Tìm kiếm bài viết theo id

Ăn chay

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi apple520, 20/5/10.

ID Topic : 1885947
Ngày đăng:
20/5/10 lúc 07:13
  1. apple520 HAPPY FAMILY 2808

    Tham gia ngày:
    10/6/08
    Tuổi tham gia:
    17
    Bài viết:
    1,954
    Ăn Chay: Cho bò mẹ và con

    Bài viết của Keegan Kuhn

    Tôi bắt đầu ăn thuần chay [không dùng bất cứ sản phẩm động vật nào] từ năm 1997 vì quá kinh hoàng trước cách chúng ta đối xử với loài vật trong các nông trại và các phòng thí nghiệm vòng quanh thế giới. Từ nhỏ đến lớn tôi đã là người ăn chay [còn ăn bơ sữa] và từng hài lòng là tôi đã làm những gì cần thiết để giảm những khổ đau không cần thiết. Nhưng đến khi tôi biết thêm rằng bò mẹ bị người ta ăn cắp bê con chỉ vài ngày sau khi sinh chúng ra đời, để nông dân có thể lấy sữa của bò mẹ, tôi đã ghê tởm và tức giận. Ý nghĩ rằng có người phải ăn cắp con của ai đó để tôi có sữa dùng với bánh điểm tâm mỗi sáng không những khó nghe mà còn kinh rợn.

    Sau đó tôi được biết bò mẹ thường kêu thét gọi con mỗi khi hai mẹ con bị tách lìa - mẹ hiền nào cũng vậy mà thôi. Đối với một em bê nhỏ bé, có khi mới sinh ra được một ngày, bị rời xa mẹ là một kinh nghiệm khủng hoảng mà người ta có thể thấy rõ.

    Không như nhiều người muốn nghĩ, việc tách rời bê con và bò mẹ không phải là một hiện tượng mới trong kỹ nghệ chăn nuôi hiện đại. Nếu nông dân muốn có một số lượng sữa nào đó từ loài vật, chẳng hạn như bò và dê, những bò con, dê con mới sinh ra phải bị tách xa mẹ chúng. Đối với tôi, không có sữa loài vật nào đến từ hành vi đạo đức, trừ sữa mẹ của loài người.

    Nếu bê con là giống đực, thường thì em sẽ bị bán cho một nông trại nuôi bê; nơi đó người ta sẽ cho em ngồi trong một thùng gỗ, không lớn hơn em là mấy. Cổ bê con bị cột lại để giới hạn sự di động; em cũng bị tước đi ánh sáng mặt trời và chất sắt, để khi em bị người ta hành quyết vài tháng sau, thịt của em sẽ xanh trắng và mềm.

    Nhiều người biết về những điều kinh khủng trong việc nuôi bê nhưng đa số không nhận thức rằng bê hiện hữu là do kỹ nghệ bơ sữa. Loài bò sữa Holstein được truyền giống để lấy sữa và không lên cân nhiều như loài bò nuôi lấy thịt. Từ góc nhìn của những nông dân tham lợi, điều đó khiến bò đực không có giá trị vì không sản xuất được sữa.

    Cuộc đời ngắn ngủi của một nàng bò sữa chỉ là thụ thai nhân tạo, có thai, con bị bắt cóc, và bị người vắt sữa. Bò sữa hầu như bị có thai liên tục để lượng sữa được cao và rồi để nhanh chóng bị giết khi sữa bắt đầu giảm.

    Mặc dù bò có thể dễ dàng sống 20 năm hay nhiều hơn, trong các nông trại ngày nay, ít bò nào sống quá 4 năm. Con của họ bị bắt cóc, họ bị vắt sữa liên tục, họ sống trong điều kiện vô cùng chật chội, rồi cuối cùng bị giết và nghiền nhuyễn trong món thịt bò xay.

    Tôi biết rằng điều này xảy ra hàng ngày – và đây chỉ là một trong vô số chuyện kinh hoàng các kỹ nghệ lạm dụng loài vật đang làm – khiến tôi đau đớn khôn cùng.

    Tôi tranh đấu rất nhiều vì đau lòng và bất mãn khi cảm thấy lối sống thuần chay vẫn chưa đủ. Ngay cả khi vận động cho loài vật toàn thời gian, tôi cũng chưa vơi nhẹ những cảm giác này. Nhưng dù hoàn cảnh trông có tuyệt vọng đến đâu, tôi đã không và sẽ không bao giờ bỏ cuộc. Nếu bạn quan tâm về cách đối xử với loài vật, một trong những điều sâu xa nhất bạn có thể làm để giúp họ là theo lối sống thuần chay ngay hôm nay.

    http://www.care2.com/causes/animal-welfare/blog/got-milk-at-what-cost/
     
  2. apple520 HAPPY FAMILY 2808

    Ăn Chay: Cho các con

    Ngôn ngữ Việt Nam có nhiều điều thâm thúy. Chữ "con" là một danh từ dành cho sự trìu mến. Các thầy, các cô, các cha gọi tín đồ, giáo dân bằng chữ "con," nghe đầy từ ái, thương yêu. Đối với loài vật, chúng ta cũng gọi là "con."

    Con bò, con heo, con gà, con chó
    Con vịt, con cá, con ngựa, con dê...

    Tất cả đều là con của chúng ta. Trừ trường hợp tâm thần quá nặng, không ai ăn thịt con mình bao giờ.

    Tổ tiên chúng ta có nói: "Hùm dữ còn không nỡ ăn thịt con," huống chi loài người.

    Xin đừng ăn con của mình, dù là con nào. Cảm ơn bạn.
     
  3. apple520 HAPPY FAMILY 2808

    QUAN ĐIỂM VỀ ĂN CHAY CỦA ĐẠO PHẬT
    Biên Soạn: Tâm Diệu



    Đa số trẻ em Hoa Kỳ đều được nghe chuyện Biblical Story of Noah's ark kể về sự chung sống hòa bình và an lạc của gia đình Noah với tất cả chủng loại súc vật có trên trái đất này. Ngay cả ngày nay các công ty sản xuất đồ chơi cho trẻ em cũng bán những đồ chơi dựa theo câu chuyện, với Noah và vợ của ông ta cùng với hai con cừu, hai con gà, hai con voi và hai con hươu cao cổ.

    Câu chuyện thật đẹp, con người sống hài hòa với thú vật và thiên nhiên. Nhưng thực tế không như vậy. Hàng ngày chúng ta vẫn giết chúng để ăn!

    Những người ăn chay đã nói lên lòng nhân từ của họ đối với thú vật. Họ không ăn thịt cá bởi vì họ tin tưởng súc vật có quyền được sống và được đối xử như con người. Súc vật không thể là thức ăn cho con người. Mười lăm phần trăm những người Hoa Kỳ ăn chay cho rằng lòng nhân từ với súc vật là nguyên nhân chính thúc đẩy họ ăn chay.

    Chúng tôi có thể đưa ra những con số thống kê về những con gà nuôi để làm thịt được nhốt như thế nào trong các xưởng chăn nuôi hay tình trạng dùng thuốc antibiotic drugs hoặc những con heo con sống như thế nào để họ bán cho có nhiều tiền.

    Nhưng những con số thống kê rất là khô khan lại khó tưởng tượng được và chúng tôi cũng không thể in những tấm hình mầu đầy khủng khiếp của các nhà máy nuôi thú vật làm thịt. Máu và thức ăn không thể trộn lẫn được. Nhưng chúng tôi có thể kể ra đây cho bạn về lối sinh sống tiêu biểu của một vài loại súc vật.

    Trong tất cả cơ xưởng chăn nuôi súc vật, gà mái đẻ phải chịu những nghiệt ngã nhất của đời sống. Từ ba đến năm con gà được nhốt giữ trong một hộp lưới hình chữ nhật có kích thước khoảng hai gang tay bề rộng và ba gang tay bề dài (12 inches x 18 inches) mà chung quanh bằng giây kẽm; những hộp như vậy được sắp chồng lên nhau. Đèn điện được thắp sáng trung bình 20 giờ một ngày để chúng ăn nhiều, đẻ nhiều. Hầu hết gà đều bị cắt mỏ để không cho chúng cắn lộn nhau vì bị căng thẳng thần kinh do sống trong một môi trường chật hẹp. Khoảng 95 phần trăm trứng được sản xuất bởi các nhà máy gà đẻ này.

    Gà làm thịt (broiler chickens) được sản xuất bởi các cơ xưởng tương đối khá hơn gà mái đẻ nêu trên. Sau khi nở, gà được chuyển đến xưởng chăn nuôi mà mỗi xưởng có thể chứa đến nhiều ngàn con. Khi gà con lớn dần, sự khủng hoảng tinh thần cũng gia tăng theo vì không đủ chỗ để xoay trở. Nhiều chú ở giữa một đám gà ngàn con thường bị chết vì ngộp thở.

    Gà được nuôi khoảng bốn tháng tức cân nặng chừng 3,5 pound là được chuyển đến lò sát sinh để làm thịt bán ra thị trường. Mỗi năm Hoa Kỳ nuôi và giết khoảng 7 tỷ con gà để làm thức ăn cho con người.

    Heo cũng được nuôi giữ trong những điều kiện chật hẹp tương tự. Họ nuôi chúng với kỹ thuật mới về di truyền tính (genetic engineering), làm cho heo thật mau lớn với phí tổn thật ít. Thực phẩm của chúng thường trộn đủ loại thuốc. Heo cái chịu đựng thê thảm nhất; chỉ năm ngày sau khi sanh ra heo con, mẹ con chúng bị tách rời khỏi nhau ngay, để heo mẹ được cho thụ tinh nhân tạo, tiếp tục chu kỳ đẻ mới. Heo con được nuôi khoảng năm đến sáu tuần là bị giết để chế tạo bacon, một số khác nuôi đến 18 tuần là bị giết để chế thành ham và pork chop.

    Cũng như heo, bò con vừa sinh ra là bị tách rời ngay ra khỏi bò mẹ, nhiều khi không có cơ hội ngậm vú mẹ lấy một lần trong cuộc đời, bò mẹ cũng không có cơ hội âu yếm liếm lên mình đứa con bé bỏng, đáng thương mà nó đã mang nặng đẻ đau, đưa vào cuộc đời. Bò con cái nuôi riêng để thành những máy đẻ mới, còn bò con đực, ta thường gọi là bê, được nuôi trong những chuồng rất hẹp bề ngang để bê không thể nhúc nhích được vì người tiêu thụ muốn thịt mềm. Chúng bị nhốt trong bóng tối suốt 100 ngày và được cho ăn bằng các thực phẩm lỏng nhân tạo không có chất sắt cốt để cho con bê thiếu máu, khi hạ thịt chúng có mầu hơi tai tái mà nhiều người thích ăn. Cũng chỉ vì chiều cái ý thích nầy của thực khách mà cuộc sống của những con bê trở nên khốn khổ, tù tội và tiêu chảy suốt đời, do ăn loại thực phẩm lỏng đặc biệt để thịt được mềm.

    Còn bò sữa cũng vô cùng đau đớn vì thường xuyên bị chích thuốc kích thích tố BGH (Bovine Growth Hormone) mục tiêu sản xuất thật nhiều sữa để cho con người bú. Kích thích tố BGH tạo nên sức ép lớn từ cảm giác đến cơ thể, các bộ phận bị ép lớn và rộng thêm ra, từ chân cẳng đến bầu sữa, bầu vú sữa lớn đến nỗi họ phải dùng những túi nâng vú để nâng đỡ sức nặng và để cho vú khỏi chạm đất. Năm 1930 trung bình một con bò vắt sữa sản xuất được 12 pounds sữa, đến năm 1988 sự sản xuất gia tăng đến 39 pounds và ngày nay 49 pounds một ngày.

    Nỗi đau khổ khi sống của những con gà, con heo, con bò nói trên không din tả hết được thì khi chết cũng khó mà din tả được nỗi thất đảm của chúng. Những con bò khi bị chuyển lên xe tải đưa về lò sát sinh là chúng đã bắt đầu sợ hãi. Có những con không chịu lên hay xuống xe tải nên bị kéo bằng giây cable, trông rất là thảm thương, chúng cứ ghì lại, nước mắt ứa ra như là có linh cảm sắp lên đoạn đầu đài.

    Đã thế, trong chuyến đi cuối cùng trước khi sang thế giới bên kia, những con vật khốn khổ này còn bị bỏ đói vì với khoảng 24 giờ đồng hồ, thực phẩm chúng ăn chưa kịp chuyển thành thịt, không đem lợi nhuận về cho chủ nó.

    Như chúng ta biết, hầu hết súc vật đều có bộ não và hệ thống thần kinh như con người. Chúng cũng có những cảm giác, biết nóng lạnh, sợ hãi và giận giữ như chúng ta. Khi sợ hãi chúng cũng giống như con người là nhịp tim đập mạnh, áp xuất máu lên cao, hơi thở hổn hển.. Chúng đều muốn sống như chúng ta. Có nên vì ngon miệng mà chúng ta đẩy biết bao sinh mạng vào hoàn cảnh khốn khổ như vậy suốt cả cuộc đời chăng?

    DƯỚI ĐÂY LÀ CÁC CON SỐ THỐNG KÊ
    Thú Vật Bị Giết Hàng Năm Tại Hoa Kỳ Để Làm
    Thức Ăn Cho Con Người

    Gà thịt (meat chickens) 7.500.000.000 con
    Gà Tây (turkeys) 290.000.000 con
    Heo (pigs and hogs) 950.000.000 con
    Bò và bê (beef & calf) 35.000.000 con
    Trừu (sheep) 5.000.000 con

    Tổng cộng là 8.780 tỷ (billion) con vật bị giết mỗi năm và cứ mỗi giờ có một ngàn triệu (1.000.000.000.) con vật bị giết để làm thịt cho người dân Hoa Kỳ ăn, trong đó có chúng ta.

    Theo ước tính trung bình mỗi người sống ở Hoa Kỳ từ lúc biết ăn thịt (5 tuổi) đến lúc chết (75 tuổi) ăn cả thẩy 3.640 con gà. Quý bạn thử tưởng tượng một bày gà 3.640 con lớn như thế nào ?

    KHÔNG BIẾT Ở VIỆT NAM THÌ THẾ NÀO?
     
  4. apple520 HAPPY FAMILY 2808

    Loài vật cũng có 'linh hồn'

    Loài hươu cao cổ thường nhìn đám thợ săn với đôi mắt rất “ai oán” trước khi lìa đời. Nhiều thợ săn đã bị ám ảnh bởi đôi mắt của con hươu lúc ấy vì trông biểu cảm không khác gì mắt người.

    Ăn chay
    Nhiều thợ săn bị ám ảnh bởi ánh mắt của hươu cao cổ khi hạ được nó. Ảnh: Sức Khỏe & Đời Sống.

    Nhiều loài vật nuôi trong nhà hay thú hoang đôi khi có những biểu hiện cảm xúc khiến con người phải ngạc nhiên. Chúng cũng biết giận hờn, buồn, vui, biết đùm bọc, yêu thương nhau, biết “hợp đồng tác chiến”, chia sẻ lợi ích, báo oán trả ân, ăn năn hối lỗi... Tất cả những điều đó buộc các nhà khoa học phải đặt câu hỏi: Phải chăng loài vật cũng có tâm hồn? chắc chắn rồi.

    Nhà sinh vật học người Anh Richardson Witt trong cuộc đời nghiên cứu của mình đã không ít lần tận mắt chứng kiến những chuyện lạ lùng về thế giới động vật. Một lần, ông bắt gặp đàn quạ khoang đậu kín một bụi cây, vỗ cánh và rít lên những âm thanh chói tai. Khi đến gần, Richardson nhận thấy chúng đang vây quanh một con quạ khác đứng ủ rũ, gấp đầu vào cánh, không dám ngẩng mặt lên. Cả đàn quạ thi nhau “rủa xả”, kết tội như một hình thức “xét xử trong dòng họ” hay “phiên tòa lưu động”.

    Richardson Witt tiếp tục bí mật theo dõi và biết rằng mình đoán không sai. Con quạ cô độc thỉnh thoảng ngẩng lên, len lén, mắt lộ rõ vẻ cầu khẩn. Vô ích, cả đàn quạ tiếp tục “lăng nhục”. Tiếp đó, con quạ lớn nhất có bộ vó rất dữ tợn chen vào giữa, kêu lên ba tiếng. Cả đàn im bặt, con quạ khốn khổ kia bấy giờ mới dám kêu lên khe khẽ như thể “cầu cứu”. Con quạ đầu đàn lại kêu lên ba tiếng nữa, lập tức cả đàn xúm vào xâu xé, vặt lông kẻ tội đồ đến chảy máu.

    Vô tình được mục kích trọn vẹn cuộc “xử tội” này, Richardson Witt rất ngạc nhiên và sửng sốt tuy ông không thể hiểu được lý do của “phiên tòa” ấy. Bởi vì từ trước đến nay, con người, ngay cả những người nghiên cứu về thế giới loài vật như ông, vẫn cứ cho rằng động vật không thể có tâm hồn hay tình cảm được, mặc dù nhiều loài đã biểu lộ óc thông minh sắc sảo, trí nhớ tuyệt vời và những hành động khôn ngoan đến khó tin. Con người luôn tự hào rằng mình là loài sinh vật duy nhất trên hành tinh biết suy nghĩ và có cảm giác. Richardson Witt cho rằng vấn đề này cần được xem xét lại, bởi đã có quá nhiều sự kiện đủ sức phản bác quan điểm truyền thống.

    Trong tác phẩm “Cuộc sống tình cảm của động vật”, Marc Bekoff, chuyên gia về hành vi của động vật thuộc Đại học Colorado, Mỹ, đã thống kê được nhiều dẫn chứng về các sắc thái tình cảm vui mừng, đau buồn, giận dữ, yêu thương... của thế giới động vật mà ông có dịp chứng kiến. Marc Bekoff cho rằng, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy suy nghĩ của động vật có thể ẩn chứa tình cảm tương tự như con người.

    Câu “Con chim sắp chết cất tiếng hót bi ai” của người phương Đông là một tổng kết khái quát về cảm xúc của động vật trước khi từ giã cõi đời. Thợ săn châu Phi là những người chứng kiến nhiều nhất cảm xúc của các loài thú khi bị thương. Họ cho rằng gấu, hươu là những loài có tình cảm rõ rệt. Khi bị dồn vào bước đường cùng, chúng thường phản công dữ dội. Một khi bị trúng đạn, chúng thường “khóc” trước khi nhắm mắt. Hươu cao cổ cũng thường nhìn đám thợ săn với đôi mắt rất “ai oán” trước khi lìa đời. Nhiều thợ săn đã bị ám ảnh bởi đôi mắt của hươu cao cổ lúc ấy vì trông không khác gì mắt người.

    Ông Nemrod, một nhà văn người Anh, kể về chuyến săn linh dương châu Phi của mình : “Tôi bóp cò, con vật ngã chổng vó, máu tuôn xối xả. Khi tiến lại gần, tôi định bồi thêm phát nữa thì chợt bủn rủn cả tay chân vì nhìn thấy đôi mắt của con linh dương nửa căm hờn, nửa sửng sốt. Tôi gác súng từ đó vì không bao giờ quên được hình ảnh ấy, nhất là đôi mắt đẫm nước của nó”.

    Có những chú voi bị bắn hụt sau hàng chục năm vẫn nhớ như in khuôn mặt kẻ đã nã đạn vào nó và tìm cách “ân đền oán trả”. Qua những hành động dìu đồng loại bị thương, phun nước đào huyệt, thả xác đồng loại xuống và lấy cỏ phủ lên, con người phải công nhận rằng voi đôi khi có những hành động khôn đến không ngờ. Trước khi từ giã người bạn quá cố, nó cũng khóc, đứng trầm mặc một lúc với khuôn mặt thờ thẫn. Quả là không ngoa khi người ta nói voi là một trong những loài động vật thông minh nhất và có trí nhớ tốt nhất.

    Bên cạnh sự căm thù, nhiều loài vật cũng biểu lộ sự hàm ơn và tìm cách trả ơn vì những gì con người đã làm cho chúng. Tháng 12/2005, một con cá voi cái dài 15 m, nặng 50 tấn bị mắc lưới may mắn được một nhóm thợ lặn Na Uy giải cứu. Sau khi được tự do, “cô nàng” cọ mũi vào từng thợ lặn rồi bơi xung quanh - một cử chỉ mà theo các chuyên gia về cá voi là “sự giao tiếp khác lạ và hiếm thấy”.

    Không chỉ có những xúc cảm tồn tại trong chốc lát, đời sống tâm hồn của loài vật đôi khi là quá trình với nhiều diễn biến phức tạp. Tại vườn thú London, nhà khoa học Jame Taylor đã vô cùng kinh ngạc khi nhận ra thái độ của một gia đình khỉ đầu chó lúc trời mưa. Hai vợ chồng thu mình vào góc chuồng, khỉ mẹ ấp chặt khỉ con vào lòng để che mưa. Lát sau, do cao hứng, khỉ con nhảy vào lòng bố rứt lông bụng. Cáu tiết, khỉ bố nắm cổ "quý tử" và lăng ngay một phát ra giữa sân ướt nhẫy. Khỉ con chưa kịp tru tréo, khỉ mẹ đã nhào đến cắn cho chồng một phát nhớ đời rồi bế con vào chỗ có mái che.

    Taylor kinh ngạc bởi trong xã hội khỉ đầu chó, con cái ít khi dám “láo” với con đực. Chưa xong, khỉ mẹ giận khỉ bố suốt hai tuần liền, nhe nanh cảnh cáo mỗi khi chồng mon men lại gần. “Chiến tranh lạnh” kéo dài và Taylor không khỏi bật cười thú vị khi thấy rõ thái độ chán nản của khỉ bố, ra vẻ “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Hành động đặc sắc cuối cùng để xóa bỏ hận thù là khỉ bố “hối lộ” vợ 3 quả chuối thật to. Rõ ràng khỉ đầu chó không phải là ngu như ta tưởng mà có nhiều tình cảm và suy nghĩ giống như người.

    Còn vô vàn thí dụ mà không thể kể hết ra đây. Động vật cũng biết giận hờn, căm thù, uất ức và tủi thân, biết bênh nhau, trả nghĩa, trả thù, biết chia buồn, biết cùng vui... Vậy tại sao lại không thể nghĩ đó là tâm hồn của chúng?

    Xin hãy bảo vệ các bạn thú đồng cư cùng chúng ta trên đất mẹ tuyệt đẹp này!

    Theo Sức Khỏe & Đời Sống
     
  5. GaGa1902 Thành Viên Chưa Kích Hoạt

    mình cụng ko biết nói sao, đọc thì thấy cảm động, nhưng mình vẫn cần phải sốngm vẫn cần phải ăn để sống.
     
  6. TuấnSG Thành Viên Cấp 4

    Tiếp sức cho bài viết về chủ để Ăn Chay :

    Tại các quốc gia Tây phương và nhất là Hoa Kỳ, chưa kể đến nhiều nước Á châu, số người mập phì ngày càng tăng. Ăn đường, chất béo, bột và thịt quá nhiều, ít vận động là những nguyên nhân thường dẫn đến chứng mập phì. Câu Chuyện Nước Mỹ hôm nay đề cập đến nguồn gốc phong trào ăn chay tại Hoa Kỳ, giá trị dinh dưỡng của đậu nành cũng như nguyên tắc làm tàu hủ cùng với ý kiến đóng góp của tiến sỹ Mai Thanh Truyết, chuyên gia hóa học và môi trường. Mời quí vị theo dõi với Lan Phương sau đây.


    Theo nhiều chứng liệu về khảo cổ học, cơ thể con người thời tiền sử thuộc chủng loại ăn rau cỏ. Mãi về sau con người mới bất đầu ăn thịt, nhưng không ăn quá nhiều, điều đơn giản là không có nhiều thịt để ăn.

    Những người nổi tiếng trong lịch sử như nhà toán học Pythagore, điêu khắc gia, danh họa Leonardo da Vinci, doanh nhân, nhà hoạt động văn hóa, xã hội, nhà trứ tác,đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp, nhà phát minh, khoa học gia, ông Benjamin Franklin, nhà bác học Albert Einstein và kịch tác gia George Bernard Shaw đều là những người ăn chay.

    Trong lịch sử nước Mỹ, cho tới trước giữa thế kỷ thứ 20, dân chúng cũng không ăn thịt nhiều như bây giờ. Thời đó giá thịt rất cao, hệ thống giữ mát và đông lạnh không nhiều, và việc phân phối thịt là một vấn đề khó khăn. Một trong những hệ quả phụ của cuộc cách mạng kỹ nghệ là thịt rẻ hơn, có thể cất giữ lâu nhờ hệ thống làm lạnh và đông lạnh phát triển. Qua những thay đổi này, mức tiêu thụ thịt tăng lên gấp bội, cùng với sự gia tăng của các ca bệnh như ung thư, bệnh tim mạch, và tiểu đường. Bác sỹ Ornish, tác giả của một số bài viết và sách cổ vũ cho chuyện ăn chay, http://www.pmri.org/spectrum/, cho biết: "Cho đến thế kỷ thứ 20, người Mỹ tiêu biểu vẫn ăn ít các sản phẩm lấy từ động vật, ít mỡ, ít cholesterol, ít muối và đường, nhiều tinh bột, rau đậu và các chất sơ. Vào đầu thế kỷ 20, vơí sự xuất hiện của tủ lạnh, tủ đông lạnh, hệ thống giao thông tốt, nông nghiệp được cơ giới hóa, và kinh tế thịnh vượng, lối sống, trong đó có cách dinh dưỡng, của người dân Mỹ cũng đổi khác rất nhiều. Cho đến nay đa số dân Mỹ đều ăn nhiều sản phẩm chế biến từ động vật, nhiều chất béo, đường muối, choleterol và ít các chất bột, ít rau và các chất sơ."

    Phong trào ăn chay hầu như chẳng được biết đến mấy tại Hoa Kỳ cho đến khi cuốn sách nhan đề Diet for a Small Planet, của Frances Moore Lappe ra đời năm 1971. Cuốn sách được xếp vào hàng bán chạy nhất trong một thời gian dài.

    Cô sinh viên Lappe, đã bỏ dở chương trình thạc sỹ tại đại học California ở Berkley, để tự tìm tòi, khảo cứu về nạn đói trên thế giới.

    Cô đã giật mình kinh ngạc khi khám phá ra rằng để có được 1 kilogran thịt phải mất cả chục kilogram lúa gạo, ngũ cốc để nuôi gia súc. Tại Hoa Kỳ, nuôi gia súc tốn đến 80% ngũ cốc tiêu thụ trong nước. Nếu dân Mỹ tiêu thụ thịt ít hơn 10% thì có thể đã có đủ ngũ cốc để nuôi sống toàn thể những người đói trên thế giới (vào thời điểm năm 1971). Và cô đã viết cuốn Diet for a Small Planet để khuyến khích dân chúng ăn chay.

    Thập niên 1960, phong trào ăn chay được gắn với giới hippie, nhưng không được biết đến nhiều, thập niên 1970 nó đã khởi sắc một sớm một chiều qua cuốn Diet for a Small Planet và cuốn sách này đã gây được phong trào ăn chay tại Hoa Kỳ. Tiếp theo sau là hàng loạt sách dạy nấu ăn chay, các tiệm ăn dọn các món chay, các hợp tác xã bán rau cỏ và các sản phẩm cho người ăn chay mọc lên như nấm và ngay cả một số công xã qui tụ toàn những người ăn chay cũng đã xuất hiện.

    Đến năm 1975, giáo sư đạo đức học người Australia, ông Peter Singer viết cuốn Animal Liberation, lần đầu tiên dựa trên cơ sở học thuật trình bày những luận cứ đạo đức về chuyện không nên ăn thịt thú vật hay sử dụng chúng để thực hiện những cuộc thí nghiệm. Nếu cuốn Diet for a Small Planet giúp gây được phong trào ăn chay thì cuốn Animal Liberation trong một sớm một chiều đã tạo nên được phong trào bảo vệ súc vật tại Hoa Kỳ. Nhiều tổ chức bảo vệ súc vật đã hình thành, mọc lên ở mọi nơi, gồm cả hội PETA (Con Người Đối Xử Nhân Đạo với Loài Vật) vào đầu thập niên 1980. Cuốn sách này được coi như giúp bổ sung cho cuốn Diet for a Small Planet.

    Tuy nhiên cuốn Diet for a Small Planet còn một số những điều mù mờ không chính xác về lý luận đối với chất đạm trong các thứ đậu chẳng hạn, đối với cơ thể con người.

    Đến năm 1987 cuốn Diet for a New America do ông Jhon Robbin soạn thảo đã ra đời, thu thập tất cả những thông tin, tài liệu và bài viết rời rạc về lợi ích của ăn chay, đồng thời ông cũng đóng góp thêm phần phân tích của chính ông nữa. Cuốn sách đồ sộ gồm ba phần và được ca ngợi là rất vô tư.

    Cuốn sách lại phát động thêm cho phong trào ăn chay của Hoa Kỳ và trong vòng 2 năm sau khi cuốn sách được xuất bản, có thêm đến 10 hiệp hội của những ngườøi ăn chay được thành lập tại Texas.

    Năm 1983 bác sỹ John McDougall bắt đầu cho xuất bản loạt sách quảng bá cho chuyện ăn chay để chữa nhiều thứ bệnh và đến năm 1990 ông đã đạt thành công rực rỡ với chương trình McDougall. Kể từ đó trở đi giới khoa học nghiên cứu sâu rộng đã cổ võ cho chuyện ăn chay để giữ sức khỏe và đã chứng minh được rằng cách ăn uống thanh đạm giúp cho sức khỏe và có thể ngừa hoặc chữa trị nhiều chứng bệnh.

    Ngày nay ăn chay là điều rất phổ thông, nó được cả giới thẩm quyền trong y học lẫn quần chúng ủng hộ.

    Và thưa quí vị, khi người ta nói đến ăn chay thì đậu hủ, hay tàu hủ, được coi là là nguồn chất đạm (protein) đầy bổ dưỡng. Nó không chứa chất béo bão hòa. Tàu hủ được định mức dinh dưỡng là

    4 ounce (4oz), tức nửa cup hay 118 gram tàu hủ cứng (firm tofu) có khoảng 10 g protein. Trung bình nam giới cần 56 gr protein một ngày, nữ giới là 46gr. So sánh với sữa: nửa cup sữa có 5,1 gr protein, một trứng gà có khoảng 6 gr và 4 ounce thịt bò có 26 gr.

    Cùng một lượng tàu hủ như trên chứa 5 gr chất béo, trong khi một lượng tương tự thịt bò là 15 gr, trứng gà 5,5 gr. Tuy nhiên chất béo trong tàu hủ không có cholesterol, trong khi thịt bò có tới 113 mg, và cá từ 75 đến 100 mg.

    Tàu hủ là một loại thực phẩm được chế biến theo nhiều cách, nấu khéo rất ngon miệng. Ai cũng biết tàu hủ được chế biến từ sữa đậu nành, nhưng chế biến ra sao, mời quí vị nghe lời giải thích của chuyên gia hóa học và môi trường Mai Thanh Truyết http://www.khoahoc.net/baivo/maithan...10-daunanh.htm sau đây:

    "Chất bỏ vào sữa đậu nành để làm cho đông lại thành tàu hủ là thạch cao. Thạch cao là một hỗn hợp của sulfate magnesium và chlorine magnesium, có trộn lẫn một phần nhỏ vôi (carbonate calcium). Thạch cao nói ở đây là loại thạch cao dùng cho thực phẩm và dược phẩm chứ không phải là thạch cao hay vôi dùng trong công nghệ xây dựng.

    Vì giá của thạch cao công nghiệp rẻ nên một số con buôn dùng thạch cao công nghệ để làm chất dể sữa đậu nành đông thành tàu hủ. Loại tàu hủ này có nhiều chất bã bẩn trong đó.

    Thứ hai nữa, chúng tôi nói để dự phòng, về chất borax (hàn the), chống mốc, có tác dụng sát trùng nhẹ và làm cho tàu hủ, bún, miến dai hơn. Gian thương có thể bỏ borax vào trong quá trình làm tàu hủ từ sữa đậu nành, để chống mốc, giữ được lâu và làm cho tàu hủ dai, cứng hơn."

    Lan Phương | Washington, DC
     

Tình hình diễn đàn

  1. HONEYZ,
  2. HuyBoss9001
Tổng: 465 (Thành viên: 5, Khách: 441, Robots: 19)