lão đọa làm chó đói, đến khi trở lại làm người cũng bị đói kém thê thảm. Trong kiếp cuối cùng, khi ngài đầu thai tại làng đánh cá, cả làng bỗng nhiên bị một tai họa như mất mùa cá, lửa cháy, hồ nước cạn, vua xử phạt. Họ tìm ra sự xui xẻo xuất hiện từ gia đình của đứa bé và đuổi người mẹ có mang ra đi. Bà mẹ đi xin ăn để nuôi con. Khi đứa bé vừa có thể chập chững xin ăn được, người mẹ bỏ trốn! Sau này chú bé được ngài Xá Lợi Phất tiếp độ và được gọi là Losaka Tissa. Mặc dù chứng được đạo quả ALahán, nhưng trưởng lão vẫn chịu sự đói thiếu suốt đời (Luận về Nhân Quả).
    Ở trường hợp này, không phải là họ cùng tạo nghiệp chung với trưởng lão từ quá khứ. Chỉ là do nghiệp của trưởng lão không được sống một cách êm ấm, phải lang thang đói thiếu vất vả nên nó thúc đẩy toàn bộ dân làng hiện ra quả báo xấu của họ, để cho họ buộc lòng phải đuổi người mẹ có mang ngài ra đi.

    Không hẳn là nghiệp ác đời này sẽ sinh ra quả báo ở đời sau. Nó có thể kéo dài vài trăm năm về sau. Có những nhà tiên tri lừng danh như Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), Nostradamus (1503-1566 Pháp), Jeane Dixon (Mỹ) có thể thấy trước việc tương lai từ rất xa. Nostradamus có thể tiên tri những việc sau đời ông 7000 năm! Cho đến hôm nay khi nghiệm lại các lời tiên tri bóng gió của ông, người ta thấy đúng nhiều chi tiết đến kỳ lạ. Cuộc Cách Mạng Pháp với Công Xã Paris được diễn tả rành mạch; nhân vật De Gaulle được nói đến khá chi tiết... Những sự việc chung này được tiên đoán từ rất lâu chứng tỏ rằng luật Nghiệp Báo từ trong Bản Thể đã sắp xếp quả báo của mọi người khá rõ ràng từ nhiều nghìn năm về trước. Nostradamus có một sự nhạy cảm tâm linh cao độ, đã “đọc” được tiến trình này dù cho nó chưa hề có dấu hiệu nào nơi không gian vật lý.
    Những quả báo chung của mọi người như thiên tai, chiến tranh, hỏa hoạn... dường như đã được sắp xếp sẵn từ rất lâu. Đó là sự tập hợp nghiệp của mọi người từ khắp nơi trên thế giới. Ví dụ có ba nghìn người tạo nghiệp ác ở rải rác mọi nơi. Quả báo của họ khá giống nhau là phải chịu một trận phun núi lửa dữ dội. Nhưng nhân duyên để họ quây quần về sống gần nhau dưới chân núi lửa cần phải một thời gian là năm trăm năm sau nữa. Và một vài nhà tiên tri siêu việt đã nhìn thấy sự kiện sẽ xảy ra này.

    Có một tai họa chung mà toàn thể nhân loại phải gánh chịu đó là ngày tận thế! Một số tôn giáo đã nói nhiều về ngày tận thế để khuyến khích tín đồ cố gắng tu thiện ngay từ bây giờ. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng vào kỷ Gjura đã từng xảy ra một vụ va chạm giữa Địa cầu với một thiên thể lớn khiến cho các loài khủng long dường như bị tuyệt chủng đồng loạt. Vào năm 1988, một vẫn thạch lớn cắt ngang quỹ đạo Địa cầu tại một nơi mà Địa cầu mới đi qua. Các nhà thiên văn còn e ngại một sự gặp gỡ tương tự sẽ xảy ra vào lúc khác . Nếu có một sự va chạm lớn như vậy, chắc chắn đó là ngày tận thế của nhân loại. Tuy nhiên, có một ngày tận thế chắc chắn nhất mà chúng ta không thể tránh khỏi là sau vài tỷ năm nữa, mặt trời đã nguội, không còn sưởi ấm cho trái đất nữa, lúc đó một cái lạnh khủng khiếp tiêu diệt toàn bộ sự sống nơi hành tinh này. Từ nay tới ngày đó còn quá xa để cho chúng ta phải lo sợ, chỉ sợ những tai họa bất ngờ xảy ra ngoài dự kiến của con người, và xảy ra trong thời gian rất gần khi mà con người chưa đủ khả năng bồng bế, kéo sang một hành tinh khác để lánh nạn.
    Tận thế, một quả báo chung của toàn thể sinh vật (nhất là động vật) là do nghiệp nhân gì của mọi người?

    Cái chết tập thể này là do tất cả mọi người cư ngụ trên quả đất, vì sự sống của mình đã thường xuyên tạo các nghiệp PHÁ HOẠI SỰ SỐNG LẪN NHAU.


    Những loài vật có khả năng hơn đã ăn thịt các loài vật kém khả năng hơn. Con cọp mạnh bắt đi con dê yếu đuối, vồ đi con người mảnh mai. Con cá lớn nuốt con cá bé. Con người thì đủ thông minh để có thể giết tất cả các loài khác và đồng loại của mình.

    Việc giết hại động vật có tâm thức thường gây nên các quả báo rõ ràng trong thời gian gần như vài năm, vài kiếp, vài trăm năm. Kẻ thủ phạm phải chịu đền trả một mình (nghiệp riêng) như bị thương tật, bị chết chóc; hoặc phải chịu tai họa chung với nhiều người khác (nghiệp chung) như bị các thiên tai, bệnh dịch, tai nạn giao thông.
    Có một nghiệp “hủy hoại sự sống” rất âm thầm khó thấy nhưng quả báo của nó đủ sức đưa đến tận thế, đó là sự chặt phá cây cối. Thực vật có sự sống và có tâm linh, một tâm linh đơn giản. Tuy thực vật không biết đau đớn nhưng ai hủy diệt sự sống của thực vật (nhất là phá rừng) cũng đã tự chuốc lấy quả báo bị hủy diệt sự sống của chính mình về sau. Toàn thể nhân loại mỗi ngày đều tiêu diệt sự sống màu xanh trên hành tinh để làm món ăn (rau), để làm vật dụng (gỗ), để làm nhiên liệu (củi). Cái nhân tiêu diệt sự sống màu xanh đó tích lũy qua nhiều kiếp, nhiều triệu năm, nhiều tỷ năm, ắt phải đưa đến sự tận thế ghê gớm.

    Đối với không gian vật lý, việc phá rừng có nguy hại trầm trọng đến với sinh thái Địa cầu. Những khu rừng già rậm rạp có chức năng lọc không khí như một bộ phổi của hành tinh, rừng hấp thu nhiệt độ của ánh sáng làm dịu bớt cái nóng của mặt trời và giữ độ ẩm cho không khí; rễ cây rừng giữ nước mưa để không làm thành lũ lụt, giữ độ ẩm cho đất khi không còn mưa khiến cho mạch nước được duy trì trong suốt mùa khô. Phá rừng là một hành vi tự hủy diệt chính mình, nhưng không đủ để gọi là gây nên tận thế. Cái quả báo tận thế được nói đến ở đây chính là dựa vào không gian tâm linh. Sự tiêu diệt sự sống của cây cối, tiêu diệt tâm linh đơn giản của cây cối tạo thành một quả báo trầm trọng hơn chúng ta nghĩ theo không gian vật lý. Nó âm thầm tích lũy dần dần để đưa đến một tai họa khủng khiếp cho toàn thể loài vật đến nỗi đáng được gọi là tận thế.


    Chúng ta sẽ đặt vấn đề nếu không sử dụng thực vật, dù trực tiếp hay gián tiếp thì con người làm sao giải quyết nhu cầu đời sống, và chính vì đã chung nhau tích lũy nghiệp hủy diệt sự sống màu xanh nên ngày tận thế của nhân loại là điều không tránh khỏi. Nhưng dù sao, đối với dòng luân hồi vô tận sinh tử tử sinh tiếp nối mãi thì cái chết lúc tận thế có gì quá quan trọng để chúng ta phải sợ hãi đâu ? Miễn là chúng ta có một sự nghiệp phước đức cực kỳ lớn đã tích lũy nhiều đời đủ đưa chúng ta đi sang một kiếp sống mới, ở một hành tinh khác vui sướng hơn Trái đất gấp bội lần.

    Sau ngày tận thế, kẻ nhiều tội sẽ tái sinh qua một hành tinh đầy khổ sở, biến động, hoang dã. Kẻ có phước sẽ tái sinh qua một hành tinh văn minh, tiện nghi, hạnh phúc tràn trề. Dòng luân hồi vẫn tiếp tục lăn mãi trừ phi kẻ nào đã chứng đạt Bản Thể Tuyệt Đối để giải thoát hoàn toàn mới không bị luân hồi chi phối.

    Nếu nhân loại cứ bạo tàn hủy diệt sự sống lẫn nhau và sự sống màu xanh của thực vật thì ngày tận thế sẽ đến gần hơn. Nếu nhân loại biết bồi đắp giữ gìn sự sống lẫn nhau, giữ gìn sự sống màu xanh cây cỏ thì ngày tận thế sẽ dang ra xa mãi, nhưng dù sao ngày tận thế cũng phải đến khi mặt trời bắt đầu nguội. Luật vô thường sinh-trụ-hoại-không- là điều không tránh khỏi.


    Thế nên, có mặt trên cuộc đời này, chúng ta hãy trân trọng sự sống của muôn loài, dù đó là con người, thú vật hay cây cỏ lá hoa. Hãy thương yêu và giữ gìn tất cả để góp phần đẩy lùi ngày tận thế ra xa hơn.


  4. #24
    Your Best Choice Thành Viên Cấp 6 iMi Shop's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Đang ở
    590 Xô Viết Nghệ Tĩnh, f25, q Bình Thạnh, Tp.HCM
    Bài viết
    3,988

    Mặc định

    Cái này ko phải ai cũng có thể hiểu tường tận!

  5. #25
    Thành Viên Cấp 4 jimmy_vnu's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    1,580

    Mặc định

    GIÚP ĐỠ
    Hành động giúp đỡ được thể hiện qua nhiều cách, hoặc bằng lời nói hướng dẫn cách thức làm ăn mua bán cho người, hoặc bằng hành động làm giúp công việc nặng nhọc cho người, hoặc bằng cách cho, tặng (bố thí cúng dường) tài vật đến người. Từ sự giúp đỡ như thế, người khác được dễ dàng trong cuộc sống hơn, nghĩa là họ được vui sướng hơn.
    Mỗi một sự giúp đỡ cho người khác sẽ tạo thành một hay nhiều quả báo lành ở vị lai cho chúng ta. Ví dụ anh Hai đã giúp ông Tám dựng lại ngôi nhà sau cơn hỏa hoạn. Hành vi giúp đỡ của anh Hai đem lại cho ông Tám những lợi ích sau đây:

    - Gia đình ông Tám có nơi ẩn trú, tránh được mưa nắng và bớt bị bệnh tật.


    - Tài sản còn lại như một số quần áo, giường ghế đước cất giữ tử tế tránh được mất mát.


    - Ông Tám nhanh chóng ổn định, xây dựng lại kinh tế gia đình.
    - Gia đình ông được vơi bớt nỗi buồn vì thấy có sự quan tâm giúp đỡ của láng giềng.


    Mỗi lợi ích của gia đình ông Tám sẽ kết thành một quả báo lành cho anh Hai ở vị lai.


    Sau này ngay ở trong kiếp hiện tại hoặc những kiếp vị lai. Anh Hai thường có nhà cửa ổn định, không phải bệnh tật vì phải phơi mình giữa mưa nắng, tài sản ít bị mất mát vì có nơi cất giữ an toàn, nhanh chóng ổn định về kinh tế, luôn luôn được mọi người quan tâm giúp đỡ.

    Nếu một người suốt đời tích lũy nghiệp từ thiện, thường xuyên giúp đỡ mọi người một cách nhiệt tình, quả báo dành cho họ là sự thành công vinh quang rực rỡ ở những kiếp về sau.
    Trong cuộc sống có những người làm chơi ăn thiệt, họ được thần may mắn mỉm cười, những dự định đều được tiến hành suôn sẻ. Đôi khi mọi người phải ngạc nhiên về sự may mắn liên tiếp của họ. Tất cả đều bắt nguồn từ hành vi giúp đỡ kẻ khác trong quá khứ! Thiếu làm việc từ thiện, cuộc đời chúng ta sẽ kém may mắn.
    Tuy nhiên tùy theo tính chất của việc làm từ thiện mà chúng ta sẽ đạt được quả báo lành về sau một cách khác nhau.
    Ví dụ nếu đời trước chúng ta dùng lời nói để chỉ bảo cho người khác đi đến thành công. Nhờ sự chỉ bảo này họ gặt hái được kết quả tốt đẹp. Quả báo về sau của chúng ta là dễ dàng, may mắn tiếp nhận được những phương pháp tốt để hành động, nhưng trên bước đường hành động chúng ta phải nổ lực bởi chính khả năng của mình, ít được sự giúp đỡ chia xẻ gánh nặng bởi vì trước kia chúng ta chỉ giúp đỡ người khác chứ không “làm giùm” cho họ. Ví như chúng ta chỉ cho một người đi về ngọn núi phía Tây mà đào vàng nhưng không đi đào giúp họ. Về sau tuy chúng ta cũng được chỉ vẽ phương pháp làm ăn mua bán (hay học tập), nhưng phải làm lấy tất cả bởi sức lực của mình.
    Nếu chúng ta hay giúp đỡ kẻ khác về tài vật nghĩa là bố thí hoặc cúng dường, khiến cho kẻ khác không tốn công sức mà vẫn có tài sản, thì quả báo chờ đợi chúng ta là thường gặp những may mắn kỳ lạ để có được tiền mà không cần phải cực nhọc nhiều như trúng số, hoặc tìm thấy kho tàng, hoặc kinh doanh lời hơn mức dự tính, hoặc được thừa kế gia tài của tiền nhân.

    Lisa Marie Presley mới 9 tuổi đã thừa kế một gia tài kếch sù của cha cô là vua nhạc Rock Elvis Presley khi ông qua đời vì bệnh tim.

    Một số người mua nhầm tờ vé số trúng độc đắc. Một người mua khu vườn, đã đào phải hũ vàng khi sửa sang lại khu vườn đó.
    Vô số trường hợp không làm mà hưởng như thế đều là quả báo của sự bố thí tài vật lớn lao từ những kiếp trước.

    Phần đông còn lại ai cũng phải làm mới có ăn. Tuy nhiên với công lao khó nhọc của tâm hồn và thể xác giống nhau, nhưng sự thành công mỗi người lại khác nhau. Có những người từ kẻ mua đồ đồng nát dạo, gánh trên vai rao mua ve chai (phế liệu), sau này trở thành tỷ phú lừng lẫy một thời như chú Hỏa ở Chợ lớn. Hoặc từ một đại phú như Âu Vinh có tiền cho vay khắp cả Sài gòn thuở trước, bây giờ chết không có hòm chôn tại HongKong. Riêng Âu Vinh có một đặc tính là không bao giờ bố thí từ thiện một xu nhỏ “Hãy bảo họ ráng làm mà ăn” ! Đó là câu trả lời cho đoàn lạc quyên cứu trợ khi đến gặp ông ta.
    Mức độ thành công của chúng ta ở kiếp này tùy thuộc vào mức độ chúng ta giúp đỡ mọi người ở kiếp trước. Nghiệp từ thiện càng nhiều thì sự thành công càng lớn lao.
    Đôi khi chúng ta nhìn lại cuộc đời mình và không tránh khỏi giật mình sợ hãi. Bao nhiêu năm tháng bình an trôi qua, chúng ta làm việc và sống một cách êm đềm. Thỉnh thoảng có một vài biến động nhỏ không đáng kể. Nhưng khi tính sổ lại, dường như suốt thời gian vừa rồi chúng ta chưa làm được việc thiện nào cả, chưa giúp đỡ ai một cách tận tình có ý nghĩa. Khi nhìn lại điều này chúng ta cũng “nhìn thấy” luôn về kiếp sau, dường như sẽ không có sự may mắn nào đến với chúng ta, sẽ không có một thành công đặc biệt nào cho đời sống kế tiếp.

    Như vậy, không siêng năng làm việc từ thiện là một sai lầm, một sự kém hiểu biết, một sự thiếu sót nghiêm trọng trong cuộc đời.

    Ở phương diện khác, quả báo của sự giúp đỡ tùy thuộc vào đối tượng được giúp đỡ. Nếu chúng ta giúp đỡ cho một vị Thánh cao cả để vị này sống một cuộc đời đẹp đẽ thánh thiện với một nội tâm bình an vô hạn, với một đạo đức hoàn hảo tuyệt vời. Sự tốt đẹp còn lan tỏa cho nhiều người khác khi vị thánh ấy rao giảng về đạo đức, thiền định và giải thoát cho mọi người. Với một “đối tượng” như thế, sự giúp đỡ - cúng dường đem đến một quả báo cực kỳ vinh hiển ở vị lai. Chúng ta đã đem hạt giống gieo trên mảnh đất vô cùng màu mỡ và sẽ gặt hái một vụ bội thu về sau.
    Khi nói về một triệu phú vừa chết ở thành Vương Xá, không con để thừa kế nên vua Pasenadi cho sung công tài sản, Đức Phật bảo rằng nhiều kiếp về trước, ông ta thường hay cúng vật thực cho một vị độc giác Phật khất thực ngang nhà. Kết quả trở lại là bảy đời liên tiếp ông luôn được giàu sang sung túc. Chỉ vì có lần ông đã giết người con trai duy nhất của người anh mình nên ông mắc quả báo là không bao giờ có con để kế thừa tài sản sau khi đã trả xong quả báo giết người kia với hình phạt vô cùng đau đớn.
    Ở mức độ thấp hơn, đối tượng được giúp đỡ là một người bình thường, cũng có những buồn thương giận ghét trong đời sống hằng ngày như mọi người. Với một đối tượng như thế, quả báo đem lại cho thí chủ là những sự may mắn vừa phải, không đặc biệt lắm. Tuy nhiên, nếu tích lũy nhiều nghiệp thiện như thế, chúng ta cũng đạt được phước báo lớn lao.
    Thế rồi, với sự hiểu biết Nhân Quả sâu sắc, chúng ta đã lựa chọn đối tượng để giúp đỡ, lựa những người có đạo đức tốt đẹp để cúng dường vì mong sẽ được quả báo lớn lao về sau và không ngó ngàng tới những người bình thường vốn dày đặc trên cuộc đời bụi bặm này. Như vậy, rõ ràng hành vi giúp đỡ của chúng ta không xuất phát từ tấm lòng thương yêu kẻ khác. Chúng ta chỉ lợi dụng luật Nghiệp Báo để mưu cầu lợi ích cho bản thân mình về sau. Với ý tưởng như thế chúng ta chỉ có phước (vì đã làm lợi ích cho người khác) mà không có đức (vì xuất phát từ một tâm hồn vị kỷ). Phước mà không có đức cũng giống như nhà không có nền móng vững chắc, sự sụp đổ là điều không tránh khỏi. Sau này, tuy được giàu sang sung sướng nhưng tâm hồn chúng ta vẫn đầy những mưu toan ích kỷ hẹp hòi. Chính khuynh hướng vị kỷ này sẽ thúc đẩy chúng ta tạo những nghiệp bất thiện để rồi chuốc lấy đau khổ về sau.
    Vì thế, chúng ta hãy trang bị cho tâm hồn mình một tình thương yêu rộng lớn đối với mọi người, mọi loài, hãy giúp đỡ họ qua cơn khốn khó, hãy làm tất cả vì họ chứ không phải vì quả báo của mình mai sau.

    Ở khía cạnh khác, chúng ta phải cẩn thận khi giúp đỡ kẻ ác, bởi vì có thể từ sự giúp đỡ này họ có thêm phương tiện hãm hại người khác. Và như vậy sự giúp đỡ của chúng ta tới với họ sẽ tạo cho chúng ta một quả báo xấu về sau giống như chúng ta đã tiếp tay cho họ tạo ác nghiệp.

    Nói như thế không có nghĩa là chúng ta ruồng bỏ kẻ xấu, không giúp đỡ gì cho họ. Lòng từ bi không cho phép chúng ta hạn chế sự giúp đỡ của mình đối với mọi người. Chỉ là, đối với kẻ xấu, chúng ta vừa giúp đỡ họ qua cơn khó khăn, vừa khéo léo dẫn dắt họ về với đạo đức. Con người chỉ chịu nghe lời khi họ đã thọ ân. Các vị bồ tát đi vào sinh tử để hóa độ mọi người cũng phải tuân theo quy luật này, nghĩa là phải tạo ân nghĩa cho mọi người rồi mới dùng lời nói để đưa họ về với đạo đức. Chúng ta chưa phải là Bồ Tát đã chứng ngộ nhưng cũng có thể bắt chước hạnh Bồ Tát bằng cách bố thí để giáo hóa cho kẻ xấu.

    Sự giúp đỡ đối với kẻ xấu đòi hỏi nơi chúng ta một sự kiên nhẫn, khôn khéo và độ lượng. Chúng ta vẫn phải giúp họ mà vẫn không tạo điều kiện cho họ làm ác, chỉ làm sao cho họ chuyển hóa tâm hồn để trở thành người tốt cho xã hội mà thôi.

    Tùy theo tình hình giúp đỡ, chúng ta sẽ nhận lại một quả báo tương ứng. Ví dụ người thường hay dùng sức lực để làm lụng đỡ đần cho kẻ khác, quả báo trở lại là sức mạnh sung mãn. Và với sức mạnh này họ vươn tới thành công.

    Ví dụ, người thường hay phụ giúp xây cất trường học, giúp đỡ việc học hành của người khác, quả báo trở lại là học giỏi, bằng cấp cao và có nhà cửa khang trang rộng rãi.


    Ví dụ, người thường hay lo việc thắp sáng công cộng, quả báo trở lại là được đôi mắt tinh tường.


    Người thường hay lo việc cứu trợ cho những nạn nhân bị thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh... quả báo trở lại là được yên ổn trong cuộc sống, nếu vừa gặp bất trắc liền có người giúp đỡ.


    Người thường hay bênh vực kẻ cô thế, yếu đuối, oan ức... quả báo trở lại là được thế lực lớn (để cho không có ai dám ăn hiếp).
    Có một số người đang giàu có sung mãn, bỗng do một biến động trong việc kinh doanh, hay tai nạn liền trở thành một người nghèo khổ túng thiếu. Quả báo này xuất phát từ đời trước họ hay làm việc thiện, bỗng qua một lần nóng giận đã rủ bỏ tất cả, phá hoại tất cả.
    Bà Thái là một hội viên đắc lực của một hội từ thiện. Bà đã đóng góp cả tài sản và công sức rất nhiều cho hoạt động từ thiện suốt một thời gian dài. Thế rồi trong một lần tranh cãi với bạn bè về địa vị trong hội, bà bất mãn ra khỏi hội và ngăn trở hội tiếp tục hoạt động.
    Hoặc một ông phật tử thường lo lắng công quả cho ngôi chùa trong làng với các nghi lễ và các hoạt động phước thiện xã hội. Sau một lần bị va chạm tự ái ông đã chấm dứt sự công quả của mình.
    Quả báo của những trường hợp như thế là ở những kiếp sau, sự thành công bỗng dưng bị đổ vỡ, bị dừng lại.

    Thế nên, đối với các việc thiện, chúng ta phải phát tâm kiên trì trường viễn. Đừng vì những việc nhỏ nhặt mà tự phá hoại thiện nghiệp của mình, Phải tích lũy mãi, tích lũy mãi từng chút phước nghiệp bằng cách hễ có cơ hội là giúp đỡ người khác không tiếc công.
    Có một người thuở niên thiếu gian nan vất vả, đến khi trưởng thành mới đạt được may mắn, thành công. Có hai nguyên nhân của quả báo đó.

    Một là do từ kiếp trước, lúc còn trẻ họ chỉ mãi lo vui đùa học hành, không làm được nghiệp phước nào. Đến lớn tuổi, có ý thức, họ bắt đầu làm việc từ thiện. Qua kiếp sau, thời gian tương ứng với từng giai đoạn là thiếu thời bình thường, đến trưởng thành mới bắt đầu thành công.


    Hai là do từ kiếp trước, họ ít quan tâm giúp đỡ người nhỏ tuổi, chỉ để ý đến người lớn tuổi. Quả báo trở lại là khi còn nhỏ tuổi họ kém may mắn, đến khi lớn tuổi mới gặt hái nhiều tốt đẹp.

    Có nhiều người than thở rằng họ thường bị phản bội bởi những kẻ đã thọ ân của họ. Họ mất niềm tin với luật Nghiệp Báo vì thấy rằng họ không hưởng được sự tốt đẹp nào từ hành vi giúp đỡ người khác. Tại sao sự tử tế của họ được đáp lại bằng thái độ vong ân tráo trở?
    Có nhiều nguyên nhân của hiện tượng đó. Có thể là lỗi không phải từ nơi người thọ ân. Họ cũng biết ơn và mong muốn có dịp đền trả. Nhưng họ thấy khó gần gũi ân nhân vì ân nhân này luôn kể công và tự phụ. Người thọ ân cảm thấy bị sỉ nhục và khó chịu khi đến gần một ân nhân như thế. Đôi khi họ ân hận vì đã lỡ thọ ân với một con người tầm thường kiêu hãnh đó.
    Cũng có thể là lỗi xuất phát từ nơi người thọ ân vì người này quá vị kỷ, chỉ lo cho mình, chỉ nghĩ đến cái được mất của mình mà quên đi ơn nghĩa của người khác. Nếu gặp phải hạng người này chúng ta chỉ nên cười xòa rồi bỏ qua vì người cao thượng có bao giờ “Thi ân cầu báo” đâu, phải không bạn?
    Đối với luật Nghiệp Báo, không bắt buộc rằng quả báo lành phải do nơi kẻ thọ ân đền trả. Nếu khi thọ ân người này có khởi ý niệm đền ơn thì sau này (có thể qua nhiều kiếp) chính họ sẽ đền ơn một cách mỹ mãn. Trong cuộc đời thỉnh thoảng chúng ta gặp một vài người tốt với ta một cách đặc biệt, giúp đỡ chúng ta đủ điều. Có thể họ đã chịu ơn chúng ta từ kiếp trước và có khởi ý niệm đền trả.
    Đối với người vong ân, không có ý muốn đền ơn, thì quả báo lành sẽ đến từ vô số trường hợp khác. Hoặc chúng ta được trúng số, hoặc kinh doanh gặp thời thu lợi bội phần, hoặc được những người tốt giúp đỡ (người tốt này không phải là kẻ đã chịu ơn ta).

    Chúng ta sẽ thấy nghiệp tác động vào tận trong tâm thức của mỗi người.

    Một tên cướp với tâm hồn nhuốm đầy sự ác độc, luôn sẵn sàng mưu hại kẻ khác, thế nhưng khi quan sát trên đường phố để tìm đối tượng đánh cướp, tâm ác độc của hắn chỉ khởi dậy khi trông thấy người có tạo ác nghiệp, và dường như bỏ qua những người không có ác nghiệp trong quá khứ.

    Cũng vậy, một nhà hảo tâm luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người, nhưng khi gặp một kẻ đã gieo nghiệp bỏn xẻn quá nhiều, tâm tốt của ông dường như lơ đãng chìm lặng không khởi dậy, khiến cho ông quên đi việc giúp đỡ kẻ đó. Và tâm ấy chỉ khởi dậy mạnh mẽ khi gặp những người đã gieo nghiệp thiện từ quá khứ.

    Thế nên, một người gieo ác nghiệp quá nhiều, đi đến đâu chỉ đánh thức ác tâm của mọi người chung quanh khiến cho họ chỉ chực muốn hại mình, xua đuổi, mắng chửi mình. Ngược lại, một người gieo thiện nghiệp quá nhiều, đi đến đâu đều khơi dậy thiện tâm của mọi người, khiến cho mọi người phải đối xử tử tế.


  6. #26
    Thành Viên Mới
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Đang ở
    Cali
    Bài viết
    46

    Mặc định

    Cám ơn bạn đã đăng những bài viết rất hay.

  7. #27
    Thành Viên Cấp 4 jimmy_vnu's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    1,580

    Mặc định

    GIAO THÔNG
    Trong các việc phước thiện, đắp đường, bắt cầu là việc thiện được nhiều người ca ngợi.

    Giao thông là yếu tố vô cùng quan trọng trong sinh hoạt của xã hội. Ngay trong ngôi nhà nhỏ bé của chúng ta cũng cần phải có lối đi; rồi từ làng này sang làng khác, vùng này sang vùng khác tất cả đều cần đường sá để giao lưu qua lại. Người ta đi lại để làm ăn, mua bán, học tập, thăm hỏi... Hầu hết mọi sinh hoạt của con người đều dính líu với đường đi (kể cả đường hàng không, và đường thủy), nếu đường sá bị tắt nghẽn, sinh hoạt của con người sẽ gặp nhiều trở ngại, thậm chí còn gây nên tai nạn nghiêm trọng. Một người lái xe hai bánh đi từ Sài gòn về Tây Ninh, bị vấp vào ổ gà, ngã soài xuống đường. Chiếc xe lớn từ sau lướt tới cán anh chết tại chỗ.

    Hiện nay, ở các quốc gia tiên tiến, đường sá thuộc về công trình quốc gia được thi công với kỹ thuật cao. Những đường xa lộ cao tốc, đường rày xe lửa cao tốc được thực hiện rất hoàn hảo. Mạng lưới giao thông trong quốc gia, liên quốc gia được phát triển không ngừng. Anh và Pháp đã hoàn thành đường ngầm xuyên biển Manche để nối liền hai quốc gia bằng đường bộ đi dưới đáy biển.
    Thuở xưa, kỹ thuật thi công cầu đường còn đơn sơ kém cỏi. Những con đường đất bụi bặm, đường sá lởm chởm nối các làng mạc, thị trấn lại với nhau. Họ phải vượt qua những đường đèo hiểm trở, những dòng sông chảy mạnh bằng đôi chân hoặc bằng sức ngựa. Ngay cả ngồi trên một chiếc xe ngựa có bánh tròn cũng không sung sướng gì vì dằn xóc dữ dội. Do giao thông bị hạn chế nên sự giao lưu văn hóa, phát triển xã hội bị thu hẹp.

    Trong bối cảnh đó, việc tu sửa đường sá, nối bắt cầu cống luôn luôn là việc làm cần thiết và được mọi người tán thán. Đối với luật Nghiệp Báo, phước của hành vi đắp đường bắt cầu cực kỳ lớn lao. Những quả báo lành xuất phát từ nghiệp thiện đó có thể kể ra như sau:


    - Vì làm cho sinh hoạt của mọi người được thuận tiện nên mọi sinh hoạt, mọi dự định của mình đều được trôi chảy tốt đẹp.


    - Vì làm cho người đi đường được an toàn nên chính mình không gặp tai nạn khi đi đường.


    - Vì khiến cho mọi người dễ dàng đi lại nên chính mình sẽ được khỏe mạnh, không bị tật nguyền, lệch lạc.


    - Nếu dùng sức lực để đắp đường, quả báo trở lại là được sức khỏe hơn người khiến cho gặt hái nhiều thành công trong lao động.


    - Nếu dùng tiền bạc để thuê người làm, quả báo trở lại là được giàu có sung mãn.


    - Luôn luôn được xe cộ xênh xang, di chuyển thuận lợi.
    Hạnh đắp đường bắt cầu được chú trọng đến nỗi trong kinh điển của Phật giáo Bắc Tông xuất hiện một vị Bồ Tát tên là Trì Địa với hạnh nguyện mãi mãi thị hiện vào sinh tử để gieo duyên với mọi người bằng cách tu sửa cầu đường.


    Vua Asoka chỉ hãnh diện vì đã trồng cây lấy bóng mát ven đường cho khách bộ hành, đào giếng ven đường cho khách uống.

    Một câu chuyện cảm động được kể trong “Góp nhặt cát đá” (Bản dịch Đỗ Đình Đồng) như sau:
    Zenkai, con trai một Samurai, du hành đến Edo và trở thành người hầu cận của môt viên chức cao cấp ở đó. Zenkai yêu người vợ của viên chức này và việc đó bị phát giác. Để tự vệ, Zenkai giết người chồng và dẫn người vợ tẩu thoát.

    Sau đó cả hai trở thành những tên ăn cắp, nhưng người đàn bà quá tham lam khiến Zenkai trở nên khinh bỉ. Cuối cùng Zenkai bỏ người đàn bà và đến một tỉnh xa tên là Buzen. Ở Buzen để chuộc lại dĩ vãng Zenkai quyết định làm một vài việc tốt trong đời. Biết trên sườn núi đá có một con đường nguy hiểm đã làm nhiều người bị thương và thiệt mạng, Zenkai quyết định đào một con đường hầm xuyên qua núi đá.


    Ban ngày xin ăn, ban đêm đào núi. Khi Zenkai hơn 30 tuổi thì đường hầm đã đào được dài 695 thước, cao 6 thước, rộng 9 thước.
    Hai năm trước khi công việc hoàn thành, một người con trai của viên chức bị Zenkai giết, đã học kiếm và trở nên một người giỏi kiếm thuật, tìm được Zenkai và muốn giết Zenkai để báo thù cho cha.
    Zenkai nói:


    “Tôi sẽ dâng mạng cho anh, nhưng hãy cho tôi làm xong công việc này. Khi công việc hoàn thành anh có thể giết tôi cũng được.”
    Người con trai đồng ý đợi đến ngày xong việc. Nhiều tháng trôi qua và Zenkai vẫn tiếp tục đào đường. Người con trai trở nên chán nản vì không có việc gì làm nên anh bắt đầu giúp Zenkai đào đường. Sau khi giúp Zenkai hơn một năm, anh ta trở nên kính phục dũng chí và tư cách của Zenkai.


    Cuối cùng con đường hầm đã hoàn thành và người ta có thể qua lại an toàn.


    Zenkai bảo:


    “Bây giờ việc đã xong rồi, hãy chém đầu tôi đi!”


    “Làm sao con có thể cắt đầu thầy được?” Người thanh niên hỏi qua làn nước mắt.

    Ở câu chuyện này công hạnh khổ nhọc đào đường hầm của Zenkai đã xóa được mối thù sâu đậm của người con trai. Ngoài việc này Zenkai còn hưởng vô lượng phước ở vị lai. Tuy nhiên, dù sao ông cũng phải trả quả báo giết người và đoạt vợ ở một kiếp khác.
    Một người phật tử bán sữa đậu nành ở Phan Rang đã “công quả đắp đường” bằng cách bồi dưỡng sữa cho công nhân đắp đường gần đó.

    Ở nước ta lao động đắp đường có vẻ nặng nhọc và ít được coi trọng. Nhưng không có ai ngờ là họ đang tạo phước rất lớn. Sự giúp đỡ bồi dưỡng cho công nhân làm đường luôn luôn là điều đáng khuyến khích, cũng giống như chính chúng ta chung sức làm đường vậy. Hoặc nhặt mảnh vỡ, gai góc trên đường để tránh cho người sau khỏi dẫm đạp cũng là điều rất tốt.

    Đôi khi chúng ta cũng cảm thấy buồn khi đi qua xóm nhỏ có những đoạn đường hư lỡ, những vũng nước ứ đọng trơ trơ trước mắt mọi người. Đó là những cơ hội để mọi người có dịp làm phước, nhưng họ bình thản vô tư bỏ qua. Những lợi ích chung của thôn xóm mà không ai thèm đoái hoài thì nói gì đến lợi ích của quốc gia, của nhân loại! Một đất nước chỉ phát triển khi những con người trong đất nước đó luôn luôn biết nghĩ đến lợi ích của toàn thể hơn là lợi ích của cá nhân.
    Ngược lại với thiện nghiệp đắp đường là ác nghiệp phá đường. Người làm ngăn trở giao thông cũng sẽ chịu quả báo tương xứng như di chuyển khó khăn, sinh hoạt bị trở ngại, tật nguyền ở chân và nghèo khó. Đối với các công trình phúc lợi công cộng như đường sá, cầu cống, nếu không bảo vệ được thì thôi, chúng ta đừng vì lợi ích riêng mình mà xâm phạm làm cho hư lỡ. Quả báo về sau sẽ khó chịu vô cùng.
    Nhu cầu về giao thông trên thế giới càng lúc càng tăng. Xe máy được sản xuất ồ ạt. Nạn kẹt xe thường xuyên xảy ra. Phải chăng vì có phương tiện dễ dàng nên con người càng muốn di chuyển nhiều hơn? Sở làm ở xa nhà là một yếu tố chính làm cho giao thông bị tắt nghẽn ở những giờ cao điểm.
    Trong tương lai không xa, phương tiện viễn thông được hoàn thiện sẽ giải tỏa bớt nhu cầu đi lại của con người. Với hệ thống truyền hình điện thoại được điều khiển tự động bởi máy điện toán, người ta có thể ở nhà mà vẫn dự được các buổi hội nghị, vẫn điều khiển công việc của sở làm. Thậm chí người công nhân có thể ở nhà mà vẫn điều khiển cỗ máy hoạt động bình thường qua máy viễn thông điện toán.

    Nhưng điều đó không làm cho con người chấm dứt mộng ước đi của họ. Họ sẽ lao tâm khổ tứ để đi đến các hành tinh khác. Con người vẫn còn ham đi lắm.


  8. #28
    Banned Thành Viên Cấp 2
    Ngày tham gia
    Jul 2008
    Đang ở
    Đất phương Nam.
    Bài viết
    297

    Mặc định

    nó như 1 đinh luật rồi vẫn xảy ra và tiếp diễn ko thể thay đổi hoặc né tránh giống như định luật nuiton chúng ta chỉ phát hiện ra nó trong khi nó vẫn có từ rất lâu

  9. #29
    Thành viên bình thường Thành Viên Cấp 5 bpchanh's Avatar
    Ngày tham gia
    Jan 2008
    Đang ở
    kế nhà hàng xóm
    Bài viết
    2,077

    Mặc định

    mình tin là trên đời này có nhân quả

  10. #30
    Thành Viên Cấp 4 jimmy_vnu's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Đang ở
    Hà Nội
    Bài viết
    1,580

    Mặc định

    DIỆN MẠO
    Sinh ra giữa đời ai cũng muốn mình được xinh đẹp. Giá trị của sắc đẹp lớn lao đến nỗi người ta thường tổ chức các cuộc thi hoa hậu để tìm ra những người đẹp nhất. Người đoạt giải, ngoài món tiền thưởng hậu hỉ, còn được săn đón bởi các hãng phim, các hãng thời trang lớn.

    Hầu hết các diễn viên thủ vai chính đều phải có diện mạo nổi bật để thu hút cảm tình của khán giả.

    Trong giao tiếp xử thế, người có gương mặt khả ái dễ dàng thành công hơn.

    Sắc đẹp như là một cái phước dành sẵn để người đó đi đến đời sống sung sướng khi cơ hội mở ra. Ngược lại, người có diện mạo xấu xí thật là một bất hạnh trong đời, ít được cảm tình của mọi người và do đó dễ bị thất bại. Sự xấu xí làm cho con người đau khổ, và thẩm mỹ viện đã giàu to nhờ giúp cho người xấu trở nên dễ coi hơn.
    Có nhiều nghiệp nhân khác nhau để tạo thành một quả báo diện mạo đẹp đẽ.


    Khi hoàng hậu Mallika hỏi Đức Phật về nguyên nhân đẹp xấu, Đức Phật trả lời rằng người có tâm nhu hòa, nhẫn nhục sẽ được đẹp đẽ và kẻ có tâm sân hận sẽ chịu xấu xí.

    Đức Phật cho rằng nét đẹp được tạo nên từ một tâm lý đạo đức có giá trị hơn những loại khác. Người ta có thể gây nhiều nghiệp nhân khác để tạo ra quả báo xinh đẹp, nhưng nét đẹp tạo nên từ một đức tính tốt vẫn là nét đẹp chân thật. Trong lịch sử nhân loại không hiếm gì những người đàn bà đẹp với nhiều thủ đoạn độc ác để chiếm đoạt quyền hành và gây sóng gió khắp nơi. Cái phước xinh đẹp của họ được gây tạo từ một nhân nào đó không phải là đạo đức chân thật. Từ nơi cái phước xinh đẹp này, họ đạt được vinh quang và gieo rắc đau khổ cho người khác.
    Đức Phật không khuyến khích người ta tìm sắc đẹp bằng những nghiệp nhân tạm bợ khác, ngài nhấn mạnh đạo đức bên trong làm căn bản cho sắc đẹp bên ngoài. Đó mới là một sắc đẹp nhân hậu và bền vững.
    Thật vậy, mỗi khi nổi giận, chúng ta đã tự tạo cho mình một gương mặt nhăn nhó khó coi với mắt trợn, mày nhăn, miệng quặm, răng nhe... nhiều lần tự tạo nét mặt như thế, kiếp sau nét mặt khó coi đó sẽ trở thành cố định lâu dài. Với người hiền lành từ ái, vẻ mặt hiện ra là đôi mắt ân cần, miệng cười vui vẻ, gương mặt bình thản nhẹ nhàng. Lâu dần, nét mặt dễ coi đó sẽ trở thành cố định ở kiếp sau.
    Trong cuộc đời chúng ta vẫn gặp nhiều người đẹp đẽ, nhưng có những tính chất khác nhau. Có nét đẹp gây nên sự qúy mến kính trọng trong sạch; có nét đẹp gây nên sự ham muốn chiếm đoạt thấp hèn. Có nét đẹp bày tỏ sự cao thượng từ tốn. Có nét đẹp lộ ra sự kiêu hãnh tự phụ. Có nét đẹp kín đáo. Có nét đẹp lẳng lơ... Sở dĩ có sự sai khác giữa các nét đẹp bởi vì mỗi người đã gieo những nghiệp nhân khác nhau.

    Nếu người tạo nên nét đẹp từ nơi tâm lý đạo đức thuần thục, nét đẹp này sẽ toát ra vẻ thánh thiện, hiền lành, khả kính.
    Nếu người thường hay mang hoa trang trí đền thờ các bậc thánh, họ sẽ được cả hai quả báo. Một là sắc đẹp như ngàn đóa hoa kết tụ, hai là sẽ được các công hạnh như các bậc thánh. Mỗi tôn giáo đều có thờ các vị Thánh đặc trưng riêng. Người tín đồ cúng dường hoa cho vị Thánh nào sẽ trở nên giống hao hao phong cách của vị Thánh đó. Hoặc một người không theo tín ngưỡng, chỉ đem hoa trang trí tại tượng của các vĩ nhân thế giới, cũng sẽ gặt hái được kết quả tương tự. Tâm sùng kính một Thánh nhân hoặc vĩ nhân sẽ gây thành quả báo giống hao hao phong cách của vị đó.
    Nếu người ít có chê bai kẻ khác, thường hay khen ngợi điều tốt lành của mọi người, cũng sẽ thành tựu được quả báo có hình dáng đẹp đẽ. Họ ít chê bai ai nên không bị xấu xí để bị chê bai trở lại. Họ hay khen ngợi nên được vẻ đẹp để được khen ngợi trở lại.
    Nếu người hay dùng tài năng để tô vẽ tranh tượng của các vị Thánh, làm tôn thêm vẻ khả kính của các Ngài, quả báo đẹp đẽ là điều hiển nhiên. Còn những họa sĩ hay vẽ tranh biếm họa, chuyển gương mặt của các nhân vật nổi tiếng sang dạng méo mó, kỳ cục, hài hước sẽ phải chịu quả báo có gương mặt rùng rợn, quái đản ở kiếp sau.
    Có người, để cầu phước, đã đem tiền cất chùa, xây nhà thờ, tạo cảnh, đắp tượng, trang trí điện đài... Họ rất tốt với ngôi chùa, với nhà thờ, với tượng Phật, tượng Chúa nhưng không tốt với mọi người chung quanh. Quả báo trở lại là họ được diện mạo đẹp đẽ nhưng để lộ ra vài nét vị kỷ hẹp hòi mà một người tinh ý sẽ nhìn thấy.
    Đúng là nếu biết gieo nhân, một người vẫn có thể tạo cho mình một quả báo có diện mạo đẹp đẽ về sau, nhưng nét đẹp đó không liên quan tới đạo đức. Mặc dù đẹp nhưng họ vẫn có thể là người ác. Theo nhận xét của tâm lý học, một người càng chú trọng tới việc trang điểm cá nhân nhiều chừng nào, tâm địa càng hẹp hòi chừng nấy. Người đứng đắn là người chỉnh tề, vừa phải, không dơ bẩn cũng không se xua chưng diện quá đáng. Một người có đôi mắt lẳng lơ cũng là người có tính tình độc ác hung dữ. Thói lẳng lơ hoa nguyệt với tính hung dữ thường đi đôi với nhau.
    Trong cuộc đời thỉnh thoảng chúng ta gặp một vài người đẹp mà không có duyên, hoặc có duyên mà không đẹp.
    Thường là người đẹp nhanh chóng thu hút kẻ khác ngay buổi đầu nhưng không giữ được tình cảm lâu bền vì không có duyên. Từ “có duyên” của Việt Nam thật là đặc biệt. Nó nói lên cái gì ẩn dấu kín đáo đằng sau mà làm người khác phải xiêu lòng. Người có duyên mới là người giữ được tình cảm tốt của người khác một cách bền bỉ.
    Hầu hết những mệnh phụ phu nhân đều thuộc về hạng người có duyên này. Chồng của họ “đi lang thang” rồi cũng phải trở về với họ. Còn các kỹ nữ hầu hết đều đẹp mà “vô duyên” khách ghé lại giây lát rồi đi mất.
    Những người “có duyên” chính phục được tình cảm kẻ khác lâu bền chỉ bởi vì họ đã từng kiên trì làm các công đức từ đời trước. Hoặc họ đã từng kiên trì giữ giới hạnh, sắt son chung thủy với bạn đời, tín nghĩa với bạn bè, hiếu để với cha mẹ, trung hậu với chủ nhân, cúng dường bố thí không ngừng nghỉ... Chính những phước nghiệp được theo đuổi kiên trì đã tạo cho họ một cái “có duyên” ở đời sau để cho mọi người quý mến họ mãi mãi.
    Còn những người có tính hay thay đổi, phát tâm làm phước rồi bỏ dở, hoặc ít giữ chung thủy, hiếu để, tín nghĩa, trung thành với mọi người sẽ cảm quả báo vô duyên ở đời sau. Dù có đẹp họ cũng chỉ chiếm được cảm tình của người trong chốc lát.

    Để nhìn thấy cái “có duyên” của một người chúng ta phải có trực giác tế nhị vì cái “có duyên” không lộ ra ngoài như nét đẹp. Nó thường ẩn dấu trong ánh mắt và sắc da.

    Các nhà xem tướng số đã căn cứ vào hình tướng và sắc khí để đánh giá cuộc đời của một người. Họ có thể biết người đó thọ hay yểu, giàu hay nghèo, trí tuệ hay đần độn... Đối với những nhà tướng số giỏi họ có thể đọc được 60% cuộc đời của con người hiện ra trên hình thể. Như vậy có sự tương quan giữa Nghiệp Báo và tướng mạo. Nghiệp đã in dấu vết lên hình dáng con người!
    Ví dụ một người trong quá khứ đã từng nóng nẩy, hung dữ làm hại kẻ khác. Qua đời này người đó sẽ phải chịu một tai nạn thảm khốc. Nghiệp đã quy định như vậy. Song song với sự an bài của nghiệp, trên gương mặt họ, dấu vết của sự hung dữ còn in trên đôi mắt. Các nhà tướng số nhìn thấy “hung quang” lộ trên đôi mắt và kết luận rằng kẻ này phải chịu một tai nạn nặng nề. Và đúng như thế tai nạn đã xảy ra.
    Ví dụ, một người trong quá khứ từng giúp đỡ mọi người, làm cho mọi người được vui vẻ, bình yên, vững tâm. Qua kiếp này người đó cũng trở thành một kẻ giàu có sung sướng. Bên cạnh sự an bài của nghiệp, gương mặt họ còn hiện ra vẻ độ lượng, vui tươi, vững tâm, bình tĩnh trên ánh mắt, miệng cười, dáng điệu khoan thai, sắc da tươi nhuận. Nhà tướng số nhìn thấy biểu hiện đó và nhận định rằng kẻ này sẽ trở nên giàu có. Sự thật đã đến đúng như dự đoán.

    Các nhà tướng số còn đọc được rất nhiều dấu hiệu tinh tế khác để nhận định về con người, ví dụ như đôi tai to là dấu hiệu thọ, tai dày là sung mãn tài vật, răng trong đẹp là phú quý, hàm tròn đầy là phước về hậu, hàm tóp nhỏ là yểu hay cơ cực lúc già, lông mày gần mắt là người hẹp hòi, trán rộng là vinh hiển sớm, mũi to đầy kín là tạo được sự nghiệp lớn...

    Thật ra không phải là nhà tướng số mới có thể hiểu được các dấu hiệu của diện mạo con người. Ai có trực giác đều có thể hiểu được mỗi dấu hiệu đó muốn nói lên điều gì. Một người trước kia chưa có trực giác, nhìn đôi mắt của mọi người không thấy ý nghĩa gì. Sau một thời gian tu tập thiền định, trực giác phát triển, người này chợt hiểu được mỗi một ánh mắt, một nét mặt, một nụ cười đều là biểu hiện của Nghiệp Báo. Các dấu hiệu đó là mật mã của nghiệp đời trước ghi lại cho đời này, ai khéo đọc được sẽ hiểu rất nhiều về con người.
    Vì tướng mạo là biểu hiện của nghiệp nên nó cũng bị thay đổi theo nghiệp.

    Một tay bán dầu tên Bùi Độ (đời vua Hán cảnh Đế) nghèo khổ lang thang, được thầy tướng số cho biết sẽ chết đói vì có hai đường chỉ chạy xéo từ cằm lên mép miệng. Ngày kia Bùi Độ gặp một thiếu nữ ngồi khóc bên giếng sâu. Hỏi ra sự tình mới biết thiếu nữ mang vàng đi để chuộc tội oan của cha, chẳng may bị đánh rơi xuống giếng. Ai cũng nói dưới giếng có con trăn to. Thiếu nữ đang tuyệt vọng muốn quyên sinh.

    Bùi Độ thương tình, nghĩ mình trước sau cũng chết đói nên liều mạng leo xuống tìm được vàng cho thiếu nữ. Nhờ đó gia đình thiếu nữ được phục hồi danh dự và quyền thế.
    Một lần gặp lại, nhà tướng số kinh ngạc nói rằng tướng chết đói của Bùi Độ đã biến mất mà thay vào đó là tướng công khanh phú quý rực rỡ.
    Đúng vậy, sau này thiếu nữ tên Ngọc Hà đền ơn, đem Bùi Độ về dạy học và giao ước vợ chồng rồi mới thưa với phụ thân. Cha nàng gửi gắm Bùi Độ sang một người bạn khác để nhờ tiến cử. Thời gian xa cách Ngọc Hà, Bùi Độ đã lạc lòng với những hình bóng giai nhân khác.
    Trên bước đường tiến quan, Bùi Độ ghé vào thăm nhà tướng số cũ để tạ ơn, nhưng ông bảo Bùi Độ đã hiện lại tướng chết đói. Bùi Độ tức giận bỏ đi.

    Sau khi được làm quan, Bùi Độ đánh mất nhân cách, chỉ lục lạo, cưỡng bức các cô gái đẹp, bị triều đình hạ lệnh bắt về kinh trị tội. Bùi Độ sợ hãi trốn vào rừng rồi chết đói cạnh một mỏm đá. Ngọc Hà đau khổ tìm chồng, trông thấy bộ xương và cũng gục chết bên cạnh.

    Cái phước của Bùi Độ xuất hiện do tâm niệm liều mạng tìm vàng cứu cô gái. Phước đó quá lớn đến nỗi chuyển hẳn tướng mạo và số mệnh để cho Bùi Độ trở thành quan chức vinh hiển. Nhưng rồi, tư cách tầm thường tham dục đã phá vỡ phước cũ để cho nghiệp chết đói đủ cơ duyên xuất hiện trở lại.

    Như vậy, tướng mạo tùy thuộc vào nghiệp chứ không cố định. Nếu chúng ta thường xuyên biết “liều mạng” cứu giúp mọi người, ắt hẳn tướng mạo và số kiếp chúng ta sẽ thay đổi một cách tốt đẹp lắm.


5giay facebook share
Trang 3 của 8 Đầu tiênĐầu tiên 123456 ... CuốiCuối

Các Chủ đề tương tự

  1. Luật Nhân Quả - Có hay không? Đúng hay sai?
    Bởi Em Ngu trong diễn đàn Chuyện trò
    Trả lời: 48
  2. Luật nhân quả: Tội tà dâm mang lại quả báo kinh hoàng
    Bởi hung lao tuong trong diễn đàn Chuyện đời xưa và nay
    Trả lời: 74
  3. Luật Nhân Quả và làm sao thay đổi được vận mạng
    Bởi hieu239 trong diễn đàn Chuyện đời xưa và nay
    Trả lời: 7
  4. Đi ngược lại luật nhân quả chịu hậu quả rất nặng
    Bởi jimmy_vnu trong diễn đàn Chuyện đời xưa và nay
    Trả lời: 14
Tìm bài viết theo ID Topic
Partner : Khuyến mãi | Webtretho | Tinh tế

Múi giờ GMT +7. Bây giờ là 10:50 AM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.0
Copyright © 2014 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.
Copyright 2012 Nhat Nguyet Computer
Digital Point modules: Sphinx-based search
Giấy phép MXH số 07-GXN-TTDT
Xem website tốt nhất ở chế độ màn hình 1024 x 768


Cty TNHH TM và DV Tin Học Nhật Nguyệt
Trụ sở: 114 Đường số 2 Cư Xá Đô Thành F.4,Q.3,Tp.HCM
ĐKKD số: 4102048497. Đăng ký ngày: 26/03/2007
Cơ quan cấp ĐKKD: Sở Kế Hoạch & Đầu Tư Tp. HCM
Tel: (08) 66.520.052 - (08) 22.456.456
Email: 123@nhatnguyet.vn
Find us on Google+
Liên hệ quảng cáo : Công ty Truyền Thông Số Công ty Truyền Thông Số
VPĐD: 14A Sông Đà, F.2, Q.Tân Bình, TP.HCM
Tel: (08) 354.727.43
Email: 5giay@igo.vn
Hotline : 0945.794.497 (Mr. Thao)
                0945.098.890 (Mr. Hải)