Tìm kiếm bài viết theo id

Tu tập thiền định

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi jimmy_vnu, 9/1/09.

ID Topic : 677383
Ngày đăng:
9/1/09 lúc 09:26
  1. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Tham gia ngày:
    20/8/08
    Tuổi tham gia:
    17
    Bài viết:
    2,120
    [FONT=Arial,Helvetica]Bao nhiêu công đức từ quá khứ, tâm nguyện cho vị lai và đức hạnh trong hiện tại sẽ không bao giờ đưa đến giải thoát nếu thiếu một công hạnh cuối cùng, đó là thiền định. Thiền định là bước đi cuối cùng để mọi người đạt được giải thoát. Mỗi một sự tiến bộ trong công phu thiền định chính là một phần của sự giải thoát hiển lộ. Khi công phu thiền định được hoàn thành viên mãn cũng là lúc hành giả đạt được giải thoát rốt ráo.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Trong phạm vi của luận bản này, chúng tôi không đủ thì giờ nói chi tiết về công phu thiền định chỉ nêu ra một số khái niệm căn bản để đánh giá rằng thiền định là nhân duyên cuối cùng để kết trái giải thoát.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Hầu hết các giáo phái của Đông phương đều lấy sự định tâm làm tông chỉ, tức là lấy sự nghiệp tu tập thiền định làm pháp môn cốt lõi. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu kỹ bên trong, chúng ta sẽ thấy sự sai biệt hiện ra trùng điệp. Ai cũng đề cao sự định tâm, nhưng phương pháp để định tâm và mục đích của sự định tâm lại khác nhau rất xa.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Có những giáo phái chủ trương tu tập thiền định để xuất hồn vân du các cõi. Có giáo phái chủ trương đạt được thần thông phép lạ. Có giáo phái đi tìm sự trường xuân của hình hài. Ngay cả các thầy bùa, thầy ngãi, thầy bói,... cũng cần có sức định để tăng hiệu quả công việc của mình. Thầy bói mà thiếu trực giác, chỉ dựa vào lý số, quẻ toán sẽ bói không hay. Thật vậy, khi đã có sức định ở nội tâm rồi, họ sẽ bói hay hơn vì năng lực tâm linh có tính chủ quan triệt để, luôn luôn khởi tacù dụng theo ý muốn của con người.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Đối với đạo Phật sức định được dùng để đi đến giải thoát, vậy mà các tông phái của đạo Phật vẫn có những sắc thái khác nhau rất nhiều,đôi khi dường như mâu thuẫn lẫn nhau. Như Tịnh Độ Tông dùng câu niệm Phật để định tâm với mục đích vãng sinh về nước cực lạc của Phật ADIĐÀ. Mật tông dùng câu thần chú để định tâm với mục đích đạt được quyền năng mầu nhiệm. Thiền tông chủ trương kiến tánh đốn ngộ rồi nương theo sức ngộ để vào định và được trí tuệ. Nếu được hỏi về mục đích giải thoát nằm ở chỗ nào thì các tông sư cũng đưa ra nhiều lý luận độc đáo để chứng tỏ rằng tông phái của họ không mâu thuẩn với lý tưởng giải thoát của đạo Phật, cuối cùng mọi người đều được giải thoát ![/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Ở đây chúng ta không đi sâu vào từng tông phái, chỉ đứng trên bình diện của luật Nghiệp Báo để nhận xét rằng muốn có kết quả giải thoát cần phải tu tập những công hạnh nào mà thôi.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Một công hạnh quan trọng để chuẩn bị sự thực hành thiền định là TRÍ TUỆ PHÁ CHẤP.[/FONT]

    [FONT=Arial,Helvetica]Trí tuệ phá chấp là khả năng nhìn vào thật tướng của vạn hữu để xem bản chất của nó có cái gì có bền chắc không, có cố định không, có thật hữu không. Kinh điễn của Phật giáo đại thừa gọi khả năng này là trí bát Nhã.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Khi nhìn thẳng vào bản chất của vạn hữu, chúng ta ngạc nhiên khi thấy rằng tất cả đều vô thường, thay đổi, không cố định, trống rỗng, chỉ hiện hữu trên hình tướng và tên gọi mà không có thực thể. Những vật cụ thể như cái nhà, viên đá, cội hoa... đều tương đối, biến dị, hư rỗng. Những cái trừu tượng như không gian, thời gian, sự di chuyển... cũng chỉ là tương đối, không thật có. Toàn thể vũ trụ hiện bày như một giấc chiêm bao![/FONT]

    [FONT=Arial,Helvetica]Hành giả nhìn ra được điều này nên lìa được mọi chấp trước, tâm không bám vào sự vật, sự việc, và dần dần đi vào tỉnh giác thanh tịnh thường xuyên. Mặc dù tâm có chuyển biến tốt nhưng hành giả vẫn thấy kẻ đang tu đang chuyển hóa, vẫn chỉ là người trong mộng tu pháp mộng mà thôi. Như vậy hành giả không chấp vào kết quả của mình (vô sở đắc), không ngã mạn vì thành quả tu tập của mình. Đây là điều rất cần thiết vì đa số hành giả tu thiền khi đạt được một số kết quả ban đầu, thường xuất hiện tâm trạng tự cao thầm kín bên trong.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Giải thoát là siêu việt khỏi mọi chấp trước của ngã và pháp (chủ thể và đối tượng). Thế nên trí tuệ phá chấp là một nhân duyên quan trọng trong tiến trình đi đến giải thoát. Có lẽ vì tầm quan trọng đó mà bộ kinh Đại Bát Nhã của Phật giáo Bắc Tông dài ngót 600 quyển. Thiếu sự chuẩn bị của trí tuệ Bát Nhã để phá các kiến chấp tàng ẩn trong vô thức, khi sâu vào thiền định, các kiến chấp kia sẽ âm thầm phá rối công phu tu tập của chúng ta, bởi vì khi ý thức chìm lặng, vô thức sẽ hoạt động rất mạnh. Ví dụ từ lâu một vị sư mơ ước đắc được cái định có tên là Lăng Nghiêm tam muội (chấp danh) mơ ước có Thiên nữ mang hoa cõi trời đến cúng dường. Sư từ bỏ thành phố để về tu trên núi Cấm Thất Sơn. Sư tinh tấn thiền định và đạt được nhiều kết quả tốt, có thể tọa thiền từ sáng sớm đến chiều tối. Nhưng rồi các mơ ước cũ trong vô thức chưa được dọn sạch, nên một lần trong cơn định, một ảo ảnh hiện ra. Sư thấy có Bồ Tát đến xoa đầu khen sư đắc được Lăng Nghiêm tam muội. Sư thấy các thiên nữ mang hoa đến cúng dường. Một cô cầm vòng hoa đến tròng vào cổ sư siết chặt làm sư thất kinh. Từ đó sư mất bình tĩnh, nhân cách bị rối loạn và sau vài năm đi lang thang, cuối cùng sư tịch khi tuổi đời hãy còn trẻ.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Chính những công phu quán chiếu Bát nhã một cách sâu sắc (thậm thâm Bát nhã), toàn diện và miên mật nên hành giả gột rửa rất nhiều kiến chấp, tham vọng thầm kín còn ẩn núp trong vô thức. Đến khi sự tu tập thiền định có kết quả tốt, ý thức lắng yên, vô thức sẽ không khởi ra ảo ảnh để phá vỡ công phu đang tiến triển tốt.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Thiền định bao gồm hai phương pháp chính yếu: Chánh niệm và chánh định.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Trước hết hành giả phải tập điều thân trong tư thế ngồi kiết già. Ngồi giữ thân bất động và mềm mại. Luôn luôn BIẾT RÕ khắp toàn thân đến từng ngón tay, ngón chân, thớ thịt. Nhẹ nhàng quán thân này là vô thường hư ảo. Tập rất kỹ lưỡng vài tháng liên tiếp chứ không nên vội bước vào điều tâm quá sớm. Nếu công phu điều thân không thuần thục, về sau sẽ phát sinh nhiều trục trặc nguy hiểm. Phải ngồi bất động mà vẫn mềm mại được hơn nửa giờ rồi hãy tu chánh niệm kế tiếp. Sau này có nhập vào những mức thiền cao hơn, cái điều thân vẫn luôn luôn cần thiết.[/FONT]

    [FONT=Arial,Helvetica]Chánh niệm là tâm tỉnh giác, thanh tịnh, rỗng rang thường xuyên trong mọi phút giây của cuộc sống. Tâm chánh niệm là tâm vô trụ, không bám vào một phương tiện nào, không nhiếp vào một đề mục nào, không trụ vào một đối tượng nào. Tuy không dùng phương tiện, nhưng hành giả vẫn khéo giữ tâm không loạn động, vẫn thường xuyên tỉnh giác không bị lầm theo vọng tưởng. Khi vọng tưởng vừa dấy khởi, lập tức cái tỉnh giác của nội tâm nhìn thấy rõ cái vọng tưởng (cái suy nghĩ) chỉ là đối tượng bên ngoài, không phải là thật ta. Do thấy rõ vọng tưởng chỉ là đối tượng hư dối bên ngoài nên hành giả không chú ý theo vọng tưởng, không chạy theo vọng tưởng, không chìm trong vọng tưởng, không trôi miên man lang thang theo vọng tưởng, và như thế nên vọng tưởng mất sức mạnh, không thể tương tục kéo dài, đành phải tắt sớm. Rồi một vọng tưởng khác lại khởi lên, lại bị sức tỉnh giác vô trụ biết rõ và lại tắt nghỉ. Trong chánh niệm, cái biết và cái suy nghĩ được tách ra làm hai. Cái biết luôn luôn biết rõ cái suy nghĩ. Người có kinh nghiệm kiểm soát tâm sẽ thấy vọng tưởng khởi lên từ vùng não phía sau, do đó hành giả thường xuyên để ý ở vùng não phía sau để theo dõi tâm.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Thiền sư Quách Am với kinh nghiệm tu tập sâu dày đã vẽ 10 bức tranh chăn trâu để khéo léo diễn tả tiến trình tu tập chánh niệm này.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Ở bức tranh thứ nhất, hình chú bé đi về phía trước nhưng mặt quay ngược về phía sau tượng trưng cho sự điên đảo, chìm theo vọng tưởng.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Bức tranh thứ hai, hình chú bé nhìn thấy dấu chân trâu. Tượng trưng cho giai đoạn mới tập tu, vọng tưởng đã đi qua khá xa, hành giả bị trôi theo một đoạn rồi mới sực tỉnh: “Chết cha, nãy giờ bị vọng tưởng gạt” ![/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Bức tranh thứ ba, hình chú bé nhìn thấy phần đuôi con trâu. Tượng trưng cho giai đoạn có tiến bộ một chút. Một ý niệm khởi lên, trôi qua một đoạn, nhưng đến cuối ý niệm hành giả mới tỉnh giác, tách cái biết và cái suy nghĩ ra. Cũng muộn mất một phần.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Bức tranh thứ tư, hình chú bé cầm dây vàm, vất vả giữ con trâu lại, con trâu đã hiện nguyên hình từ đầu đến cuối. Tượng trưng cho giai đoạn khá hơn, hành giả hết sức cố gắng tỉnh giác thấy rõ từ đầu niệm đến cuối niệm, không còn bị chìm theo vọng tưởng nữa.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Bức tranh thứ năm, chú bé thong thả cầm dây vàm, nắm đầu trâu đi theo. Tượng trưng cho giai đoạn dụng công đã nhẹ nhàng, ý niệm vừa chớm khởi âm thầm, chưa thành lời, đã bị biết và chấm dứt. Sức tỉnh giác của nội tâm hành giả rất sáng. Hành giả thấy tâm mình như chiếc thùng không đáy, vọng tưởng khởi rồi tự mất mà dường như hành giả không cần cố gắng nhiều. Sự dụng công rất nhẹ nhàng thảnh thơi. Đức hạnh bắt đầu xuất hiện. Đây là giai đoạn phá được Năm triền cái.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Bức tranh thứ sáu, hình chú bé ngồi trên lưng trâu ung dung thổi sáo, tượng trưng cho giai đoạn không còn dụng công mà tâm vào định dần dần, vào định dần dần. Hành giả hoàn toàn làm chủ vọng tưởng. Chỉ khi nào có việc cần phải khởi ý sắp xếp thì sử dụng đến tâm niệm, còn ngoài ra vọng tưởng không khởi một cách thô lậu, chỉ còn những vọng tưởng rất tế nhị như bụi bặm nhỏ nhiệm nhưng bị sức tỉnh giác của tâm thường xuyên hóa giải dần. Đây là trạng thái chứng Sơ thiền.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Từ bức tranh thứ bảy trở đi là đã thuộc về chánh định, sẽ nói về sau.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Trong phương pháp chánh niệm này, hành giả chỉ thuần sử dụng một sự dụng công duy nhất là tách cái biết và cái suy nghĩ ra làm hai, cái biết thấy rõ vọng tưởng là đối tượng hư dối bên ngoài, không chấp nhận cái suy nghĩ và thế là vọng tưởng không còn được cung cấp sức mạnh để có thể kéo dài, nó phải chấm dứt. Tâm hành giả không trụ vào một điểm nào, không dựa vào một phương tiện nào, thường xuyên tỉnh giác rỗng rang. Một số các thiền sư Trung Hoa gọi trạng thái này là chơn tâm, là ông chủ, là kiến tánh.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Trong mọi phút giây của cuộc sống, hành giả thường xuyên miên mật giữ gìn trạng thái tỉnh giác như thế. Khi làm các công việc mặc dù chỉ lo giữ tâm, không màng đến công việc, nhưng hành giả rất khéo léo, làm việc rất chu đáo ít sơ sót vì không nghĩ ngợi lung tung. Không chăm chú vào công việc nhưng từng thao tác hiện ra rõ ràng vì tâm không vẩn vơ nghĩ các chuyện khác. Chỉ giữ cái gốc tâm thế mà tự nhiên không lơ đểnh nơi việc làm. Việc làm rất cẩn trọng.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Khi bước đi, từng bước chân chạm đất như thế nào luôn luôn được biết rõ mặc dù hành giả chỉ lo giữ tâm chứ không chủ trương chú ý vào bước chân.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Có một số người kêu gọi làm việc gì phải chú ý vào công việc đó, là sai ! Nhiều người nghe lời khuyên này nên cắt lúa, cuốc đất, cưa cây gì cũng lo chú ý vào công việc. Tối đến tọa thiền, những hình ảnh làm việc trong ngày khởi lên chập chùng trước mặt bởi vì sự chú ý đã làm cho việc làm ghi đậm vào tâm.[/FONT]

    [FONT=Arial,Helvetica]Người tu chánh niệm chỉ lo giữ gốc tâm, không lo chú ý vào công việc nhưng công việc tự nhiên chu đáo kỳ lạ. Ở giai đoạn ban đầu khi còn phải chăn trâu cực khổ, chỉ lo giữ gốc tâm, có khi hành giả bị xao lãng nơi việc làm. Nhưng đừng sợ, cứ lo giữ tâm. Đến khi tâm thuần thục, tự nhiên việc làm sẽ chu đáo hơn trước bội phần.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Phương pháp thứ hai là chánh định. Chánh định là giai đoạn rốt ráo cuối cùng trong Bát chánh đạo. Yêu cầu của chánh định gắt gao hơn chánh niệm. Nếu chánh niệm chỉ yêu cầu biết rõ vọng tưởng, tách cái biết khỏi vọng tưởng để không lầm theo vọng tưởng thì yêu cầu của chánh định là hoàn toàn không khởi vọng tưởng.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Hành giả không được dằn ép nhưng phải làm sao vừa nhẹ nhàng, vừa chăm chú, làm cho vọng tưởng hoàn toàn không khởi.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Chánh Niệm và Chánh Định luôn luôn hỗ trợ cho nhau.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Chánh niệm đòi hỏi phải tu trong từng phút giây của cuộc sống trong khi chánh định đòi hỏi phải tu trong tư thế kiết già.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Chánh niệm sử dụng tâm vô trụ, không phương tiện trong khi chánh định trụ tâm vào hơi thở, có sử dụng phương tiện. Phương tiện trụ tâm trong hơi thở giúp cho sức nhiếp tâm mạnh hơn rõ rệt.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Chánh niệm giúp cho hành giả dễ vào chánh định và ngược lại, chánh định giúp cho hành giả thuần thục chánh niệm trong đời sống bình thường. Chánh niệm theo dõi tâm từ phía sau giúp hành giả hình thành được căn bản Đạo Đức ban đầu. Chánh định an trụ hơi thở giúp hành giả đi sâu vào định. Hành giả phải tu tập chánh niệm kỹ lưỡng để tạo thành Đức hạnh làm nền tảng cho suốt cuộc đời tu hành của mình, không được vội vàng đi sớm vào tu tập chánh định sẽ đổ vỡ về sau.[/FONT]

    [FONT=Arial,Helvetica]Với phương pháp chánh định hành giả có thể vượt khỏi Năm ấm trong thời gian ngắn hơn là sử dụng chánh niệm đơn thuần.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Trong phương pháp chánh định, hành giả phải tập điều thân trong tư thế kiết già. Phải làm sao cho thân ngồi bất động, không nhúc nhích nhưng vẫn nhẹ nhàng thoải mái và lưng không bị chùng xuống. Không một ngón tay hay một thớ thịt nào được nhúc nhích hay gồng cứng. Bất động và nhẹ nhàng. Khi điều thân, tự hành giả kiểm soát khắp châu thân, thường xuyên để ý ở thắt lưng đừng để bị mỏi rồi chùng xuống, để ý ở hai vai có bị lệch hay không có thả đều nhẹ nhàng hay không, để ý từng bắp tay bắp chân, ngón tay có nhúc nhích hay gồng cứng hay không, mắt có nhìn xuống một chỗ hay còn láo liên đảo tròng hay không. Hành giả phải kiểm soát được thân trong tư thế kiết già như vậy suốt 30 phút mà hoàn toàn đạt đúng những yêu cầu như trên thì mới bắt đầu tập nhiếp tâm vào hơi thở để bắt đầu tu chánh định. Nếu công phu điều thân chưa vững vàng, về sau hành giả sẽ bị một số bệnh về thiền. Sau khi xã, hành giả xoa bóp khắp châu thân. Có thể kết hợp với phương pháp thở bụng để củng cố nội lực. Hít vào phình bụng ra; thở ra hóp bụng lại.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Sau một thời gian điều thân thuần thục, cái tỉnh giác trở nên mạnh mẽ tràn đầy. Hành giả bắt đầu tách được cái Biết và cái Suy nghĩ ra với nhau. Những ý nghĩ khởi lên liền bị phát hiện kịp thời và trở thành đối tượng hư ảo bên ngoài. Tâm luôn luôn tỉnh giác biết rõ vọng tưởng, không bị vọng tưởng lừa gạt dẫn đi lang thang nữa. Đây là thành tựu Chánh Niệm. Nhưng hành giả cần phải tiếp tục an trụ Chánh Niệm này lâu dài để đủ sức phá trừ Năm Triền Cái. Không nên vội vàng muốn nhiếp sâu vào định.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Khi đang an trụ Chánh Niệm, hành giả phải khéo tác ý trừ diệt ái dục, trừ diệt sân hận, trừ diệt kiêu mạn. Đừng nghĩ rằng khởi tác ý là động tâm. Những tác ý chân chính hỗ trợ rất tốt cho việc tu hành lâu dài về sau. Phải khởi những tác ý chân chính để hóa giải những tập khí xấu còn tồn tại trong tâm mình.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Sau một thời gian dài an trụ Chánh Niệm và phá trừ các Triền Cái, sức mạnh của công phu Điều Thân vẫn tiếp tục tăng trưởng làm cho cái tỉnh giác, cái Biết sáng hơn trước kia bội phần. Vọng tưởng dường như không còn khởi. Lúc này, hơi thở hiện ra![/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Tự nhiên hành giả Biết Rõ Hơi Thở từng chút một. Hơi thở vào, biết rõ hơi thở vào; hơi thở ra, biết rõ hơi thở ra; hơi thở dài, biết hơi thở dài; hơi thở ngắn, biết hơi thở ngắn...[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Khi hơi thở vào, vẫn có cảm giác khắp toàn thân của công phu Điều Thân; khi hơi thở ra vẫn có cảm giác khắp toàn thân của công phu Điều thân. Trong kinh NIKAYA, Đức Phật dạy phép tu hơi thở như sau, “cảm giác toàn thân tôi thở vào; cảm giác toàn thân tôi thở ra...” Hành giả phải luôn luôn nhẹ nhàng biết rõ toàn thân mình dù đang dụng công như thế nào. Cái biết rõ toàn thân tạo nên sức mạnh tinh thần giúp cho việc nhiếp tâm.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Càng biết rõ hơi thở chừng nào thì tâm càng đi sâu vào định chừng nấy.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Hành giả phải chủ động điều khiển hơi thở theo ý mình chứ không được để cho hơi thở tự do ra vào, tự do nhiều ít mạnh yếu. Hành giả phải điều khiển hơi thở dài hơn một chút, êm hơn một chút, sao cho chính mình cảm thấy sảng khoái dễ chịu, tâm có yên lặng rõ ràng theo từng hơi thở. Như vậy hơi thở với cường độ đó đã hợp với thể tạng của mình, cứ giữ hơi thở như thế mà tiến tu về sau.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Nếu hành giả không chủ động điều khiển hơi thở, về sau khi tâm bắt đầu vào định, hơi thở sẽ tự động dừng lại và hành giả đứng kẹt tại đó, không thể đi sâu vào các mức định khác nữa. Phải chủ động điều khiển hơi thở khi ra, khi vào, dài như thế nào êm như thế nào hoàn toàn theo ý mình để giữ sự chủ động cho đến ngày viên mãn quá trình tu tập, không buông lơi hơi thở tự do.[/FONT]

    [FONT=Arial,Helvetica]Không nên nghe lời một số người cho rằng phải ráng hít thật đầy bụng, đầy phổi. Vì như vậy sẽ gây choáng. Chỉ cần hơi thở dài hơn một chút, êm hơn một chút sao cho mình thấy rõ hơi thở đó làm cho thân mình dễ chịu, tâm mình yên lắng đó là hơi thở phù hợp với thể tạng của chính mình, không bắt chước ai hết.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Ở đây không có sự đè nén vọng tưởng, không có sự trừ diệt vọng tưởng, chỉ là khi chú tâm biết rõ hơi thở, điều khiển hơi thở, tự động vọng tưởng không khởi. Đây là bí quyết quan trọng.[/FONT]

    [FONT=Arial,Helvetica]Các nhà tâm thần kinh cũng xác nhận điểm này rằng, khi thần kinh thở trong trạng thái tập trung hưng phấn thì các vùng thần kinh khác đi vào trạng thái yên nghỉ.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Ý nghĩa của chánh định là hoàn toàn không khởi vọng tưởng trong khi nhiếp vào hơi thở.[/FONT]
    [FONT=Arial,Helvetica]Phạm vi tác phẩm này không cho phép chúng tôi đi quá sâu vào công phu thiền định. Trên đây là những nét căn bản để gieo duyên cho những ai muốn tạo nghiệp nhân xuất thế gian, vì thiền định là nhân duyên cuối cùng, giống như trái trên cây còn cần một chút dinh dưỡng, ánh nắng để chín rụng. Thiếu công phu thiền định, dù đã tạo phước rất nhiều, một người vẫn không thể giải thoát.[/FONT]

     
  2. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

Tình hình diễn đàn

  1. trantri02021976,
  2. Điện máy Hoàng Cầu,
  3. hoale,
  4. 0865089699
Tổng: 307 (Thành viên: 9, Khách: 284, Robots: 14)