Mình thấy có 1 số bạn nhắc đến Quang Trung nên mình post lên cho anh em cùng đọc ! Nguyễn Huệ - Quang Trung và sự nghiệp giúp dân dựng nước (tac gia :VIẾT HIỀN) Cách đây 215 năm, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng "áo vải cờ đào" Quang Trung - Nguyễn Huệ, dân tộc Việt Nam đã anh dũng đứng lên quét sạch 29 vạn quân Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi đất nước. Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa là một trong những chiến công hiển hách nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, với nhãn quan thiên tài của một "trí thức không khoa bảng", Hoàng đế Quang Trung đặt ngay vấn đề phải tái thiết - cải cách đất nước toàn diện. Về kinh tế, Vua Quang Trung cương quyết xóa bỏ chính sách "ức thương - bế quan tỏa cảng" đã tồn tại ở nước Việt trước đó hàng 3-4 thế kỷ. Đối với nông nghiệp, Quang Trung xác định: sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước phong kiến tiến bộ. Để xây dựng một nền nông nghiệp thịnh vượng, Quang Trung đề ra nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực và khuyến khích được toàn dân trăm họ cùng tham gia. Hoài bão của Vua Quang Trung thể hiện rất rõ trong Chiếu Khuyến nông. Ngay sau khi lên ngôi, Vua Quang Trung đã đề ra một loạt cải cách về tiền tệ, thuế khóa, đinh điền… Ngài ra lệnh hủy bỏ toàn bộ loại tiền mang danh hiệu Cảnh Hưng, Hồng Đức và thay vào đó là những loại tiền Thái Đức, Quang Trung Thông Bảo. Đồng thời, Quang Trung đề ra hàng loạt chính sách ổn định tiền tệ. Về thuế khóa, Vua Quang Trung bãi bỏ việc nộp tiền thay cho việc sưu dịch (còn gọi là thuế tiền điệu). Thuế ruộng đất công, tư đều được triều đình xem xét phân hạng theo mức sản xuất hàng năm và chia hạng nộp thuế bằng lúa, hoặc có thể bằng tiền, tính theo thời giá. Đáng lưu ý, Vua Quang Trung còn có quy định thập vật tiền (tiền trả cho người đứng thu thuế), khoán khố tiền (tiền tồn kho) và mức thuế cụ thể. Ai thu vượt quá quy định sẽ bị xử vào tội tham nhũng. Song song với chính sách tiền tệ, thuế khóa, Vua Quang Trung cũng chú trọng xây dựng, phát triển nền kinh tế công thương nghiệp. Theo Quang Trung, nền kinh tế này phải xây dựng trên nền tảng độc lập, tự cường để có thể sản xuất ra nhiều hàng hóa nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và phát triển kinh tế quốc gia. Ngay khi gặp Nguyễn Thiếp ở Nghệ An, Quang Trung đã nói: "Tôi mà dẹp yên được giặc Tàu xong xin rước thầy về dạy học. Tôi muốn khí dụng gì cũng chẳng phải mua của nước Tàu". Sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, Vua Quang Trung chủ động viết thư cho Tổng đốc vùng Lưỡng Quảng (nhà Thanh) là Phúc An Khang, "đề nghị mở cửa ải, thông chợ búa". Trên cơ sở yêu cầu của Quang Trung, nhà Thanh đã cho mở cửa ải Thủy Khẩu, Bình Nhi, Du Thôn, cho thương nhân người Hoa sang buôn bán, lập ra nhiều phố xá như Kỳ Lừa, Mục Mã, Hoa Sơn… (gần biên giới Trung Quốc) và lập ra 2 cửa hiệu Thái Hòa, Phong Thịnh để buôn bán. Nhờ chính sách "mở cửa" của Quang Trung, nhiều thuyền buôn Trung Quốc và cả phương Tây đã đến Phú Xuân (kinh đô cũ) để đầu tư, buôn bán. Đặc biệt, để thực hiện thành công sự nghiệp ổn định chính trị, xây dựng kinh tế, quân sự phát triển, trở thành một quốc gia độc lập, tự chủ, hùng mạnh, Quang Trung luôn quan tâm đến chiến lược dùng người. Trong Chiếu Lập học ngài nói rõ: "Dựng nước lấy việc học làm đầu, trị nước chọn nhân tài làm gốc… Trẫm buổi đầu dựng nghiệp, tôn trọng việc học, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài ra giúp đất nước". Tiếc rằng, trong khi nước Việt đang thay da đổi thịt, chính sách mở cửa, cải cách của Quang Trung đang làm cho nền kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục… ngày càng phát triển thì Nguyễn Huệ - Quang Trung đột ngột băng hà (1792). Sự nghiệp to lớn của người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ - Quang Trung đối với đất nước được cô đọng trong 2 câu thơ của bài "Ai Tư Vãn": Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình. Bao năm đã trôi qua, nhưng tinh thần của chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa vẫn bất diệt. Và, tinh thần "bách chiến, bách thắng", cùng những hoài bão cải cách, mở cửa của Quang Trung - Nguyễn Huệ vẫn sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Bình Định nói riêng.
Có lẽ đây là vị lịch sử duy nhất xứng đáng là anh hùng. Sâu thêm về Nguyễn Huệ : bởi TRẦN HỮU THỤC Nhân vật Nguyễn Huệ trong "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác Từ Nguyễn Huệ lịch sử ... Cùng với bà Trưng, bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo,Lê Lợi, Nguyễn Trãi..., Nguyễn Huệ trở thành biểu tượng cho giòng lịch sử oai hùng của dân tộc. Nhưng dường như Nguyễn Huệ là người được đề cập đến nhiều nhất, với một sự kính trọng và niềm tự hào khá đặc biệt. Có lẽ là vì cuộc đời ông có những nét rất riêng, so với các khuôn mặt trên. Trưng Trắc thì được nung nấu bởi thù chồng bị giết; Ngô Quyền vốn là một tướng lãnh; Trần Hưng Đạo là một đại thần, một tướng lãnh; Lê Lợi thì có quân sư tài ba Nguyễn Trãi phò tá..., đại khái là ai cũng có gốc, có gác, có phò tá. Nguyễn Huệ bước vào chiến trường và chính trường từ lúc còn là một thanh niên mới lớn không giòng dõi, không học thức, không kinh nghiệm. Ấy thế mà những gì Nguyễn Huệ thực hiện là những thành tích vô tiền khoáng hậu, gây nên những ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đương thời cũng như hậu thế và các nhà viết sử: trong một thời gian ngắn ngủi, ông lật đổ 2 triều Chúa, một triều Vua và đánh tan 2 đạo quân xâm lược lớn nhất thời bấy giờ. Ông vừa là tướng lãnh vừa là lãnh tụ chính trị vừa là chiến lược gia, và cuối cùng trở thành hoàng đế. Từ trong bóng tối, ông đột ngột xuất hiện trên vòm trời đất nước, tạo nên những kỳ tích, choán hẳn cả một giai đoạn lịch sử với một tầm vóc vĩ đạị Kỳ tích lớn đến nổi ta không kịp nhìn thấy khuyết điểm của ông. Vinh quang, do đó, che lấp hẳn phần "bi kịch". Người ta nhớ đến chiến công và quên rằng hai anh em ông đã từng đánh nhau một mất một còn mà dù muốn dù không, ông cũng phải chịu một phần lỗi nếu không muốn nói là phần lỗi chính, theo tôị Đồng thời cái chết bất ngờ của ông khi mới có 39 tuổi đầu giữa lúc sự nghiệp đang ở chót vót đỉnh cao, khiến mọi người ngẩn ngơ, để lại một giấc mơ vĩ đại không bao giờ thực hiện được: lấy lại lưỡng Quảng, thống nhất đất nước và đẩy dân tộc tiến lên. Trước khi đi sâu vào nhân vật tiểu thuyết Nguyễn Huệ, ta thử tạm dừng một chút để nhìn qua con người "lịch sử" -thường được xem như là thật - của Nguyễn Huệ như thế nàọ Ở đây, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến một vài điểm liên quan đến nhân dáng, tính cách, tư tưởng hơn là những chiến công mà hầu như ai ai cũng đã thuộc nằm lòng. Tôi dùng cuốn "Lịch sử nội chiến ở Việt Nam" 1 của Tạ Chí Đại Trường là một tác phẩm sử học tương đối đầy đủ nhất và khách quan nhất về giai đoạn lịch sử khá rối rắm này, theo tôị Sau đây là một vài trích đoạn trong tiết 16 "Cái chết của Nguyễn Huệ", từ trang 270 đến 276: "Nguyễn Ánh bền dai, kiên trì có lẽ đã làm cho một số người tầm tĩnh thán phục, nhưng lại từng là bại tướng của "ông Long Nhương" (...) Nguyễn Nhạc thất bại ngay lúc còn sống (...) Nguyễn Hữu Chỉnh bị bêu đầu sau một hồi làm mưa làm gió. Nguyễn Huệ trái lại, sống giữa hào quang rực rỡ của chiến thắng (...) Nguyễn Huệ thu nhặt được tất cả những lời khen lao, từ bọn bầy tôi quen tán tụng bất cứ ai là chủ tể cho tới đám thù nghịch từng chịu điên đảo vì ông (...) Trong một cuốn dã sử còn lại, có một vài nét về Nguyễn Huệ có vẻ thực lắm: "Tóc Huệ quăn, mặt mụn đầy, có một con mắt nhỏ, nhưng mà cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu..." (...). Về cuộc đời riêng của con người này, lịch sử cũng biết được một ít, nhiều hơn những ông vua thời bình cầm đầu quốc gia bằng thế tập. Sĩ phu Bắc hà quen với không khí tôn nghiêm, bệ vệ của Lê hoàng, Trịnh chúa đã ngạc nhiên khi thấy cảnh anh em Tây Sơn "trò chuyện, kẻ hỏi người đáp cực kỳ ôn tồn (?)y như anh em các nhà thường dân". Và cũng nhân dịp ra bắc này, tướng sĩ dưới quyền được vui cười cảm thấy gần gũi ông tướng oai nghiêm ngày thường với câu nói cợt nhã "Vì dẹp loạn mà ra rồi lấy vợ mà về, trẻ con nó cười thì saỏ Tuy vậy, ta chỉ quen gái Nam hà mà chưa biết con gái Bắc hà, nay cũng thử một chuyến xem có tốt không?" (...) Dù Nguyễn Nhạc có ghét em đến dùng chữ "giảo quyệt", "hợm hĩnh", "kiêu ngạo", người ta vẫn nhìn hành động của Huệ để mà thấy các hình dung từ trên không có ý nghĩa xấu khi gán cho một con "hùm (muốn) ra khỏi cũi". Trái lại, khi bàn về NH, Nguyễn Hữu Chỉnh đang ở thế đối địch, Nguyễn Đình Giản cứng cỏi đều nhận "Bắc bình vương là một tay anh hùng". Khi triều thần Bắc hà họp để bàn việc cử người vào đòi Nghệ An, Phan Lê Phiên loại Nguyễn Đình Giản, Phạm đình Dư, viện lẽ "Bắc bình vương là người rất quyệt, hay dùng trí thuật lao lung người khác, trong lúc bàn luận, khi xuống lại nâng lên người ta không biết đâu mà dò". Trần công Xán, viên sứ giả được đề cử sau lúc "luôn trong mấy hôm vẫn không cử được người nào", cũng phải e dè nhận rằng kẻ mình phải thuyết là "người huyền bí khó lường". Thận trọng dè dặt không vào thăm Lê Hiển Tông bệnh, dùng lý đó để bắt lỗi Lê duy Kỳ sao không đợi ông vào hãy phát tang, Nguyễn Huệ thực đã hành động có chừng mực, có tính toán khiến bọn Lê thần phải nể sợ vậỵ (...) Một cung nhân ở Thanh Hóa trong dịp Ngô văn Sở chận núi Tam Điệp (...) tóm tắt được cả dư luận Bắc hà lúc bấy giờ đối với viên tướng "hang núi": "Nguyễn Huệ là bực lão thủ hung tợn và giỏi cầm quân. Coi y ra Bắc vào Nam thật là xuất thần quỷ nhập. Không ai có thể dò biết. Y bắt Nguyễn hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Vũ văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám trông thẳng vào mặt. Nghe lệnh y, ai cũng mất cả hồn vía, sợ hơn cả sấm sét...". Kẻ thù của Tây sơn ở phương Nam, tuy phải chui nhủi chạy trốn, tức giận vì vua chúa họ suýt diệt tộc trong tay Nguyễn Huệ cũng không thể nào nói khác hơn những lời khen lao được, tuy họ đã từng chê trách thậm tệ Nguyễn Nhạc. Sử quan viết "Nguyễn văn Huệ là em Nhạc, tiếng nói như chuông, mắt sáng như điện, giảo, kiệt, thiện chiến, ai cũng phải sơ....Bốn lần đánh Gia định, lúc ra trận đều đi trước, sĩ tốt hiệu lệnh nghiêm minh, thuộc hạ ai nấy dốc lòng vâng mệnh" Nguyễn Huệ, do thiên tư, do tài năng, đã cai trị bọn võ tướng lừng danh của ông cũng như thần dân dưới quyền "bằng sức mạnh của khiếp phục. Do uy quyền đó mà Nguyễn Huệ đã thi hành những cải cách có khi động chạm đến cả đời sống tinh thần của dân chúng" như "sai phá các chùa chỉ chừa mỗi tổng một ngôi mà thôi" theo chính sách "phụng truyền" của Nguyễn Nhạc. Giáo sĩ Labartette ở Bố Chính nói : "Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, họ đã quét sạch xứ sở khỏi những lạm dụng nhơ nhuốc: không ai dám rục rịch chi hết" Đó là vài nét về một Nguyễn Huệ "đời thường" còn ghi lại trong sách sử. ...đến những nhân vật Nguyễn Huệ Đời thường, nhưng quá khác thường. Vậy nên, so với các anh hùng trong lịch sử Việt Nam, có lẽ ít ai mà cuộc đời và sự nghiệp nhiều chất "hư cấu" như Nguyễn Huệ: những biến cố xảy ra trong vòng mấy chục năm dính dáng tới ông đều đầy kịch tính, tương đối dễ cho ngòi bút trong việc tưởng tượng sáng tạọ Sau 1975, theo tôi biết, có 4 tác phẩm chọn Nguyễn Huệ làm nhân vật: "Sông Côn mùa lũ", trường thiên tiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác; "Phẩm Tiết", truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp; "Mùa mưa gai sắc", truyện ngắn của Trần Vũ; "Gió lửa", truyện dài, của Nam Daọ Tất cả đều dùng tên tuổi và một số chi tiết chung quanh cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Huệ để xây dựng nhân vật. Tùy theo ý đồ riêng biệt của từng tác giả, mỗi truyện cung cấp cho ta một Nguyễn Huệ khác nhau, cả về nhân dáng, tính tình và quan điểm chính tri.. Những nhân vật đó có phản ảnh đúng cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Huệ hay không, tôi không đề cập ở đâỵ Tôi sẽ nói đến Nguyễn Huệ như là sản phẩm của hư cấu, nghĩa là như một nhân vật x, y hay z nào đó, dù rằng có thể trong thâm tâm, chúng ta rất khó mà không ít nhiều đối chiếu với một Nguyễn Huệ lịch sử. "Phẩm tiết" 2 kể lại cuộc đời của một nhân vật nữ tên là Nguyễn Thị Vinh Hoa, người tình của hai ông vua thù địch nhau: Quang Trung và Gia Long. "Năm Kỷ Dậu (1789) Quang Trung Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt Mãn Thanh xong, tìm cách an dân". Nghe theo lời Trần Danh Kỷ, nhà vua cho mời cơm các nhà danh gia thế phiệt trong thành, Khải cũng được mờị Bữa tiệc "có đủ mặt mấy trăm gia đình giàu có ở Kẻ Chơ.. Khải ngồi chiếu trên cùng". Tại bữa tiệc, vua Quang Trung phán: "Ta xuất thân áo vải cờ đào, vì nước xả thân, dẹp yên bốn cõị Thời chiến ta lấy kẻ có sức lực làm điểm tựa, thời bình ta lấy kẻ có trí lực làm điểm tựạ Nay các ông đến đây, đều là những người có của, tức là những người có trí lực cả; ta cho ăn cho uống, xin các ông vì ta mà mở mang công nghệ, bán buôn, làm cho nước giàu dân mạnh". Mới nghe lời phán, ta đã thấy có gì khang khác với Quang Trung vẫn thường biết "của mình". Ăn xong, Quang Trung hỏi Khải có ngon không? Khải đang say, dại miệng trả lời không vừa ý vuạ Quang Trung cười nhạt, không nói năng gì. Khi người ta dâng các lễ vật mừng, vua Quang Trung đứng xem, trầm trồ thán phục. Nhưng khi Khải cho đầy tớ mở các lễ vật của mình, Quang Trung thấy toàn đồ giả, vải lụa bị cắt do tên đầy tớ cố tình chơi khăm, vua Quang Trung giận mắng: "Thằng Khải kia, tài bằng cái đấu, khinh ta quá chừng! Trời cho mày sống, cướp không biết bao nhiêu lộc thiên hạ, ăn miếng ngon không biết đậy mồm, còn chê là lợm. May nhờ phúc tổ, có ít của chìm, như cái đuôi khô, tháng ba ngày tám mang ra gặm tưởng xênh xang ử" . Xong tiệc, Quang Trung cho lính đi bắt Khảị Viên quan phụ trách, thấy con Khải tên Vinh Hoa quá đẹp, không bắt nữa mà về tâu vuạ Nhà vua cho triệu Vinh Hoa tớị Vừa thấy nàng, nhà vua "thốt nhiên rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm taỵ Vinh Hoa nói năng rành rẽ, đâu vào đấy, nhà vua thích lắm. Nhà vua hỏi gì, nàng trả lời điều ấy, nói thông cả buổi, kim cổ đông tây đủ cả. Bọn Trần Văn Kỷ ngồi nghe toát cả mồ hôi". Vua Quang Trung giữ Vinh Hoa lại trong cung, rồi sai rút quân khỏi nhà Khảị Nhưng Khải hổ thẹn đã treo cổ tự tử. Nghe tin, nhà vua "đang đêm xõa tóc, đi chân đất, vừa đi vừa vấp, chạy vào báo cho Vinh Hoa việc Khải mất". Hối hận, vua cho làm ma chay rất hậu rồi đem Vinh Hoa vào ở trong cung đối xử "rất ân cần, thương xót" những mong nàng cho động phòng. Nhưng nàng cương quyết không chịụ Nhà vua "rất buồn", không biết phải làm saọ Vua Quang Trung nói: "Ta được Vinh Hoa như được báu vật, một Vinh Hoa bằng ba vạn người". Về lại Phú Xuân, nhà vua mang theo Vinh Hoạ Khi sắp mất, Vinh Hoa đứng bên giường, nhà vua "nhìn mãi Vinh Hoa mà không nhắm mắt (...). Sau Vinh Hoa phải lấy ngón tay út của mình đặt lên hai mi mắt nhà vua thì mắt nhà vua mới nhắm lại được". Nguyễn Huệ ở đây thiếu hẳn cái oai phong, lẫm liệt anh hùng như ta vẫn thường hình dung, mà là rất "vua", như bất kỳ một ông vua nào khác trong các truyện về vua chúa mà ta vẫn thường đọc: hách dịch, ưa nịnh bợ, mê gái và ăn nói tùy tiện. Chuyện vua chúa mê gái, háo sắc, đa dâm thì chẳng có gì là lạ trong kho tàng lịch sử cổ kim Trung Hoa và Việt Nam. Nhưng nếu nhân vật "vua" là một Lý, Trần hay Lê... gì "tông" đó, thì chẳng mấy ai thấy la.. Nhưng ở đây lại là Nguyễn Huệ nên chuyện đâm ra khác đi, khiến nhiều người cảm thấy bức xúc và thậm chí như bị sỉ nhục. Truyện hóa ra mang tính cách hạ bệ thần tượng và lấp loáng những ám chỉ này nọ vào thời hiện đạị Biết bao là giấy mực đã đổ ra vì thế! Nhưng không chỉ có Nguyễn Huy Thiệp! Một thời gian ngắn sau khi "Phẩm tiết" gây chấn động trong văn giới và dư luận trong nước, thì ở trời Tây, "Mùa mưa gai sắc" 3 của Trần Vũ ra đời, gây thêm một chấn động mới với một Nguyễn Huệ còn dung tục hơn bội phần. Nhân vật "vua" mê gái, ăn nói tùy tiện, nghe còn được. Nhân vật "sẽ là vua" ở đây xấu xa, thô bạo, dâm đãng chẳng khác gì một tay tướng cướp. Bằng một kỹ thuật đặc biệt qua hai người kể chuyện đều xưng tôi một là bạn của Nguyễn Huệ và một là bạn của Ngọc Hân - và với một giọng văn đầy ấn tượng và những hình ảnh bạo liệt, Trần Vũ cho ta một Nguyễn Huệ mới toanh. Trước hết, về nhân dáng và tính tình, Nguyễn Huệ là một người hung bạọ "Những khi giận, hai tròng đỏ trong mắt Huệ lập lòe lửa, tất cả thần khi dữ dội đều hiện lên ở đồng tử, nên nhìn rất sợ". Cá tính hung bạo, thô lỗ đó được dịp biểu lộ khi ra Thăng Long trong tư thế của một người chiến thắng. "Trong phủ Chúa, chốn sang trọng lộng lẫy nhất Thăng Long, từng mảng da beo lớn trải làm thảm lót chân, Huệ đi lại trên đó và khạc nhổ cũng trên đó". Khi Vũ văn Nhậm nhắc Huệ về lễ rước dâu, Huệ gắt: "Ta dẫn mấy vạn quân ra đây, đánh một trận dẹp yên thiên hạ, lão già họ Lê, dòng họ, ngai vàng lão thuộc về ta như trâu bò, đất đai, người ngợm của Bắc Hà. Việc gì phải đi đón! Đem con nộp thì ta lấy" Nguyễn Huệ là một tay bạo dâm. Hình ảnh đêm động phòng của Nguyễn Huệ và Ngọc Hân thật khiếp đảm. "Huệ chụp lấy ngực áo cưới của Ngọc Hân xé toạc" (...) "Huệ xô ngã sấp Ngọc Hân ra giường, tháo dây đai quất xối xả lên tấm lưng mảnh dẻ" (...) "Huệ quất như thúc roi, thúc ngựa" (...) "Đến lúc Huệ bắt Ngọc Hân co hai đầu gối, thì nàng quá đau đớn không dằn dược, bật tiếng kêu nấc trong đêm tốị Huệ nghe tiếng nấc, khoái cảm càng tăng lên như những lúc chứng kiến hành quyết. Sau đó, đêm nối đêm, Nguyễn Huệ tiếp tục quất Ngọc Hân. Mỗi lần như thế, "Khuôn mặt Huệ toát ra vẻ mãn nguyện, thỏa mãn. Huệ chỉ buông rơi khi Ngọc Hân đã ngã khuỵu xuống chân giường. Cảnh giao hoan của Huệ với Ngọc Hân, cũng không còn là cảnh cưỡng bức ban đầu, nếu dáng ngồi đè của Huệ vẫn in dáng hổ nhai mồi, thì hai cườm tay Ngọc Hân đã quấn chặt lấy cổ Huệ, và trên lưng Huệ đầy vết cào của một con sư tử cái". Cả hai truyện đều cho ta hình ảnh một Nguyễn Huệ rất mới, rất lạ, y như một ai khác mang tên Nguyễn Huệ, có vẻ bất thường, nếu không muốn nói là ít nhiều mang vẻ bệnh hoạn. Một phản-Nguyễn Huê.. Chưa hết. "Gió lửa" 4 của Nam Dao, là truyện dài, nên nhân vật phát triển đa dạng hơn, là tổng hợp giữa một phản-Nguyễn Huệ và Nguyễn Huệ "lịch sử". Thay vì chỉ nhằm mục đích phá đổ thần tượng (nếu có thể nói như thế đối với hai truyện ngắn trên) thì Nguyễn Huệ của Gió Lửa lại là hình ảnh của một luận đề. Nói khác đi, Nguyễn Huệ "Gió lửa" là cách đặt vấn đề đối với lịch sử như là một cái gì chưa hoàn tất. Nguyễn Huệ chỉ bắt đầu xuất hiện ở phần giữa của tác phẩm. Về nhân dáng, "Huệ to ngang, hơi thấp, tay dài đến đầu gối, di chuyển vừa nhanh vừa chắc như một loài nửa gấu nửa vượn. Mặt nổi mụn, mũi sư tử, một mắt to một mắt nhỏ, Huệ nhìn ai cũng tựa như chọc gươm vào đồng tử người đối thoạị Khi nói, miệng Huệ nhếch lên vẻ diễu cợt, nhưng giọng oang oang như trống trận thúc vào tim vào gan khiến nhiều kẻ mất tự chủ, óc tê điếng đi, chân tay bủn rủn". Các chi tiết về thể hình và tính cách cho ta thấy một Nguyễn Huệ dị tướng, bất nhân. Nguyện Huệ đã xấu xí lại nóng nảy, hung bạo và đầy mặc cảm. Huệ mê An, cô láng giềng. Chê Huệ xấu, An yêu người khác. Ngày đám cưới An, Huệ tuyệt vọng "chạy ra hét như người hóa dại, rút dao đâm vào đùi mình, máu chảy lênh láng, kêu ầm lên: "Chỉ vì mặt ta có mụn, chỉ vì mặt ta có mụn..." (275). Thật là bất bình thường! Tuy vậy, Huệ tỏ ra là một người có kiến thức, hiểu rõ thời thế và nhìn xa trông rô.ng. Khi chưa có binh quyền gì, Huệ nói: "Đầu tiên, ta muốn chấm dứt cuộc nội chiến Nam -Bắc đã hơn trăm năm naỵ Yên được cũng mất năm đến mười năm. Còn lại, ta chỉ sống có thêm mười năm để đặt những hòn gạch đầu cho một kỷ nguyên mới..." (tr. 248, 249). Huệ có tinh thần thực tiễn. Ông nói với Nguyễn Hữu Chỉnh: "Những gì ông cho là hay ho nhưng thực dụng trong sách vở Nho gia, ông chép lấy rồi mang lên đọc cho ta nghẹ Sách về binh pháp và thuật Hàn Phi Thương Ưởng thì khỏi, ta đã nằm lòng rồị Nhưng cấm không được mang thơ phú ra làm loạn đầu tạ Nhớ đấy, phải thực dụng..." (tr. 252). Lại thủ đoạn, biết đợi thời, không nóng vộị Theo Huệ, công cuộc dựng nước "cũng giống đánh bạc, đi buôn, ở chỗ cần có vốn. Ta hiện nay vẫn còn trắng tay nên phải đợi..." (261). Khi cơ hội đến, Huệ nắm lấy ngay và cương quyết thực hiện bằng mọi giá. Trên đường hành quân ra Bắc lần đầu, "Khuôn mặt Huệ gồ lên, cằm bạnh ra như rắn hổ mang, mắt rừng rực lửa có màu đỏ của máu"(264). Khiếp! Ra Thăng Long, Huệ "Gió lửa" chẳng khác gì Huệ "Mùa mưa gai sắc": thô lỗ. Huệ "với tay lấy rượu, tu ừng ực" (...) "cười lên sằng sặc, nghêu ngao hỏi những câu hỏi...(276, 277). Lại là một kẻ cuồng dâm, "Huệ gào "Ta hành nó cho em sướng nhé!, rồi mím môi vớ roi đánh vòng vào lưng mình (...) Đánh đến mỏi tay, Huệ gục xuống, nằm xoài ra trên thềm gạch, miệng thở khò khè" (277). Và bạo dâm. Cảnh động phòng với Ngọc Hân thật đầy ấn tượng: "Huệ tiến lại, mắt đỏ lừ đừ như mắt cọp. (...) Ném tấm Vương bào, rồi từ từ cởi chiếc cạp quấn lưng quần, Huệ trần truồng đứng, quát Hân "Này, nhìn đi". Nàng công chúa mới mười sáu tuổi co dúm người, nhắm mắt lạị Huệ xé mảnh vải cuối cùng trên hạ thể Hân, xoay người Hân lại, bắt quỳ xuống. Hai tay nắm vào hai núm cau vừa đủ to để hái, Huệ lại rên "...ha.nh phúc à...". Kéo cho mông Hân chổng lên cao, Huệ thúc vào từ phía sau, vừa thúc vừa kêu (...) mỗi lúc một mạnh, hệt như khi Huệ thúc voi vào cửa ô Trường Bản thành Thăng Long cách đây vừa năm ngàỵ Ngọc Hân oằn người, thét lên một tiếng nhỏ, rồi mặc cho sự đau đớn đến chảy nước mắt, nàng nghiến răng, đầu thầm nhủ lời cha dặn dò "...nghiệp nhà Lê trong tay con". A, cái cơ nghiệp bốn trăm năm cứ trồi cao trụt thấp cho đến khi Huệ kêu hự lên một tiếng, rồi ngã người nằm sấp mặt xuống thềm" (277-278). Khác hẳn với hình ảnh hung bạo đó, khi quyền hành nắm đủ trong tay, Nguyễn Huệ có một cái nhìn và cách cư xử rất sáng suốt, tỏ ra là một vị minh quân. Hơn thế nữa, là một nhà cách ma.ng. Ngoài chuyện dùng chữ Nôm, ông còn nghĩ đến chuyện dùng chữ quốc ngữ (chữ Việt ta dùng hiện nay) trong việc giáo dục (396 -397). Đặc biệt, Nguyễn Huệ lại có đầu óc tiến bộ gần như đi trước thời đại đến cả hơn 100 năm: nhà vua nghĩ đến việc hình thành một chế độ mới: "quân chủ lập hiến". Ngoài ra, để "thấu hiểu được niềm hạnh phúc của những kẻ bình thường", thì phải sống một cuộc sống bình thường, Nguyễn Huệ tự nhịn đói để biết được "thế nào là sợ chết đói" và nhờ thế "mới hiểu miếng ăn thực sự là gì" (407). Sau khi nhịn đói, Nguyễn Huệ cho biết "Bài học đói là bài học lớn nhất của trẫm (...) Cái quyền tối thượng của người dân là quyền sống. Và sống có nhân phẩm thì không phải đói, phải xin, phải cầu cạnh aị (410, 411). Ở đây, ta thấy Nguyễn Huệ chẳng khác gì một nhà nho chân chính, biết xuất, xử. Hơn thế nữa, một triết gia, một kẻ đi tìm chân lý và sẵn sàng chết cho chân lý, chứ không phải là một ông vua quyền uỵ Cuối cùng, "Gió lửa" cho ta biết Nguyễn Huệ chết là vì bị đầu độc. Vợ chính của Nguyễn Huệ, Phạm hoàng hậu, thù ghét Ngọc Hân công chúa và đám quần thần "nước ngoài" (tức Bắc Hà) vào chiếm chồng, chiếm nước Đàng Trong, "mê hoặc triều đình bằng những luận điệu huyễn hoặc" (412). Bà chuẩn bị một món ăn có pha độc dược với ý định giết hết đám Bắc Hà trong một bữa tiệc. Nhưng rốt cuộc, chỉ một mình Huệ ăn và bị ngộ độc. Huệ biết, nhưng không có ý định trả thù. Lúc lâm chung, Huệ chỉ gọi tên An, người tình đầu đời, như một kẻ thất tình, suốt đời bị ám ảnh bởi mối tình đầu thất bạị * Nguyễn Huệ trong "Sông Côn mùa lũ" "Sông Côn Mùa Lũ" 5 (SCML) cho ta một Nguyễn Huệ khác hẳn những Nguyễn Huệ trên. Không mới toanh, đã hẳn. Càng chẳng có gì mớị Lại có vẻ như một Nguyễn Huệ khá cũ, nghĩa là một nhân vật trung thành với con người lịch sử và do đó, không gây "sốc" như những Nguyễn Huệ vừa đề cập. SCML dài hơn 2000 trang, viết trước ba tác phẩm kể trên và được tác giả gọi là "trường thiên tiểu thuyết". Sau này in lại trong nước, người ta gọi là "tiểu thuyết lịch sử". Phan Cự Đệ, trong bài viết "Tiểu thuyết lịch sử" 6, xếp SCML vào thể loại "tiểu thuyết lịch sử". Một tác giả khác, Nguyễn Khắc Phê, trong một bài viết về SCML trên tạp chí Sông Hương 7, cũng thế. Sau khi khen ngợi chung chung một số điểm, Nguyễn Khắc Phê đã nhận định như sau: "Phần viết về ông giáo Hiến và giai đoạn anh em nhà Tây Sơn khởi nghiệp quá dài so với những trang dành cho sự nghiệp của Nguyễn Huê.. Chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút và chiến công đại phá quân Thanh mà chỉ diễn tả ngắn ngủi qua mấy trang ghi chép của nhân vật Lãng thì làm sao thể hiện được thiên tài quân sự Nguyễn Huệ và tương xứng với những sự kiện lẫy lừng đó? (...) trong khi đó thì có những nhân vật không để lại dấu ấn gì trong lòng bạn đọc, cũng không ảnh hưởng gì đến nhân vật chính NH như vợ chồng Hai Nhiêu lại chiếm không ít số trang ở phần đầu sách" (...) nhưng quả là người anh hùng Nguyễn Huệ qua những trang miêu tả chiến trận chưa thấy "bay lên" cho xứng với một nhân vật thiên tài quân sự, do đó "chưa tạo nên cảm hứng lớn lao và đẹp đẽ trong lòng người đọc trước một nhân vật xuất chúng" (...) "...một nhân vật như NH, trước cái chết có bao điều suy gẫm về sư thắng bại, về tình yêu, về lẽ đời phải trái mang "sức nặng" tư tưởng rất đáng được "khai thác" kỹ; nhưng tác giả đã bỏ qua và thay bằng một dòng thông tin vô cảm "Hôm sau, Bến Ván biết tin vua Quang Trung vừa băng hà hôm 29 tháng 7..."! Thật là tiếc! Tiếc một cơ hội để làm rõ hơn tư tưởng tác phẩm" (tr. 89). Tôi đoán rằng Nguyễn Khắc Phê đọc SCML trong tâm trạng của một người đọc sách danh nhân lịch sử, loại sách viết ra nhằm tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước. Nhưng SCML là tiểu thuyết. Và Nguyễn Huệ được sử dụng để tạo ra một nhân vật hoàn toàn thuộc về lãnh vực hư cấu mà ta chỉ có thể phê phán nó như là sản phẩm của hư cấụ Nguyễn Khắc Phê cố tìm ra một Nguyễn Huệ của riêng ông trong SCML, một Nguyễn Huệ đã được đúc khuôn từ một ý niệm tiền chế. Với một tinh thần như thế thì thật không cách gì ông có thể đọc "Gió lửa" chứ nói gì đến "Phẩm Tiết" hay "Mùa mưa gai sắc". Khác với cái nhìn hạn chế đó, Phan Cự Đệ, trong bài viết nói trên, cho rằng SCML nghiêng về tiểu thuyết hơn là lịch sử. Ông không quan niệm lịch sử chỉ là những câu chuyện của các ông hoàng bà chúa, của các tướng lĩnh, là sử biên niên của các trận đánh. Tiểu thuyết lịch sử trước hết phải là tiểu thuyết, là "thế sự", là chất "văn xuôi" (caractère prosaique), là cuộc sống muôn màu muôn vẻ của con người và thiên nhiên" 8. Theo ông, Nguyễn Mộng Giác "có cái nhìn dân chủ hóa (Phan Cự Đệ nhấn mạnh) đối với các vĩ nhân lịch sử như Nguyễn Huê.. Nguyễn Huệ cũng có "những tình cảm vui buồn, nói năng hành xử theo tâm lý bình thường như chúng ta". Riêng về ý kiến này, tôi xin được ngạc nhiên: Ô hay, vậy Nguyễn Huệ chẳng phải là con người hay sao, hơn thế nữa lại là một người "áo vải, chân đất"! Nếu ông không vui buồn như chúng ta thì chẳng lẽ ông là gỗ đá? Nếu ông không nói năng như chúng ta thì ông nói năng kiểu gì nàỏ Tôi cho rằng trong thực tế, có lẽ ông nói năng còn "bình dân" hơn chúng ta nữa kìa, vì ông là một người xuất thân từ nông thôn và học hành đâu có bằng chúng ta ngày nay 9. Vả lại, ngôn ngữ và cung cách của Nguyễn Huệ trong SCML, theo tôi, rất "sang", rất trí thức, khác hẳn cái chất nông dân mà người ta thường vẫn quy cho ông. Phải chăng, cũng như Nguyễn Khắc Phê, Phan Cự Đệ mang một "thiên kiến" về Nguyễn Huệ, một tiền đề về Nguyễn Huệ y như thể Nguyễn Huệ sinh ra đã là một ông thần, một "đấng" lãnh tu.. SCML rõ ràng không phải viết về Nguyễn Huệ như một vĩ nhân - điều mà các sử gia và bộ máy thông tin tuyên truyền đã làm quá nhiều và có quá hiệu quả, ngược lại – cũng như các tác phẩm trên - muốn thăm dò những phía khác của người anh hùng xét như một con người (không cần phải kèm theo những thuộc tính - có khi đã trở thành - sáo rỗng như oanh liệt, hiển hách, thiên tài, lỗi lạc...). SCML tái hiện giai đoạn nhiễu nhương thời Nguyễn Huệ qua 2 tuyến nhân vật: gia đình thầy giáo Hiến và gia đình Nguyễn Nhạc. Tất cả các nhân vật ấy đan chéo số phận vào nhau, tạo nên những biến cố, từ cá nhân, gia đình cho đến đất nước. Hiện diện từ đầu đến cuối là An, cô con gái của ông giáo Hiến, là nhân vật chính của tác phẩm, tượng trưng cho thân phận con người giữa thời tao loạn. Nguyễn Huệ, người tình hờ của An, trung tâm của mọi biến cố, góp phần làm đậm nét thêm thân phận đó qua trò chơi quyền lực. Nhân vật Nguyễn Huệ xuất hiện, ở chương 5, phần cuốị Những chi tiết về Nguyễn Huệ không nhiều so với một vài nhân vật khác như ta mong đợi, tuy thế là những chi tiết nổi bật, giúp ta hiểu tại sao Nguyễn Huệ lại có thể thực hiện được những kỳ tích có một không hai trong lịch sử. Tôi thích dùng lại một từ của Đỗ Minh Tuấn 10: "giải mã". SCML giúp giải mã một số biến cố và hành vi mà Nguyễn Huệ thực hiện. Bằng những chi tiết, thoạt trông chẳng có gì đặc biệt (cử chỉ, thái độ, lời phát ngôn trong sinh hoạt thường ngày), SCML cho ta thấy một Nguyễn Huệ độc đáo trong cá tính và thông minh sắc sảo trên chiến trường và trong chính trường. Dẫu vậy, ở đây, khác hẳn với khái niệm về một anh hùng nông dân, Nguyễn Huệ xuất hiện trong nhân dáng và nhân cách của một nhà trí thức bình dân, sống một đời sống tương đối đầy đủ, vì có một người anh có tiền, lại cũng có quyền. Nguyễn Huệ không hề có những nỗi cay đắng, phẫn uất của một nông dân bị áp bức. Cuộc khởi nghĩa cũng không có vẻ gì là khởi nghĩa nông dân. Trở lại với ý kiến của Nguyễn Khắc Phê cho rằng SCML đã viết về giai đoạn khởi nghiệp của anh em Tây Sơn quá dài, trong lúc những chiến công của Nguyễn Huệ lại viết quá ngắn. Theo tôi, với tính cách "giải mã", SCML tập trung vào giai đoạn khởi nghiệp là hợp lý. Giai đoạn này rất quan tro.ng. Nó chứa đựng "mật mã" cho các biến cố về sau, xét trên nhiều phương diện, kể cả những thắng lợi và thất bại của Tây Sơn sau nàỵ Huệ là em út của Nhạc và Lữ. Huệ giống hai anh nhưng linh động và tự tin hơn. Về thể hình, điểm nổi bật đáng ghi nhận là Huệ mặt đầy mụn. "Mụn này vừa lặn, hai ba cái khác đã nổi cộm lên" (...) "Trên má, mấy nốt mụn thâm tím hiện lờ mờ trên làn da nâụ Một mớ tóc quăn phủ xuống cái trán rộng". Điều này khiến anh có vẻ mặc cảm. Nguyễn Nhạc giới thiệu với thầy giáo Hiến:"Thằng Lữ tuổi Mùi, thằng Huệ tuổi dậu (1753). Trước đây, tôi có cho đi học, cả hai viết chữ đã ngay ngắn. Thằng Huệ sáng trí hơn, lâu lâu có làm được cái đơn, giúp tôi sổ sách thu thuế. Nhưng mấy thầy đồ chúng học chỉ võ vẽ được năm ba chữ, nên sức học hai đứa chưa đi đến đâu" (SCML, tr. 143) Lúc này, Huệ mới có 15 tuổị Lớp học do Biện Nhạc năn nỉ ông giáo thành lập, chỉ có 4 đứa học trò: Lữ, Huệ, một người con của ông giáo và một đứa trẻ khác ở trong làng. Có thể nói, sự nghiệp của Nguyễn Huệ bắt đầu từ cái lớp học "chẳng đặng đừng" nàỵ Vì từ đó mà tạo ra một quan hệ tay ba Nhạc Huệ- giáo Hiến, xuất phát điểm cho một cuộc khởi nghĩa mà có lẽ lúc đầu không ai nghĩ tớị Ý đồ của tác giả khi xây dựng Nguyễn Huệ trong SCML, theo tôi, là tìm cách trả lời cho câu hỏi: Cái gì đã tạo nên một Nguyễn Huệ anh hùng? Câu trả lời là: tư tưởng. Quả vậy, nhân vật Nguyễn Huệ là một nhân vật "đầy cả tư tưởng". Ông là một chiến lược gia, một chính trị giạ Những ý kiến mà Nguyễn Huệ phát biểu, tranh cãi với thầy, với ông anh và với các nhà nho đều thuộc loại các đề tài lớn của chính trị và triết học cổ kim: vai trò của nhà nho, vấn đề nhân nghĩa, chuyện quyền hành, vai trò của người dân. Huệ suy gẫm, phân tích mọi sự từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, cố tìm thấy đúng bản chất và tính cách riêng của mỗi sự việc, sự vật. Thành thật mà nói, tôi không hiểu được những kiến thức ấy Huệ có được từ đâủ Một khả năng như thế, dù có là thần đồng, cũng phải trải qua một quá trình học tập lâu dài, chứ không thể chỉ tham dự một loại "trường làng" bất đắc dĩ với một thầy giáo bất đắc dĩ như thế. Ta có thể nói, sự nghiệp của Nguyễn Huệ phát triển dựa trên hai quan hệ: quan hệ với thầy giáo Hiến về mặt tư tưởng và quan hệ với người anh Nguyễn Nhạc về mặt quan điểm và hành đô.ng. Trước hết là quan hệ thầy trò: giáo Hiến và Huê.. Huệ là người ham học nhất. Anh thích hỏi chuyện sinh hoạt, cách sống của vua chúa và đám quan lại ở Phú Xuân. Anh bạo dạn hỏi "hết chuyện này đến chuyện khác" và chuyện nào cũng "muốn biết rốt ráo tường tận". Lúc đầu, ông giáo có vẻ ngạc nhiên nhưng rồi tức khắc nhận ra khả năng khác lạ của người học trò nàỵ Cách cư xử của ông thay đổị Từ những trao đổi, hỏi han vặt vãnh, hai thầy trò dần dà nhảy qua những địa hạt quan trọng hơn, điều khác thường đối với một cậu học trò 15 tuổi mới võ vẽ năm ba chữ. Chẳng mấy chốc, ông thầy cảm thấy mừng rỡ vì "tìm được kẻ tri âm". Ông không còn lưu ý đến "giới hạn tuổi tác và kinh nghiệm sống của Huệ". Quan hệ thầy trò đặc biệt đó kéo dài mãi về sau cho đến khi thầy giáo Hiến chết. Đó là một quan hệ vừa đầm ấm, chân tình, tương kính lại tương khắc. Người học trò mà ông thầy muốn truyền đạt cái chí khí nhà nho truyền thống của mình đã chọn một con đường khác, thực tiễn, phù hợp với những gì đang diễn ra trước mắt và vì thế thành ra đối kháng với ông. Quan hệ giữa hai người "luôn luôn có khoảng cách trang trọng sẽ sàng giữa thầy và trò, giữa người bảo trợ và kẻ thất thế" (...) "Lớp học có hình thái phóng khoáng, lối dạy dỗ thân mật, uyển chuyển như là cha dạy con" (...)Hai thầy trò đối đáp nhau, thẳng thắn tranh luận với nhau đủ mọi vấn đề ngay trên đám ruộng miễu, hoặc lúc ngồi nghỉ dưới gốc mít cỗi bên miễu cô hồn" (...) Huệ là một "cậu học trò rắn mắt, không chịu tin vội vào những điều thầy dạỵ Cùng ở trạng thái bất quyết, nhưng người học trò thì ở đầu con dường tìm tới chân lý, còn ông thầy thì đứng nép ở cuối con đường gập ghềnh ấy, mặt mày tư lự". Dẫu vậy, sự hăm hở của Huệ khiến "ông luôn luôn bị cuốn hút vào cuộc phiêu lưu kỳ lạ của học trò" (241, 242) 11. Tài liệu dạy học có Sử ký, Đường thi, Truyền kỳ mạn lục, Tứ thư ngũ kinh. Thấy Huệ có khả năng, thầy "bắt Huệ học sử ký", là môn học quan trọng, chỉ dành cho những học trò đã thông thạo thi phú mọi loạị Học chính trị cũng là học cái rối rắm, phức tạp của quan trường. Bài đầu tiên mà Huệ học là "Tựa truyện Du hiệp", bàn về người làm việc nghĩa hiệp. Huệ chú ý đến đoạn kết là đoạn gây ấn tượng nhất: "Ăn trộm lưỡi câu thì chết chém. Ăn trộm nước người thì phong hầụ Cửa nhà hầu, nhân nghĩa thiếu gì đâu" (163). Huệ hết sức lưu tâm tới đề tài đó. Một hôm, Huệ hỏi thầy: "Như... thế nào mới là người hiệp?", ông giáo đáp "Phải khỏe để làm người không biết sơ.. Phải không quá cẩn thận để dám làm. Phải rộng rãi để giúp người mà không so đo hơn thiệt. nếu cần, dám quên mình mà giúp người" "Quên cả sống chết xông vào cứu một thằng ăn cướp ngay ban ngày, giữa chợ, có phải là hiệp không, thưa thầỷ" (...) Không "Nhảy xuống sông cứu một người sắp chết đuối dù không biết bơi, đã được gọi là hiệp chưả (...) Chưa thể gọi là hiệp. Thêm một người chết nữa, phí đi! "Vậy là con biết phải làm gì rồị Gặp một tên thu thuế hống hách và tham lam đang bị bọn cướp đường hành hung, ta không nên can thiệp vào làm gì. Để bọn cướp thanh toán với nhaụ Thấy một anh học trò thức khuya, dậy sớm, học thuộc làu thi phú để thi đậu ra làm ký phủ, duyện lại, mình phải cứu anh ta, không thì anh ta chết đuối mất" (171, 172). Câu đáp của cậu học trò 15 tuổi khiến ông giáo sững sờ. Mà người đọc như tôi cũng sững sờ. Đoạn đối thoại này khiến ta tưởng đến phương pháp tranh luận mà Socrate sử dụng với đám biện sĩ Hy Lạp thời xưa (sophist) được ghi lại trong các tác phẩm nổi tiếng của Platon: phương pháp "irony", nói mỉạ Huệ dồn ông thầy vào thế bí bằng cách hỏi để ông thầy phải chấp nhận quan điểm của mình. Huệ nhiều lần sử dụng cách tranh luận kiểu đó với thầỵ Một lần hai thầy trò bàn nhau về cái đóị Quan niệm của một người quân tử như thầy là "Đói cho sạch rách cho thơm, hay là: Quân tử thực vô cầu bão". Trò phản bác : "Như vậy con nghĩ thầy chưa thực đói" (243). Tại saỏ Trò phân tích rõ: "Con đã nghĩ: Những lời thầy dạy con rút ra từ sách thánh hiền, đều do những kẻ no đặt ra cả. Nhờ no đủ nên thảnh thơi nghĩ ngược nghĩ xuôi thế nào cũng được. Hoặc muốn no lâu, no bền, thì nghĩ thế nào cho đẹp lòng bọn vương hầụ Con nhớ mãi câu nói của ông Tử Trường: "Cửa nhà hầu nhân nghĩa thiếu gì đâu" Thầy đã dạy con năm trước. (245). Ông thầy chịu thua, chua chát nói: "Anh nói phảị Bọn kẻ sĩ chúng tôi chỉ được mỗi việc chầu chực ở cửa nhà vương hầu" (còn tiếp)
Vào thời điểm Tây Sơn chuẩn bị khởi nghĩa (1773), Huệ đặt câu hỏi với thầy: "Chúng ta muốn gì" khi khởi nghĩả Muốn làm một bọn cướp núi kiểu Lương Sơn Bạc? Hay một đám cướp biển lớn? Anh cho biết: "Theo ý con thì khi nào chưa hiểu ta muốn gì, thì cứ lúng ta lúng túng, lúc làm cái này, lúc lại làm ngược lại" (324) "...giả sử mình đánh bạt quân triều, đuổi hết được lũ chức sắc đi, lúc đó mình làm gì nữảLại dùng giáo mác đó dí vào lưng vào cổ dân đen để bắt nộp thuế à? Lại dùng voi ngựa đó để xênh xang cho sang trọng à? Bấy giờ thiên hạ sẽ nghĩ: ờ, tưởng có gì lạ, hóa ra chỉ thay người đóng tuồng mà thôị Cũng bấy nhiêu mặt mũi, râu ria, áo mũ ấy thôi" (324) Khi đề cập đến việc phải giữ gìn cái giềng mối là đạo Nho, tôn phù chúa Nguyễn, Huệ phân tích: "Người dân dốt nát không đọc được kinh truyện, lại là kinh truyện khó hiểu từ bên Tàu đem sang, nên suốt bao đời nay nem nép lo sơ.. Đến một lúc nào đó, tình thế đẩy họ vào đường cùng, họ không sợ hãi nữa (...) Người còn có một mái nhà để về, thì còn băn khoăn suy tính xem nên dọi mái hay nên thay kèọ Nhưng đối với hạng cố cùng, xiêu giạt nay đầu đường, mai xó chợ, bữa no lo bữa đói, chết còn sướng hơn sống, thì những điều từ nãy đến giờ con với thầy nói với nhau phỏng có ích gì! Hỏi họ, họ sẽ đồng thanh đòi phá hết và làm lại hết" (328) Cũng đề tài đó, trong một lần gặp khác, khi ông giáo cho rằng nếu "Ta đạp đổ hết có khác nào dúi lửa đốt quách cái nhà cũ để xây hẳn cái nhà mới", thì Huệ phản bác thẳng thừng: "...chỉ có những ai đủ tiền dựng nhà mới băn khoăn không biết nên đốt quách cái cũ xây cái mới hoặc nên xem xét dùng lại mấy cây cột, cây kèo, rui mè, cửa ngõ. Còn đối với những kẻ vô gia cư, bị đẩy đi lang bạt nơi đầu đường xó chợ như đa số anh em nghĩa quân, thì đốt hay không đốt không cần bận tâm. Họ sẽ tìm một chỗ đất trống, và xây hẳn một cái nhà mới" (542, 543). Huệ tỏ ra am tường con người đủ mọi loạị "Con nghĩ là thời nào cũng vậy, vào giai đoạn đầu, bọn vong mạng thật cần thiết. (..) Sau bọn vong mạng, có lẽ đến lượt bọn cố chấp, rồi đến bọn cơ hộị Bọn cố chấp bị đào thải vì không theo kịp các biến động quá nhanh xảy ra trước mắt. Điều đó dễ hiểụ Khó nhất, chậm nhất, gay go nguy hiểm nhất là cuộc đào thải bọn cơ hộị Chúng nó là con tắc kè thay màu nhanh chóng, khó lòng biết đâu là người thiện chí đâu là tên cơ hội" (641) Một trong những kẻ cơ hội chủ nghĩa hàng đầu thời đó là Nguyễn Hữu Chỉnh. Huệ nhận xét: "Con nhớ có lần con đã thưa với thầy là trước sau gì bọn cơ hội tứ phương cũng đánh hơi thấy mùi mật ngọt mà bu đến đây như một đàn ruồị Chúng còn đông hơn, nguy hiểm hơn bọn đầu trộm đuôi cướp, bọn du thủ du thực lâu nay nhan nhản quanh chúng tạ Nguy hiểm hơn vì chúng thông minh hơn bọn trộm cướp, được việc hơn bọn vong mạng dốt nát, ngoan ngoãn giỏi nịnh hơn bọn cố chấp hẹp hòị Khó phân biệt được người thiện chí và kẻ xu thời cầu ca.nh. Con nghe hắn (tức Nguyễn Hữu Chỉnh) lý thuyết dông dài, nhìn đôi mắt hắn láo liên, tự nhiên rờn rợn" (758). Theo Huệ, "Cống Chỉnh thì trâng tráo xem đời là một canh bạc, kẻ thiện là kẻ thắng. Đấy là "chân lý", là miệng lưỡi của bọn cơ hội" (1123). Dù thầy trò bất đồng ý kiến nhưng với Huệ, thầy vẫn là thầỵ Cho đến lúc thầy mất, Huệ vẫn một lòng kính tro.ng. Cuối năm 1788, ông giáo Hiến qua đờị "Nguyễn Huệ mặc đồ trận còn lấm bụi, có lẽ vừa đi xa về, không cần gật đầu cám ơn những người nhường lối, Huệ tiến thẳng đến phía thầy nằm (...) Không tự chủ được, ông gục mặt xuống giường người chết, nghẹn lời chỉ thốt được có mỗi một tiếng : "Thầy!". (1036, 1037) Không những nhìn thấy được bản chất của chuyện "lớn", chuyện thế sự, bằng một cái nhìn tinh tế, độc đáo, Huệ còn nhìn ra bản chất của những sự việc chi li vụn vặt trong đời sống, từ chuyện ăn mặc hàng ngày cho đến chuyện quê hương. Với đầu óc thông minh, lý đoán lại thực tiễn và một tấm lòng nhân hậu, Huệ áp dụng ngay và áp dụng nhuần nhuyễn, nghiêm túc và đầy quyền biến những suy nghĩ của mình vào việc cầm quân lần đầu tiên. "Theo nghiêm lệnh của Huệ, không ai dược chạm đến một cây kim sợi chỉ của dân. Xin nước cũng phải lễ phép thưa gửi với chủ nhà, uống xong phải cảm ơn" (342). Huệ đưa bài hịch cho một người đọc. Nhưng khi thấy chẳng ai hiểu gì cả, và mọi người tỏ vẻ nghi ngờ thiện ý của quân khởi nghĩa, Huệ phất tay bảo thôi đọc, vì theo Huệ, "Văn chương chữ nghĩa uyên thâm, những câu biền ngẫu nghiêm chỉnh thật vô dụng lúc này, ở đây" (344). Sau đó, Huệ ra lệnh mang hết sổ thuế của dân làng ra đốt. Sau những chiến thắng ngoạn mục lúc đầu, Tây Sơn trải qua một số thất bại vào giữa năm 1777. Hàng ngũ quân lính rối loạn, nhân tâm xao xuyến, tình trạng xã hội hoang mang. Hàng loạt những đạo quân nòng cốt tan rã, nhiều nhân vật cầm đầu bỏ trốn hoặc làm việc cầm chừng. Ngay cả Nguyễn Nhạc mà cũng tỏ ra hoang mang. Chỉ có Huệ là trầm tĩnh trước các sự kiện ấỵ Ông nghĩ ra cái luật thanh lọc mà có lần đã nói với thầỵ "Tập Đình bỏ đi mang theo quá nửa số chiến thuyền ở mặt bắc, không khí thường trực dao động ở khắp phủ Quy Nhơn sau trận Cẩm Sa, sự đầu hàng của Châu Văn Tiếp, cuộc đào thoát của hai anh em Lễ Nghĩa theo phái bộ Nguyễn Phúc Chất, tất cả những điều đau lòng ấy, qua mắt Huệ, đều ở trong tiến trình đào thải để tinh lọc". Dần dà, mặt trận do ông phụ trách qui tụ được những tướng lãnh trẻ và thuần khiết nhất của phong trào "Bọn đầu trộm đuôi cướp, bọn du thủ du thực, bọn say mê bạo hành lặng lẽ tránh xa anh, lánh xa phong trào" (683). Để rồi, sau chiến thắng mùa hè năm 1775 (chiếm Quy Nhơn), Nguyễn Huệ trở thành viên tướng tài ba nhất của phong trào Tây Sơn. "Ngôi sao Nguyễn Huệ bắt đầu chói sáng suốt chiều dài lịch sử từ năm Ất Mùi cho đến lúc Huệ lìa đời". Lúc này anh mới 23 tuổi đầu, cái tuổi mà đối với hầu hết thanh niên, chỉ là mới chập chững vào đờị * Những khác biệt giữa thầy giáo Hiến và Huệ là về lãnh vực tư tưởng và dừng ngang ở đó. Khác biệt giữa Huệ và anh dính dáng đến nhiều thứ, từ tính tình, cách hành động và quan điểm. Dù tôn trọng anh, Huệ không từ bỏ dịp nào nói thẳng ý kiến của mình. Huệ nhận thấy Nguyễn Nhạc "nói nhiều quá", không những thế, "có nhiều điều không đáng nói hoặc không nên nói". Huệ, ngược lại, chỉ muốn "nói vừa đủ và đúng lúc". Trong một lần nói chuyện với anh, Huệ cho rằng anh không nên dùng đồng tiền thuế để đầu tư, vì "đồng tiền thuế vấy đờm, vấy máu của nhiều người, không sạch, không nên động đến" (178). Ngay từ đầu cuộc khởi nghĩa, Huệ đã bất tuân lệnh của anh, mang quân về An Tháị Tuy giỏi biện minh và ông anh có phần thông cảm (mà sau chắc phải vô cùng hối hận vì sự thông cảm đó), nhưng sự tranh chấp về quan điểm và đường lối bắt đầu ló dạng đó dần dà phát triển, đưa đến những hậu quả khôn lường sau nàỵ Quan điểm của Huệ càng ngày càng định hình sau những thắng lợi bước đầu của cuộc khởi nghĩạ Tháng ba năm Bính Thân (1776), Nhạc xưng vương, Huệ làm phụ chính, cai quản một vùng đất rộng lớn từ đèo Hải Vân đến Cù Mông. Khi cho xây thành Chà Bàn, thủ đô của triều đại mới, ngay trên kinh đô cũ của vương quốc Chàm, Nguyễn Nhạc giải thích: "Vì chúng ta phải cố gắng khôi phục lại vương quốc đã từng một thời thịnh trị kéo dài từ đất Thuận Hóa cho đến Bình Thuận. Kinh đô của vương quốc ấy ở đây". Nguyễn Huệ thắc mắc: "Như vậy biên cương của chúng ta phía bắc ra đến Thuận Hóa, còn phía Nam chỉ vào đến Bình Thuận thôi saỏ"(953) Cách suy nghĩ của Huệ khiến Nguyễn Nhạc bắt đầu lo lắng. "Những câu hỏi quan trọng của Huệ hôm ba anh em cùng đi xem xét công trường xây thành Chà Bàn cứ canh cánh trong lòng Tây sơn vương (...) Điều khiến Nhạc lo âu không phải chính nội dung các câu hỏi, mà ở tư tưởng người hỏị Vương nhận thấy cậu em trai út hai mươi lăm tuổi của mình bắt đầu có những suy nghĩ độc lập, những tham vọng riêng tư, có lối nhìn vấn dề khác mình. Nếu Lữ ngoan ngoãn, chậm chạp bước theo dấu chân của Nhạc không cần suy nghĩ, thì Huệ lại muốn tự tay phát quang chọn lấy con đường của mình. Cách nghĩ về biên cương cho vương quốc sắp dựng, nhất là thái độ chế giễu khinh bạc lúc đặt câu hỏi đó khiến Nhạc bực dọc" (958). Khi Nhạc chế giễu các nhà nho trong đó có ám chỉ thầy giáo Hiến, Huệ nói: "Chỉ vì lâu nay chúng ta nghĩ thế nên kẻ sĩ mới bỏ ta mà đị Đến lúc cần một người có uy tín để nói cho dân nghe theo ta không tìm thấy ai ca" (1040). Huệ cũng khác anh về quan điểm đối với Hoa Kiềụ Theo Huệ, Hoa kiều là "cái ngõ để ta liên lạc với nước ngoài" (...) Không có họ, ta không có hạng môi giới để buôn bán với tàu buôn nước ngoài được" (1041). Năm 1785, sau khi Nguyễn Huệ chiến thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm Xoài Mút trở về, Nguyễn Nhạc cho gỡ bỏ cổng chào, một cách cư xử không khôn ngoan chút nàọ "Đạo quân khải hoàn quần áo xốc xếch, mặt mũi nhem nhuốc, trông ô hợp thất thểu chẳng khác nào một đám tàn binh. Đã thế cảnh tiếp đón trên bờ càng khiến cho tinh thần quan sĩ dao đô.ng. (...) Lạ lùng hơn nữa, là người ta đang vội vã dỡ bỏ những cổng chào dành đón những người chiến thắng" (1213). Nguyễn Huệ thắc mắc thì Nguyễn Nhạc giải thích "Ấy, chính vì chiến thắng oanh liệt ở phương nam mà ta phải dè dặt, đừng làm điều gì khiến phương bắc phải lo ngạị Dĩ nhiên không trước thì sau, thế nào ta cũng đòi lại dải đất từ Lũy Thầy trở vàọ Đất đai Đàng Trong thì phải trả lại cho chúa Đàng Trong" (1217) Vở kịch Chàng Lía lại thêm một cái cớ nữa để anh em cãi nhaụ Số là để mừng chiến thắng ban kịch tập diễn vở Chàng Líạ Chuyện kể một người anh hùng nông dân nổi loạn chống triều đình. Nguyễn Nhạc không những không cho diễn vở kịch mà lại còn cho bắt hết người trong ban ki.ch. Nguyễn Huệ bất mãn, tìm gặp anh để hỏi cho ra lẽ. Nguyễn Nhạc bực mình, nặng lời: "- Chú muốn gì thì nói thẳng cho ta biết. Đừng dấu giếm. Đừng quanh cọ Chú muốn kích động đám lính đang say chiến thắng để làm loạn phỏng? Chú vuốt ve lòng tự ái của chúng, nhân chuyện dẹp bỏ cổng chào kích thích cho chúng bất mãn. Rồi chú kéo gánh hát xuống ngầm xúi chúng bắt chước chàng Líạ Có đúng như thế không?(1225) Huệ ôn tồn: (...) anh hiểu lầm em rồị Điều quan trọng chính là nội dung vở tuồng. Lúc nãy anh bảo đem chú Lía ra làm tuồng tích là đã kích động quân sĩ làm loạn. Em thì em không nghĩ như vậỵ Chính em gợi ý cho Lãng soạn một vở tuồng nôm về Chàng Lía, vì theo em, Chàng Lía là kiểu mẫu đẹp nhất cho những người dân nghèo bất khuất, nghĩa là cho tất cả anh em chúng tạ Tại sao chúng ta giống Chàng Lía mà lại sợ Chàng Líả Ta sợ cái gì? Chẳng lẽ ta đã trở thành bọn tham quan bị dân nghèo chán ghét nên phải sợ bóng sợ gió, không dám nhắc đến tên một dân nghèo khởi loạn chống triều đình? (1227) Nguyễn Nhạc xuống giọng giải thích: - Chú nói như vậy vì chú chưa phải gánh vác những việc phức tạp rắc rối như anh (...) Còn anh, chú nhớ cho, anh có đủ mọi loại kẻ thù(...) Anh không ăn ngủ yên nếu kẻ thù tứ phía chưa được dẹp hết. Đã thế, vô tình chú đề cao một mẫu người làm loạn cho bọn kiêu binh đó bắt chước. (1228) Những nhận xét trên cho thấy Nguyễn Nhạc cũng là một người đáo để, có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và thủ đoạn chính trị của một người an bang tế thế. Với quyền hành trong tay, Nguyễn Nhạc dễ dàng bóp chết tham vọng của em ngay từ khi còn trứng nước. Ấy thế mà, dù nghi ngờ, Nguyễn Nhạc tuyệt nhiên không hề nghĩ đến chuyện Nguyễn Huệ sẽ có ngày trở thành kẻ thù không đội trời chung của mình. Ông sai em đi đánh Thuận Hóa, trao cho Nguyễn Huệ một cơ hội vô cùng quý giá: con chim thoát khỏi chiếc lồng. Sau chiến thắng Thuận Hóa, trước không khí bừng bừng của vùng đất văn vật, Nguyễn Huệ bắt đầu tự mình quyết định hướng đi của đất nước và của chính mình. Không làm sao biết được cái nào là yếu tố chính thúc đẩy ông lao về phía trước: tham vọng cá nhân hay vì lòng mong muốn thống nhất đất nước, giải phóng người dân nghèỏ Trong những yếu tố thúc đẩy Huệ, chắc chắn có vai trò của Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh thuyết phục Huệ nhiều lần. Và có lẽ một trong những "luận điểm" lọt lỗ tai Huệ nhất là: "Lẽ thứ nhất là hiện nay, từ nam chí bắc không có ai có tài cầm quân hơn tướng quân (...) Lẽ thứ hai liên quan đến vận hội chung của vương triềụ Tướng quân nghĩ mà xem, vị thế của tướng quân ở đây, sau khi tướng quân toàn thắng quân Xiêm, bắt đầu có điều không ổn. Tướng quân xem thường chuyện danh lợi vụn vặt, nhưng không phải ai ai cũng như tướng quân. Rất nhiều người mong muốn tướng quân mãi mãi là viên tướng biên viễn. Tướng quân càng sáng thì họ càng mờ. Thấy tướng quân khải hoàn, họ dàu dàu nét mặt (...) Nhiều người e dè khép nép với Tướng quân, kính sợ nhưng dè dặt, khâm phục mà xa cách (...) Tôi nói sơ qua, nhưng một người thông minh sắc sảo như Tướng quân chắc đã biết trước mọi điềụ Do đó, tại sao không nhân cơ hội này, Tướng quân lãnh phần trấn thủ Thuận Hóa, dương oai hùm với Bắc hà, bảo vệ giang san cho Hoàng thượng, lại được thỏa thích tùy nghi trong khu vực riêng. Tướng quân vui mà tiểu nhân cũng đỡ phần lo ngại " (1239) Ranh mãnh đến thế thì thôi! Quả thật Nguyễn Hữu Chỉnh đã đi vào tận gan ruột của triều đình mới và tư tưởng, chí hướng cũng như tham vọng của viên tướng trẻ. Không ưa Chỉnh, nhưng rõ ràng trong thâm tâm, chắc Huệ phải nhận rằng Chỉnh đã nói đúng sự thật. Và do đó, ít nhiều, Nguyễn Hữu Chỉnh đã có một ảnh hưởng đáng kể đối với hướng đi sau này của Nguyễn Huệ, dù SCML và lịch sử không đề cập đến. Riêng Huệ, Huệ quá hiểu chủ đích của anh khi sai ông đem quân vượt đèo Hải Vân chiếm Thuận Hóạ Nguyễn Nhạc vẫn nửa đùa nửa thật khoe mình là "người họ ngoại của Chúa Nam Hà". Nghĩa là ông vua mới không có tham vọng nào khác ngoài ý muốn khôi phục giang sơn cũ của chúa Nguyễn hiện đang nằm trong tay họ Trịnh, từ sông Gianh trở vào đèo Hải Vân. Thống nhất đất nước không phải là nhu cầu của Nguyễn Nhạc, cho nên không nằm trong toan tính của ông. Nguyễn Huệ thì khác hẳn. "Không! Không thể được! Hoặc ông ngồi vững trên lưng ngựa, giong cương cho lịch sử đưa xa về phía trước, cho đúng với ước nguyện của mọi ngườị Hoặc ông mù quáng ghìm cương để con ngựa lịch sử hất ông xuống bùn và dày lên trên mà tiến. Ông phải lựa chọn, đúng ra là phải thuận theo cái đà chẳng đặng đừng của thế cuộc" (1325, 1326). Chẳng đặng đừng? Tôi không cho là như thế! Tiến vào Thăng long, lật đổ xong họ Trịnh, ông cảm thấy "ngợp trước thành công, ngợp trước sức mạnh vừa tìm thấy, như một người lần đầu cưỡi một con ngựa khỏe và dữ. Ông đang ngồi ngay tại trung tâm của quyền lực, đang hít thở không khí của một nền văn minh ổn cố lâu dài, nơi mà một hòn sỏi trên lối đi, một gốc liễu trong vườn thượng uyển cũng có một gia phả" (1383). Nguyễn Huệ thụ hưởng cảm giác đó không lâụ Biết tính em, Nguyễn Nhạc vội vàng bay ra bắc để lôi cậu em háo thắng về. Ông anh hiểu rõ những mối hiểm nguy chung đang chờ đợi cái triều đại mà anh em ông vừa mới chiếm được và cũng hiểu rõ cái hiểm nguy riêng nếu ông em tiếp tục tự tung tự tác, chẳng xem chính quyền trung ương ra gì. Huệ sợ anh, trở lại Thuận Hóạ Nhưng chỉ ngang đó. Có lẽ đây là lần cuối cùng, Nguyễn Huệ nghe lời anh mình. Mặc cho anh hờn lẫy, giận dỗi, Nguyễn Huệ quyết định không theo anh vào lại Quy Nhơn - cái lồng mà ông vừa thoát khỏi - kéo theo hầu hết quân tướng dưới quyền cũng ở lại Thuận Hóạ Mầm loạn đã ươm, chỉ đợi ngày lớn dậy! Sau buổi lễ khao quân mừng chiến thắng, Huệ tiễn anh vào lại Quy Nhơn. SCML mô tả rất ngắn gọn, nhưng đầy ý nghĩa, buổi chia tay lịch sử này: "Nhà vua nhìn thẳng vào mắt em. Nguyễn Huệ không tránh, nhìn thẳng vào đôi mắt xoi mói của nhà vua, nói chậm và rõ: - Kính chúc Hoàng thượng thượng lộ bình an. Nhà vua bậm môi không nói gì, quay gót bước về phía cổng. Quan nội hầu chỉ chờ có thế. Qua phất tay ra hiệu, tức thì hai hàng quân hầu đồng loạt tung hô: "Vạn tuế! Vạn tuế!". Cờ đào giương cao hơn, gió đưa cờ phấp phớị Đoàn hầu cận vội bước theo sau nhà vuạ Nguyễn Huệ đi theo sát anh, cách phía sau nhà vua một bước. Nhà vua đến cửa Ngọ Môn. Nhưng thay vì đi bộ một đoạn mới lên kiệu rồng đến bến thuyền cho dân Thuận Hóa được chiêm ngưỡng long nhan, Nguyễn Nhạc sai quan hầu gọi kiệu đến dưới cửa thành... Một lần nữa, dân Thuận Hóa không được xem mặt vua Thái Đức" (1495) Đây là lần cuối cùng hai anh em gặp nhau trong tình gia đình. Sau đó, mọi chuyện không còn như cũ. Lịch sử bước qua một khúc quanh mới, vừa bi vừa hài, khiến mỗi lần nhớ lại, chẳng biết nên buồn hay nên vuị Cho đến lúc này, SCML có đề cập đến những khác biệt giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, thỉnh thoảng một vài tranh cãi, nhưng cuối cùng Nguyễn Nhạc chìu em và ngược lại, Nguyễn Huệ nể anh. Không có một dấu hiệu nào cho thấy hai anh em, chỉ trong một thời gian ngắn sau, trở thành hai kẻ thù một còn một mất. Khi Nguyễn Nhạc vào lại Quy Nhơn rồi, Nguyễn Huệ dứt khoát thái độ: chống lại anh. Tâm trạng của ông em được diễn tả qua độc thoại nội tâm sau: "Ta dừng lại chăng? Ta bằng lòng đứng bên này Lũy Thầy nhìn ra phía bắc như một kẻ ngoài cuộc, để mặc cho Nguyễn Hữu Chỉnh, họ Lê, họ Trịnh, quận Thạc, quận Liễn cùng lũ quan thị xâu xé nhau giữa một đất nước tan hoang? Như vậy bấy nhiêu việc ta làm lâu nay chẳng hóa ra vô ích saỏ(...) Điều đáng tiếc là đúng lúc anh ấy phải mạnh dạn tiến tới, anh ấy lại bảo dừng bên này Lũy Thầy! Thế là thế nào!(...) Thế mà anh ta lại muốn dừng? Một tổ tiên, một phong tục, một tiếng nói, một lịch sử, tại sao lại phải có Lũy Thầỷ" (1499-1501) Dẫu biết vậy, nhưng sao tôi vẫn cảm thấy ngờ ngợ, không hiểu nổi động cơ nào thực sự nằm đàng sau thái độ "chặt cầu" một cách tàn nhẫn của Nguyễn Huệ đối với Nguyễn Nhạc, người đã nuôi nấng, bảo bọc và thương yêu ông từ nhỏ đến lớn, là "quyền huynh thế phụ"? Lý tưởng? Tham vọng quyền hành? Có lẽ cả haị Với một đầu óc tính toán tỉnh táo, trước khi lấy quyết định cuối cùng, Nguyễn Huệ thực hiện một bước trung gian: cử phái bộ vào Quy Nhơn, yêu sách Nguyễn Nhạc một số điềụ Và đúng như Nguyễn Huệ (có lẽ) đã tính toán, Nguyễn Nhạc phản ứng giận dữ. "Phái bộ đến vào lúc nhà vua đang thiết triềụ Tưởng là một bài biểu tạ ơn, nhà vua cho vời sứ bộ vào hỏi han cực kỳ ân cần. Đến khi viên quan bộ Lễ trình tờ biểu lên, nhà vua hoan hỉ ra lệnh tuyên đọc giữa triều để đánh tan các lời đồn đãi ác ý lâu nay về mối chia rẽ trầm trọng giữa Quy Nhơn và Phú Xuân. Viên quan bộ Lễ tuân lê.nh. (...) Các quan văn võ ban đầu còn cung kính chắp tay ngửng mặt để trân trọng đón nghe những lời thân thiện nhún nhường, những tin vui từ vùng biên thùy phía bắc. Được vài câu, họ sợ hãi liếc nhìn phản ứng của nhà vua, rồi họ cúi mặt xuống, nín thở chờ cơn thịnh nô.. (...) Nhà vua chồm về phía trước, chụp tờ biểu xé vụn rồi tung về phía sứ bộ, giọng nói run, lắp bắp vì giận: - Cút đị (...) Quân vô ơn bội nghĩạ Nếu không có ta gầy dựng thì cả lũ bây giờ quá lắm là những tên buôn trầu, những thằng mót củi, làm thuê, chứ đâu được ngồi sập vàng ăn mâm bạc. Thế mà chúng nó không biết nghĩ, dám trở mặt với tạ (...) Hà hà, văn từ cũng khá lắm. Lý lẽ chặt chẽ, lời nói nhún nhường. Láo cả. (...) Nào than phiền Thuận hóa mất mùa liên miên mấy năm không đủ gạo cho dân vào mấy tháng giáp Tết, rồi bắt qua chuyện trấn thủ Quảng Nam không cho thông thương qua đèo Hải Vân để xin được dùng cửa Hội, được đem thuyền vào Quảng Nam mua lúa, được tự do ra vàọ Lính Phú Xuân gốc Quảng được về thăm gia đình. Được miễn thuế cho tàu chở hàng cho Phú Xuân cập bến cửa Hội...Nếu vậy thì giao luôn Quảng nam cho Phú Xuân cho rồi, lấy Hải Vân làm ranh giới chi cho mất công! (1522,1523) Nguyễn Nhạc cho giết sứ bô.. Thật là một cơ hội bằng vàng cho Nguyễn Huê.. Được tin, Nguyễn Huệ nói với Trần Văn Kỷ: "Vụ sứ bộ bị giết ở Trà Câu ông biết rồi chứ? Nay được thêm tin nhà vua đã ra lệnh giam thân nhân các tướng theo ta, và phong tỏa các đường giao thông thủy bô.. Quy Nhơn đang chuẩn bị chiến tranh. Máu chảy ruột mềm, dứt tình nghĩa với nhà vua ta đau xót lắm. Nhưng không có cách nào khác. Kéo dài nhì nhằng như thế này, một là Thuận Hóa sẽ suy sụp vì đói và bị chiếm, hai là...hai là...(...) Ta không ưa bài bạc, nhưng chuyến này ta đánh một ván bài liều lĩnh nhưng có tính toán." (1562,1563) Như thế là, đất nước lúc đó chia hai trên danh nghĩa (là vua Lê ở Thăng Long và Vua Thái Đức ở Quy Nhơn), nhưng chia tư trên thực tế. Bốn trung tâm quyền lực là Thăng Long, Phú Xuân, Quy Nhơn và Gia Đi.nh. Muốn thống nhất thì Phú Xuân phải phá đổ 3 trung tâm quyền lực kiạ Đó là ước vọng của Phú Xuân. Trong bài hịch đánh anh, Nguyễn Huệ dùng những từ như "sài lang", "cẩu trệ" và giải thích hành động của mình "Không có tội nào to bằng tội giết vua, nhưng nếu khinh suất can gián mà không nghe, ắt phải truất xuống, vì là quan hệ đến sự an nguy của muôn đời" (1566, 1567) Thực tình mà nói, dù biết Nguyễn Huệ có lý, và biết rằng chính trị là thế (trong lịch sử, để giành quyền hành, anh em cha con giết nhau là thường), tôi vẫn cảm thấy có gì không ổn, có gì đụng đến lương tâm của mình. Cảm giác của tôi không khác mấy với nhận xét của An với Lãng: "Dù gì đi nữa cũng là anh cả. Sao nỡ dùng những tiếng thậm tệ như vậy để viết hịch?" (...) "còn "quan hệ đến sự an nguy của muôn đời" là cái gì? ra saỏ méo hay tròn? ai mà biết được? Ai thảo bài hịch thật khéo mồm khéo mép?" (1567). An là người ngoài, làm sao hiểu được nội tình bên trong. "Nguyễn Huệ bậm môi chịu đựng gánh nặng trách nhiệm và dọn lòng chờ đón mọi hậu quả" (...) "Ông cũng hiểu động cơ nào thúc đẩy lại bộ Hồ Đồng viết những lời lẽ hỗn xược, nặng nề kể tội vua Thái Đức. Ông đã chụp bút định sửa, nhưng vào lúc chót, ông kịp dừng lạị Khi đã quyết định tấn công Quy Nhơn thì những chữ "sài lang", "cẩu trệ" chỉ là tiểu tiết tối cần để biện minh cho quyết định táo bạo bất đắc dĩ trên kia". Để rồi "Quen với quyết định nhanh chóng, ông ra lệnh phổ biến bài hịch, đồng thời với lệnh trưng binh. Tất cả đàn ông từ mười lăm tuổi trở lên đều phải nhập ngũ. Nhà nào cũng chỉ còn lại đàn bà con nít. Đình, chùa, miếu biến thành trại lính. Thiếu đồng để đúc khí giới và nồi, thì lấy cả những tượng Phật còn lại" (1574) Đạo quân hùng hậu kéo vào Quy Nhơn, bao vây Hoàng đế thành, đắp núi cao để bắn đại bác vàọ Nhiều lần giáp công, nhưng không thành công, quân Phú Xuân bị mất hơn một nửạ Cuộc chiến nhì nhằng cả tháng. Thiếu quân, Nguyễn Huệ phải gọi "nhập ngũ cả những đứa trẻ vừa đủ mười lăm tuổi". Vua Thái Đức tuyệt vọng, ẵm con Nguyễn Huệ lên thành kêu khóc. Nguyễn Huệ lấy thêm đất Quảng Nam rồi rút quân. Bến Ván trở thành sông Gianh, phân chia lại một đất nước vốn chẳng hề nguyên vẹn từ mấy trăm năm. "Ước vọng thống nhất đành phải chịu dang dở". Đến đoạn lịch sử đau buồn này, tác giả Nguyễn Mộng Giác tạm bước ra ngoài thế giới tiểu thuyết, để đưa ý kiến riêng mình. Theo ông, phải xem biến cố "nồi da xáo thịt" là một "điều chẳng đặng đừng" để tiến tới viễn tượng thống nhất. Không nên tìm cách đổ lỗi cho Nguyễn Nhạc. Nguyễn Mộng Giác khẳng định "Tất cả trách nhiệm của biến cố này thuộc về Nguyễn Huệ: một mình Nguyễn Huệ!" (1572). Vì saỏ Vì "Nếu Nguyễn Huệ xứng đáng nhận lấy vinh quang vì can đảm hy sinh cái tiểu tiết để phụng sự đại cuộc, thì chính Nguyễn Huệ cũng phải một mình chịu trách nhiệm về sự yếu đuối của mình. Ông dám bất tuân lệnh vua anh vượt qua Lũy Thầy, nhưng không đủ sức mạnh ý chí và sự lạnh lùng để vượt qua cái lũy vô hình là tình ruột thịt, thanh toán nội bộ sau biến cố quan trọng này, tất nhiên không thể tránh khỏi"(1575). (còn tiếp)
(Tiếp theo) Và tác giả SCML hạ bút "kể tỉ mỉ làm gì những điều vụn vặt ấy!" (1576). Mấy ai ngờ rằng đàng sau những vụn vặt ấy chứa đựng biết bao điều vô cùng lớn lao! * Sau biến cố ấy, Nguyễn Huệ thoát khỏi mọi ràng buộc với anh. Trong các tác phẩm sử, Quang Trung gần như được xem là biểu tượng cho phong trào Tây Sơn, thậm chí là người mở đầu triều đại Tây Sơn. Hào quang chói lọi của ngôi sao Nguyễn Huệ che mờ người cầm đầu phong trào Tây Sơn Nguyễn Nhạc. Không mấy ai để ý đến triều đại vua Thái Đức vốn kéo dài đến 16 năm. Cái chết của ông vua khởi nghiệp này chỉ được đề cập qua loa y như nói về cái chết một viên quan bình thường nào đó 12. Chuyện hai anh em đánh nhau cũng chỉ được nhắc sơ sài trong các tác phẩm sử học chính thức. Có lẽ một số người biên soạn sợ rằng kể lại chuyện đó sẽ làm "xấu đi" hai chữ anh hùng thường dành cho Nguyễn Huệ chăng? Nguyễn Huệ bây giờ là vua một cõi, chấp nhận sự qua phân điều trái ngược hẳn với lý tưởng của ông khi kéo quân ra Bắc lật đổ chúa Trịnh và khi quyết định lật đổ vua anh. "Vương triều mới đã có cương giới, từ Nghệ An vào đến Bến Ván (...) Triều đình có những đòi hỏi về nghi thức. Cung phủ cũng phải dược xếp đặt, tổ chức lạị Năm toà nhà xây cất toàn bằng gỗ quý trong nội cung được cấp tốc sửa sang, trang trí. Vợ con của Chính Bình Vương NH vừa từ Quy Nhơn ra, được đưa đến ở tại toà nhà ở phía nam của vương các ba tầng. Công chúa Ngọc Hân thì dọn vào ở tòa nhà phía bắc. Rồi phải tổ chức đời sống, sinh hoạt bên trong Tử cấm thành cho đúng với phép tắc luật lệ xưa nay của các nơi cung cấm" (1601) Có gì khác nhau giữa Nguyễn Huệ, một tướng lãnh và em vua và Nguyễn Huệ, một ông vuạ Tất nhiên là có khác. Quyền uy hơn. Các quyết định được ban ra nhanh chóng hơn, dứt khoát hơn. Giết sứ bộ Trần Công Xán bằng cách ném xuống biển, giết Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh, giết Lợi, chồng của An, đánh quân Thanh, chìu lụy La Sơn Phu Tử. Chiến lược, chiến thuật rõ ràng, cụ thể hơn và có hướng đi hơn. Nhưng nói chung, không có gì khác mấy đối với nhân vật Nguyễn Huệ về mặt tính tình, nhân cách. Vẫn bình dân. Vẫn có cái suy nghĩ của một tay trí thức thức thời, biết người biết tạ "Viên tướng trẻ 35 tuổi này vừa có sự thâm trầm chín chắn của một người từng trải, lại vừa có cái gan dạ liều lĩnh của một thanh niên, có cái bộc trực của dân lao động, lại có sự tế nhị của kẻ ăn học" như nhận xét của Trần văn Kỷ (1564). Ngoài vai trò bình thường của một ông vua, quan hệ mới lúc này của Nguyễn Huệ là với các nhà nho mà gần gũi và tiêu biểu là Trần Văn Kỷ. Quan hệ đó vừa có vẻ tự tôn mà cũng có vẻ tự tị Tác giả SCML đã tỏ ra sắc sảo khi thể hiện cung cách cư xử của ông vua "trí thức bình dân" với đám nho sĩ thứ thiệt đủ hạng đủ loại thời đó: vừa thuyết phục vừa đối phó, vừa không ưa lại vừa cần. Nói về bản chất của nhà nho, Nguyễn Huệ bảo "...Các ông khôn lắm, khi xăn tay áo lăn ra đời thì dựa dẫm nào Khương Tử Nha, Y Doãn. Khi thua thiệt về vườn thì che giấu thất vọng bằng phú Đào Tiềm, Tô Thức. Người dốt nát như dân áo vải, chân đất chúng tôi ngơ ngác như đứng trước đám khói, không biết các ông phải trái như thế nào nữạ Các ông chịu ra giúp đời, đáng khen lắm, mà các ông khoanh tay ở ẩn, cũng đáng khen nốt. Các ông chiếm hết tiện nghị Khổ cực, chết chóc, lam lũ, lầm than, rốt cuộc chỉ có dân đen dốt nát chúng tôi chịu" (1705). Thật là một nhận xét thâm trầm về một tầng lớp đẵ khai sinh ra và nuôi dưỡng chế độ quân chủ đông phương suốt mấy ngàn năm. Một nhận xét như thế thì không thể nào xuất phát từ miệng lưỡi của một kẻ dốt nát như Nguyễn Huệ tự nhận được! Đó là về nhà nho cổ kim nói chung. Còn đám nho sĩ Bắc Hà thì saỏ Phê phán về cái gọi là sự trung quân của họ, Nguyễn Huệ vạch rõ: "Nhưng cả họ Trịnh lẫn họ Nguyễn là gì? nếu công nhận họ nhà Lê chính thống thì hai họ đó là bọn phản tặc. Hơn hai trăm năm nay, nhà nho các ông đã làm gì chống lại bọn phản tặc đó để vẹn chữ trung với vua Lê chưả (...) Bây giờ họ Trịnh họ Nguyễn bị ta diệt rồi, các ông không biết bám vào đâu nên cố víu vào vạt áo rách của nhà Lê" (1705). Một nhận xét chua chát nhưng không quá xa sự thực. So sánh giữa nho sĩ và quần chúng nhân dân, Nguyễn Huệ nói: "Ta đã quen với cái vẻ tần ngần đăm chiêu, với thái độ dùng dằng của các ông nhà nho lắm rồi" (...) "Thuở khởi nghiệp, các nhà nho không giúp tạ Bao nhiêu năm gian khổ đánh nam dẹp bắc, ta gặp một số nhà nho chết dại như Nguyễn Đăng Trường, Lý Trần Quán, Nguyễn Huy Trạc, số còn lại phần lớn đều giống như Phan Huy Ích, La sơn Phu Tử. Được như ông hay Ngô Thì Nhậm chỉ đếm đủ trên đầu ngón taỵ Nhờ ai mà ta dựng được nghiệp? Càng ngày ta càng thấy rõ: nhờ những anh em đi chân đất, mặc áo vải như ta trước đâỵ Chính họ mới là kẻ quyết định sự an nguy của xã tắc" (1777) Đề cập đến tâm trạng người dân khi tình cờ thấy Vua và đoàn tùy tùng đi ngang, ông suy đoán: "Quả thực ban đầu họ có vẻ ngơ ngác, tò mò thật đấỵ Nhưng sau đó họ dửng dưng. Có lẽ họ tự hỏi "Đám quan nhân nào vậy cà? Gớm, bao nhiêu là người, ngựa! Không biết có dừng lại ở trấn phủ để bắt thêm lính, lấy thêm gạo không? Cầu Trời cho họ đi thẳng" (...) Hồi nhỏ, mỗi lần thấy bọn lính phủ kẻ đao người thước ập vào làng để tróc nã người chưa kịp nộp thuế, ta nghĩ "Giá đừng có bọn vua quan, thì dân sống sung sướng, an vui biết chừng nào". Ta thầm trách anh ta nhận chi cái chức biện lại Vân Đồn. Ông nghĩ mà xem, đến lúc đời này không cần bọn vua quan nữa, ai nấy được ăn trọn hạt lúa mình trồng, con cá mình lưới được, không mất thứ gì. (1706) Hiếm có biết bao! Một ông vua lại đứng về phía dân đen để phê phán chính mình! Đọc đoạn này, tôi có cảm giác Nguyễn Huệ khó có thể làm vua lâu dài được, vì có cái gì bất nhất. Một mặt ông vẫn cho xây cung điện nguy nga, vẫn hãnh diện khi lấy được công chúa con vua Lê, một mặt ông vẫn sống trong tâm trạng của những người dân thấp cổ bé miệng, thời nào cũng bất mãn vì bị bóc lột để nuôi sống đám vua chúa, quan lạị Có lẽ ông vừa mới làm vua, lý tưởng còn đầy mình, chưa nhập hẳn được vào đời sống vương giả. Dường như những người thuộc giai cấp lớp dưới, xuất phát từ các cuộc cách mạng gọi là nông dân, đều có thái độ chênh vênh đó khi mới nắm được quyền trong taỵ Chân tay chưa sạch mùi bùn đất, đầu óc chưa kịp chuyển đổi từ dân lên quan, cuộc sống chưa thấm mùi vị ngọt ngào của tiền tài và danh vọng, nên trong giai đoạn trung chuyển này, họ rất đẹp. Nhưng kinh nghiệm lịch sử cho thấy thường thì giai đoạn này kéo dài không mấy lâu! * SCML là tiểu thuyết, viết về con người và về cuộc đời trong giai đoạn nhiễu nhương của đất nước, không trình bày một phản- Nguyễn Huệ, phía tiêu cực, cũng không nhằm vinh danh sự nghiệp của triều đại Tây Sơn nói chung và sự nghiệp Nguyễn Huệ nói riêng. Nhân vật đó được trình bày dưới góc độ của một con người bình thường, một nhà trí thức băn khoăn trước thời cuộc ngã nghiêng, muốn làm một cái gì cho đất nước. Tác phẩm mở đầu với cảnh gia đình ông giáo Hiến tìm đường đi "tị nạn" và chấm dứt trong cảnh nhiễu nhương khác của một đất nước qua phân lần thứ hai, sự nhao nhác của người dân dưới một triều đại mới còn lúng túng, chưa tìm thấy con đường phải đị Tôi cho rằng chính cái lòng xót thương thân phận con người trong cuộc nhiễu nhương đã tạo nên SCML chứ không phải từ cái oai hùng của một nhân vật lịch sử mà nói thêm thì không phải là thừa nhưng chưa chắc đã cần thiết khi tác giả muốn xây dựng một nhân vật tiểu thuyết. Phan Cự Đệ nhận định: "Thông điệp của SCML là lòng xót thương trước thân phận thất thế, lỗi thời của những người trí thức nho học trong thời loạn (ông giáo Hiến), trước cảnh ngộ bất hạnh của người đàn bà trong chiến tranh, trong thời kỳ tranh chấp giữa các thế lực phong kiến, người ta coi phụ nữ như một món hàng để đổi chác, mua bán về chính trị" (An, Thọ Hương)". Ở đoạn sau, ông nhẹ nhàng phê phán "Tuy nhiên hai cảm hứng phê phán và nhân đạo chủ nghĩa quá mạnh mẽ nên cảm hứng sử thi có bị lu mờ đi, ta có cảm tưởng nhà viết tiểu thuyết tập trung cho cái "vi mô" nên chưa đầu tư đúng mức cho cái "vĩ mô"" (...) Có người nói cái thông điệp của bộ tiểu thuyết lịch sử SCML đối với thời hiện tại không thật rõ"13. Ý kiến của tác giả Nguyễn Mộng Giác có vẻ như không khác mấy với nhận định trên khi thú nhận với Nam Dao trong một cuộc thảo luận tay đôi: "Cho nên thú thực với anh là trước khi viết SCML, tôi không có một "thông điệp" nào rõ ràng để gửi đi cả" (...) Nhưng càng tìm đọc tài liệu sử, càng thấy hấp dẫn, càng thấy con người trong thời loạn, nhất là giới nho sĩ, sao mà đáng thương. Có thể nói "thông điệp" của SCML là lòng xót thương đó. Một thông điệp mơ hồ, vô bổ, và yếu xìu" 14. Vâng, lòng xót thương nào mà chẳng yếu xìủ! Nguyễn Mộng Giác khiêm tốn? Có lẽ. Riêng tôi là người đọc, tìm thấy nhân vật Nguyễn Huệ chứa đựng một "thông điệp" ngầm khác. Có lẽ trừ khuôn mặt không đẹp trai (tóc quăn, mặt đầy mụn), Nguyễn Huệ hầu như là một con người toàn bích và lý tưởng: đã có học, có đầu óc cải cách, có tài năng bao trùm nhiều lãnh vực lại nhân hậu, đầy tình nghĩa với thầy, với bạn, với kẻ dưới, với người yêụ Trừ chuyện tranh chấp với người anh, Nguyễn Huệ của SCML hầu như không có một khuyết điểm nàọ Chính điểm này, theo tôi, nhân vật Nguyễn Huệ được tác giả đưa lên cao hơn hẳn cả một Nguyễn Huệ lịch sử. Ngay cả lúc quyết định chống lại người anh, Nguyễn Huệ như "chẳng đặng đừng", không có vẻ gì của một con người không giữ đúng đạo vua tôi thời phong kiến, lại cũng không có vẻ gì là sự "vô đạo" của một người em. Cái gì khiến ông không bị ám ảnh vì tội lỗỉ Điều này được giải thích: ý chí thống nhất đất nước! Đó có phải là lý do khiến đời sau người ta chỉ nhớ đến Quang Trung anh hùng và quên đi cuộc chiến đau thương giữa hai anh em, mà người chủ động là Nguyễn Huệ? Đáng buồn hơn nữa, rốt cuộc, chính Nguyễn Huệ phải chấp nhận sự qua phân, một qua phân trong một đất nước đang qua phân. Thành thử, ngược hẳn với nhận xét cho rằng, Nguyễn Huệ trong SCML bình dân, gần gũi, không oai vệ "coù những tình cảm vui buồn, nói năng hành xử theo tâm lý bình thường như chúng ta" như Phan Cự Đệ nhận xét - , tôi lại thấy Nguyễn Huệ thật đáng sợ vì "tầm cao tư tưởng" của người thanh niên nông thôn nàỵ Tư tưởng của ông vượt ngoài thời đạị Chưa bước chân ra khỏi "lều cỏ", ông đã nhìn thấy những vấn đề chính trị lớn của đất nước. Ra khỏi lều cỏ rồi, trực tiếp cầm quân, tư tưởng của ông lại càng thực tiễn mà sâu, nhìn đâu cũng thấy rõ bản chất của sự việc, sự vật, của từng người, từng nhóm người và nhờ thế, luôn luôn có những quyết định đúng đắn, hợp lúc, hợp thời đưa đến những thắng lợi lúc nào cũng ngoạn mục. Kiến thức đặc biệt đó từ đâu mà có? SCML (cũng như các tài liệu lịch sử) không đề cập đến. Nhưng sự nghiệp của Nguyễn Huệ có phải chỉ do tài năng và tư tưởng không? Không. Còn có may mắn. Theo tôi, một trong những may mắn lớn nhất của Nguyễn Huệ, đó là ông có một ông anh, tuy nhiều thủ đoạn nhưng ngây thơ về mặt chính tri.. SCML cho ta một hình ảnh khá chi li về Nguyễn Nhạc trong quan hệ lừng khừng với người em xuất chúng của mình ngay từ những ngày đầu khởi nghĩạ Sớm biết Nguyễn Huệ không dễ gì dễ bảo, nhưng vẫn dung dưỡng. Nhưng có thể nói, có lẽ vì ông quá tin vào tình nghĩa anh em ruột thịt. Nếu ông biết kềm chế ông em ngay từ lúc đầu thì đâu có đến nỗi có ngày phải bồng con lên năn nỉ đứa em. Thậm chí, ngay sau khi kéo Nguyễn Huệ từ Thăng Long về, ông vẫn có thể khôn ngoan tước lấy binh quyền của Nguyễn Huệ bằng cách mang em vào lại Quy Nhơn. Chấp nhận cho Nguyễn Huệ ở lại Thuận Hóa với cả một đạo quân hùng mạnh như thế thì tài nào mà Nguyễn Huệ không có lúc thay lòng, nhất là khi mà người em vừa đầy tài năng lại chẳng thiếu gì tham vo.ng. Giận em, ông anh chỉ biết lẫy, hờn rồi...thôị Để lúc cùng đường, cũng biết xử dụng một thủ đoạn rất là "Lưu Bị" để thoát hiểm: khóc. * Kết từ SCML có phần Kết Từ. Nói là kết từ, nhưng khá dài dài một cách bất thường -, gồm 5 chương với gần 100 trang, từ trang 1911 đến trang 2004. Nguyễn Mộng Giác cho biết: "Anh đọc kỹ chắc thấy Phần Kết từ của SCML đầy cả lòng xót thương. Dấu vết của một thời loạn ly trong truyện của tôi đó" 15. Có lẽ chính đoạn kết từ này đã khiến cho nhiều người cho rằng SCML không đưa ra một thông điệp rõ ràng. Thay vì trình bày khung cảnh tươi vui của một xã hội đang phấn khởi xây dựng đất nước dưới triều đại mới, thì ở đây, SCML vẽ nên một bức tranh hoàn toàn khác: xao xác, hãi sợ, mất phương hướng. Phần đầu tác phẩm, gia đình ông giáo từ biệt Phú Xuân ra đi trong cơn loạn lạc. Trong phần Kết Từ, cô con gái của ông giáo cũng lại từ biệt Phú Xuân ra đi trong cơn loạn lạc. Kết Từ rời bỏ khung cảnh tranh chấp chính trị, không khí vương quyền, những tính toán chính trị lớn lao, sự tranh chấp quyền lực giữa những con người mới nhô lên trên sân khấu lịch sử, đưa ta về với khung cảnh đời thường của những người dân thấp cổ bé miệng (và dưới triều đại mới vẫn là thấp cổ bé miệng) vẫn còn sống trong ly tán, loạn lạc với những đau khổ, bất hạnh, thao thức triền miên. Muôn năm, dân vẫn cứ là dân! Mà quan thì vẫn cứ là quan. Hễ có quyền trong tay, dù xuất thân từ tầng lớp nào đi nữa, là người ta trở thành quan. Lẽ ra, tôi không đề cập đến phần Kết Từ vì trong đoạn này, nhân vật Nguyễn Huệ không còn nữạ Thực ra, nhân vật Nguyễn Huệ vẫn còn đó, nhưng dưới một dạng khác. Ông vẫn hiện diện, bàng bạc có mặt suốt cả mấy chương qua những phẫn hận của An, những băn khoăn và cảnh ngộ éo le của Lãng, người bạn cũ và đặc biệt ảnh hưởng ghê gớm của Chiếu Khuyến Nông trên đời sống xã hội và cá nhân. Có thể nói, phần Kết Từ không có nhân vật Nguyễn Huệ nhưng đầy cả Quang Trung. Ở đây, nhân vật Nguyễn Huệ là một "đấng" quyền uy, ở "ngôi cao vòi vọi", chỉ biết ban, phát và ra lê.nh. "Hỡi các thần dân! Các người đều phải trông lên thể theo đức ý của Trẫm, về nơi quê quán, chăm sóc ruộng vườn. Đừng lười biếng làm hại sinh kế, đừng trốn tránh giấu giếm để mắc tội lỗị Cái vui giàu thịnh, Trẫm sẽ cùng trăm họ chung vuị Hãy nghiêm chỉnh tuân theo, không được trái lịnh" (1948). Cho nên từ lúc thực hiện các điều ban hành trong Chiếu Khuyến Nông, khắp Phú Xuân và vùng phụ cận đều lên cơn sốt. Ai cũng tìm cách vào cho được chính hộ bằng bất cứ cách nào, Lãng viết đơn thuê không kịp (1963). Lãng giúp người ta, nhưng anh ở trong trường hợp ngoại lê.. "Cho đến lúc này, anh vẫn công nhận bài chiếu hoàn toàn hợp lý. Anh thuộc vào trường hợp ngoại lê.. Sự hữu ích của anh đo lường bằng những tiêu chuẩn trừu tượng như là lòng chân thật, sự liêm khiết, đức nhân ái, lối sống chí tình với những điều mình tin tưởng, khát vọng đi tìm cái tuyệt đối...Những tiêu chuẩn đó không được ghi trong bài Chiếu Khuyến Nông. Không nghề nghiệp, nhà cửa, vợ con tức là du thủ du thực. Đơn giản thế thôi!" (1966) Những người thân của Nguyễn Huệ bây giờ là những thân phận bọt bèo trôi nổị Lãng bị chính cái chiếu Khuyến Nông quái ác biến thành kẻ vô gia cự "Lãng về đến Phú Xuân đúng lúc cuộc kiểm tra dân ngụ ở các thôn xóm lên đến điểm gắt gao nhất. Không ai dám chứa chấp người lạ vào ban đêm, dù là bà con thân thuộc. Các chức dịch sợ bị liên lụy phải bỏ tiền ra thuê bọn trẻ con để chúng báo cho biết ngay những kẻ cư ngụ bất hợp pháp. Những gia đình láng giềng kình cãi nhau, ban đầu từ những chuyện vụn vặt như gà bươi luống cải, heo ủi hàng giậu về sau kết thúc bằng trò tố cáo nhau là dân ngụ cư nhập tịch chưa đủ ba đời, là kẻ man khai gốc tích để trốn tránh sưu dịch...Lãng không dám ở Phú Xuân lâụ Anh đã trở thành dân lậụ An nói đúng. Quan trên có thể đóng gông anh bất cứ lúc nàọ Một đứa trẻ con cũng đủ sức đưa anh vào tù" (1978). Ấy thế, mà Lãng vẫn tiếp tục bênh vuạ Thấy vậy, An tức giận: "Em không thấy thiên hạ dắt díu nhau từng đàn tưng lũ, quần áo lếch thếch, đoí khát, nheo nhóc, mỗi ngày đổ về đây mỗi nhiều hay saỏ Em cũng bị xua đuổi y như ho.. Chẳng lẽ em chạy trốn nhục nhã như vậy để rồi vừa tìm được chỗ dừng chân, lấy lại hơi thở, em liền lớn tiếng ca tụng kẻ đã xua đuổi em hay saỏ " (1974). Ta thấy rõ sự trật trệu giữa chính sách và việc thực hiện, giữa "đại mộng" và "tiểu mộng", giữa tình riêng và nghĩa chung. Đồng thời ta cũng thấy cái trật trệu giữa những gì được xem là vĩ đại, hiển hách và nỗi đau thường ngày, sự cách biệt tàn nhẫn giữa vĩ mô và vi mô, giữa những gì gọi là "biến cố lịch sử" và những gì gọi là cuộc đờị Nói khác đi, đàng sau các chiến công bao giờ cũng ẩn dấu những bi ki.ch. Nhân dân bở hơi tai với Chiếu Khuyến Nông chưa xong thì lại tiếp nhận một chiếu khác: trưng binh. Lại chiến tranh! Toàn xã hội xao xác, nơm nớp, không biết số phận mình sẽ đi đến đâụ "Bây giờ theo lệnh của Hoàng đại huynh, Trẫm sẽ thân chinh cầm đại quân theo hai đường thủy bộ vào dẹp giặc (...) Trẫm kêu gọi nhân dân lớn nhỏ hai phủ hãy ủng hộ hoàng gia, trung thành với Hoàng đại huynh, chờ đợi quân ta vào quét sạch Gia Định, lấy lại đất về ta (...) Để cho đại quân của ta tiến vào được dễ dàng, các xã dân hai phủ ở dọc bên đường hành quân hãy kíp sửa sang cầu cống. Lệnh này truyền tới, nhân dân hãy vâng theo ý Trẫm" (1983). "Bài hịch vừa loan truyền thì Bến Ván rúng đô.ng. Người ta dẹp cả buôn bán làm ăn, khép cửa nhà lại, đổ ra đường tụm năm tụm ba bàn tán nhaụ Nét mặt ai nấy đều dáo dác lo âụ (...) Bến Ván lịm đi vì sợ hãị Mọi người hồi hộp chờ đợị Chờ đợi...(...) Hôm sau, Bến Ván biết tin vua Quang Trung vừa băng hà hôm 29 tháng 7, và đạo quân Phú Xuân vừa từ chợ Cầu Ông Bộ vào đây có phận sự đề phòng chận trước các ý đồ xấu của Quy Nhơn. Vua Thái Đức định ra Phú Xuân dự đám táng vua Quang Trung đã bị chận lại, tại đây!" (1984) Cái chết của Nguyễn Huệ quả là một "nỗi buồn lịch sử"! Ấy vậy mà nhìn ở một góc độ khác, nó có cái hay của nó: nhờ thế mà ta còn giữ được hình ảnh Nguyễn Huệ nguyên vẹn như ngày hôm naỵ Theo tôi, đó là cái may mắn thứ hai của Nguyễn Huê.. Ông đã sống trong vinh quang và chết trên đỉnh vinh quang. Chết trước khi (có thể) phạm những sai lầm. Nếu ông còn sống, tôi không mấy hy vọng ông lấy lại được lưỡng Quãng 16, nhưng với tài năng đó cộng thêm may mắn, có phần chắc là ông sẽ thống nhất được đất nước. Để được như thế, ông khó mà tránh phạm phải tội giết anh. Nhưng lại có nhiều cái "không chắc". Không chắc gì ông sẽ trở thành một Minh Trị Thiên Hoàng: với đầu óc cực đoan, không chắc gì ông sẽ mở cửa chào đón phương Tâỵ Do đó, không chắc gì ông sẽ không cấm đạo 17. Với quyền hành tuyệt đối, không chắc gì ông giữ mãi được phẩm chất của một người anh hùng "áo vải". Đó là chưa nói đến những người thừa kế. Và nếu được sống dưới triều đại của ông, không chắc gì chúng ta sẽ vui vẻ mà đeo thẻ tín bài, vui vẻ chấp nhận cái cảnh "Tất cả đàn ông từ mười lăm tuổi trở lên đều phải nhập ngũ. Nhà nào cũng chỉ còn lại đàn bà con nít. Đình, chùa, miếu biến thành trại lính. Thiếu đồng để đúc khí giới và nồi, thì lấy cả những tượng Phật còn lại" 18. Xin ghi lại đoạn đối thoại cuối cùng của nhân vật Nguyễn Huệ trong SCML (trước phần Kết Từ) để kết thúc bài viết khá dài này (mà phần lớn là do trích dẫn): Lãng chợt nhớ đến lễ khao quân ở Quy Nhơn, lúc Nguyễn Huệ vừa thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm, Xoài Mút khải hoàn về Hoàng đế thành. Lòng Lãng rộn lên. Anh cố trấn tĩnh, rụt rè đề nghị với nhà vua: - Tâu Hoàng thượng, có nên cho quân sĩ xem hát tuồng không? Nhà vua chợt nhớ, vui vẻ nói: - Phảị Ta quên mất. Có đội Giáo phường theo quân mà! Nhưng...diễn tuồng gì? Lãng bối rối, ngập ngừng, rồi đánh bạo nói: - Tâu Hoàng thượng...cho diễn tuồng Chàng Lía được không ạ? Đột nhiên vua Quang Trung sa sầm nét mặt. Giọng nhà vua gắt gỏng: - Cậu nói gì thế? Gian khổ lặn lội ra tận chốn văn vật ngàn năm này, chẳng lẽ... Nhà vua ngưng lại ở lưng chừng, vì đúng lúc đó, Trần Văn Kỷ bước vào điện (...) Thấy nét mặt vua Quang Trung vẫn còn vẻ bực dọc, Trần Văn Kỷ bỡ ngỡ, liến nhanh về phía Lãng. Lãng không dấu được vẻ sượng sùng hối tiếc. Cả ba người đều cảm thấy khó xử"(...) "Lãng tự cảm thấy thừa thãi, quỳ lạy xin luị (...) Lãng cúi đầu lủi thủi ra khỏi điện Kính Thiên. Từ đó đến khi về Phú Xuân, Lãng không được gặp nhà vua lần nào nữa" (1907) Có lẽ lúc này Nguyễn Huệ mới thấm thía lý do tại sao trước đây ông anh Nguyễn Nhạc không cho trình diễn vở tuồng Chàng Lía: "Không phải không có lý khi từ xưa đến nay, các triều đình chỉ cho hát tuồng ca tụng tôi trung, con hiếu, vợ hiền, nghĩa là ca tụng sự ngoan ngoãn, phục tùng. Không có ông vua nào dại dột ca tụng những tên nổi loạn" (1228) Hỡi những Chàng Lía yêu mến, hãy nổi loạn và nếu cần, hãy chiến thắng nhưng đừng bao giờ trở thành vua! TRẦN HỮU THỤC 18/1/2003 5/4/2004 Chú thích: 1 "Lịch sử nội chiến ở Việt Nam", Tạ Chí Đại Trường, An Tiêm, 1991. 2 Lấy lại từ Website "Đặc Trưng" phần truyện 3 Mùa mưa gai sắc, Trần Vũ, Hợp Lưu số 4, tháng 4/1992 4 "Gió lửa", Nam Dao, nxb Thi Văn, Canada 1999 5 "Sông Côn mùa lũ", Nguyễn Mộng Giác, nxb Văn Học, Hà Nội 1998 6 "Tiểu thuyết lịch sử", Phan Cự Đệ, Văn Học số 203&204, tháng 3&4/03 từ tr. 4 - 31 7 "Sông Côn mùa lũ, một bộ tiểu thuyết công phu", Nguyễn Khắc Phê, tạp chí "Sông Hương" số 134 tháng 4/2000, tr.87- 89. 8 Phan Cự Đệ, bài đã dẫn. 9 Anh em ông "trò chuyện, kẻ hỏi người đáp cực kỳ ôn tồn y như anh em các nhà thường dân"(Hoàng Lê nhất thống chí) 10 Đỗ Minh Tuấn, trang bìa sau "Sông Côn mùa lũ" 11 Từ đoạn này đến cuối bài, những con số nằm trong ngoặc là để chỉ số trang của SCML 12 Nguyễn Nhạc chết như thế nàỏ Xin trích lại đây một vài chi tiết về cái chết của người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn mà có thể nhiều người không biết hoặc không để ý: Cuối năm 1993, quân Nguyễn Ánh đánh thủ đô Chà Bàn. Vua Nguyễn Quang Toản cử tướng Phạm Công Hưng vào cứu viện. "Quân cứu viện đến trước thành thì thấy cửa đóng. Họ lên tiếng đe dọa thì Nguyễn Nhạc nhắm không đủ sức giữ nổi nữa nên đã mời họ vàọ Tiếp sau đó là những cử chỉ nhường nhịn giả dốị Nhạc tuyên bố nhường ngôi lại và chỉ muốn sống như người thường thôị Ban đầu họ không nhận, mời ông lên lại ngai ngồi để họ lạy, nhưng ông từ chốị Vài tháng sau (13-12-1793), ông mất đi, người ta nói "vì buồn rầu và xấu hổ". Nguyễn Bảo, con Nhạc được phong làm Hiếu công, ăn lộc huyện Phù Ly (Lịch sử nội chiến ở Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường, tr. 278) - Bọn Phạm Công Hưng giải vây được rồi, kéo quân vào thành Quy Nhơn, chiếm giữ lấy thành trì và tịch biên cả các kho tàng. Nguyễn Nhạc thấy vậy, tức giận đến nỗi thổ huyết ra mà chết. Ông làm vua được 16 năm. (Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim) - Bọn Phạm Công Hưng giải vây cho thành Quy Nhơn xong thì vào lấy hết kho tàng và ra mặt chiếm đóng thành khiến vua Thái Đức uất lên, hộc máu ra mà chết. (Nguyễn Nhạc làm vua được 16 năm) (Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn) 13 Phan Cự Đệ, bài đã dẫn. 14 Tạp chí Văn Học, số 197, tr. 14 15 Tạp chí Văn Học, số 197, tr. 10 16 Lưỡng Quảng gồm Quảng Đông và Quảng Tây lớn hơn Việt Nam cả về diện tích lẫn dân số. Theo số liệu thống kê năm 1993, cả hai tỉnh có tổng diện tích gần 420.000 km2 (Quảng Đông: 179.700km2, Quảng Tây: 240.000 km2) và dân số hiện nay khoảng 105 triệụ Giả sử nếu chiếm được lưỡng Quảng và sáp nhập vào lãnh thổ VN, chắc không có chính quyền VN nào, dù mạnh nhất, đủ sức cai tri.. 17 Vua Cảnh Thịnh đưa ra sắc lệnh bài đạo ngày 17/8/1798, có đoạn viết: "Xét rằng kiến thức điều khiển quốc gia đều gồm trong tam cương ngũ thường (...) trong khi đạo Hoa lang lại đầy mê tín, dối gạt dân chúng và đảo lộn trật tự xã hội" (dẫn theo Tạ Chí Đại Trường, sđd, tr. 309) 18 Nhận xét tổng quát về cách trị dân của Tây Sơn, Tạ Chí Đại Trường viết: "Quân tướng Tây Sơn trong vai trò chủ động nắm vận mệnh của vùng đất họ chiếm cứ cũng tung hết khả năng trong một cố gắng cùng cực để biến đổi xã hội đang cuốn hút họ theo một khuynh hướng thoái tràọ Những biện pháp mạnh mẽ đã tung ra để bảo đảm thi hành cải cách hầu như đều có kèm với sự phô trương quân lực. Triều đại Tây Sơn, do đó, có bản chất quân phiệt và chỉ có thể tồn tại bằng chế độ quân chính của họ thôị Thực ra đám võ tướng cũng chứng tỏ được họ là những người kiểu mẫu của thời đại mớị Kiêu căng, quen dùng uy quyền đàn áp, họ khiến cho những người Anh đến thăm năm 1793 phải phàn nàn cho đời sống của người dân. Nhưng phái bộ Macartney cũng phải công bình mà nhận rằng bọn võ tướng ít hư hỏng hơn bọn quan văn. Thêm một chứng cớ rằng bên dưới sự thanh liêm tương đối của quân đội, có một tình trạng suy đồi xã hội mà những sức phản kháng tiềm tàng có thể lợi dụng được. Nhưng bọn võ tướng từng vào sanh ra tử vốn chỉ chịu phục tòng người chỉ huy của họ thôị Nguyễn Huệ cùng trưởng thành với họ, với thiên tư, với tài năng, đã cai trị họ cũng như thần dân dưới quyền "bằng sức mạnh của khiếp phục. Do uy quyền đó mà Nguyễn Huệ đã thi hành những cải cách có khi động chạm đến cả đời sống tinh thần của dân chúng như khi tiếp tục thi hành "phụng truyền" của Nguyễn Nhạc sai phá các chùa chỉ chừa mỗi tổng một ngôi mà thôị(Tạ Chí Đại Trường, sách đã dẫn, tr. 275, 276)
QUANG TRUNG ÐẠI ÐẾ SỰ NGHIỆP CHUNG VÀ TÌNH CẢM RIÊNG NGUYỄN AN PHONG Bình Định, cái nôi phát khởi của phong trào Tây Sơn, thế đất lớn của dân tộc. Vào hậu bán thế kỷ thứ 18, do khí thiêng sông núi của vùng đất địa linh nhân kiệt kết tụ thành, đã sản sinh và hun đúc nên một bậc anh hùng kiệt xuất Quang Trung Ðại Ðế. Ngài đã tung hoành từ Nam ra Bắc, nối liền ba miền đất nước từ Gia định cho đến Phú xuân và Thăng long, thành một quốc gia thống nhất đầu tiên. Bình Định, rải rác đó đây khắp tỉnh đều có dấu ấn sâu đậm và những di tích lịch sử của nhà Nguyễn Tây Sơn. Ðặc biệt là Hoàng đế thành của vua Thái Ðức Nguyễn Nhạc, ngôi nhà lá nhỏ ở thôn Kiên mỹ, Bình khê, bên cạnh bờ sông Côn, nơi ba anh em Tây Sơn đã chào đời vào năm 1753, và bến Trầu, nơi mà Nguyễn Nhạc đã đón đưa khách trong những chuyến đi buôn lịch sử của cái thời hùng khí Tây Sơn còn đang tiềm ẩn. Ở Phú lạc, hiện còn một cái đình nhỏ do dân Bình khê dựng lên để thờ ba anh em Tây Sơn và trong công viên, vẫn còn cây me cổ thụ và giếng nước lâu đời, là chứng tích quê hương ngày thơ ấu của vị anh hùng dân tộc. Cây me, giếng nước, bến Trầu vẫn tồn tại với nắng mưa và hưng phế của thời gian như một niềm thủy chung qua bao đời của toàn dân Bình Định. Cây me cũ, bến Trầu xưa Không nên tình nghĩa, thì cũng đón đưa cho trọn niềm Quang Trung Ðại Ðế đã gắn liền với địa danh Tây Sơn, và Tây Sơn vĩnh viễn ngàn đời vẫn là niềm kiêu hãnh vô biên của con dân Bình Định và của toàn dân tộc Việt Nam. Ai về Bình Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền Bình Định có nhiều sông và núi, phải chăng vì núi không cao và sông không sâu nên Bình Định đã phát về võ mạnh hơn là phát văn. Nói như thế, không có nghĩa là Bình Định không có văn tài, một ông tổ hát bội Bình Định Ðào Tấn, một Quách Tấn, một Hàn Mặc Tử, rồi một Võ Phiến, một Nguyễn Mộng Giác và một Tạ Chí Ðại Trường v.v... như là những ngôi sao lạ sáng chói trong vòm trời văn học Việt Nam. Quang Trung, người của lịch sử, một bậc anh hùng cái thế sống giữa hào quang rực rỡ của chiến thắng. Ðó không phải là điều để chúng ta bàn luận. Nhưng, nhân ngày kỷ niệm lấn thứ 207 Quang Trung đại thắng quân Thanh, chúng ta cùng nhau ôn lại cuộc tiến công thần tốc, chiến tích bình Thanh và sự nghiệp xây dựng đất nước của Ngài như ôn lại một niềm hãnh diện và tự hào của dân tộc và đồng thời cũng để rút ra những bài học đoàn kết trong giai đoạn đánh đuổi ngoại xâm và xây dựng đất nước trong giai đoạn hòa bình. Nhắc nhở giai đoạn lịch sử vẻ vang và oanh liệt này, vì nó đã gắn liền một cách sâu đậm với dòng sinh mệnh của dân tộc. Chúng ta, chỉ muốn soi rọi thêm một chút ánh sáng vào một thời kỳ huy hoàng nhất, nhưng cũng ít được biết nhất trong dòng lịch sử cận đại vì chính sách trả thù nhỏ nhen của triều Nguyễn Gia Long. Họ đã thủ tiêu, tận diệt, bôi xóa, vùi dập và bưng bít toàn bộ di tích, di liệu và sử liệu của nhà Nguyễn Tây Sơn. Ước gì mỗi năm các hội Ái hữu Ðồng hương Bình Định hay các sinh viên ban Cao học, Tiến sĩ các đại học, chọn một góc cạnh nào đó của phong trào Tây Sơn để làm chủ đề cho Ðặc san Xuân của hội hoặc làm đề tài nghiên cứu cho luận án sử học, như anh Yokimoto, một sinh viên của trường đại học Ðông kinh ở Nhật bản, cách đây hơn mười năm đã xin chiếu khán đáp máy bay xuống Việt Nam và tìm đến gò Ðống Ða, để tận mắt chiêm ngưỡng và nghiên cứu, làm thế nào mà đại đế Quang Trung lãnh đạo quân dân Việt Nam, chỉ mất có 10 ngày đã phá tan 40 vạn quân Thanh, quét sạch bọn chúng ra khỏi bờ cõi Việt Nam. Quang Trung đại đế mất đi, một mất mát to lớn của triều đại Tây Sơn và của cả dân tộc không lấy gì bù đắp. Ngài mất đi như một ngôi sao sáng của vòm trời Việt Nam vừa chợt tắt, hoài bão xây dựng đất nước phú cường và đòi lại đất 7 châu ở Hưng hoá đành phải bỏ dở dang, để lại muôn vàn khó khăn cho hậu thế. Núi sông còn đó, con cháu của Ngài còn đây, hãy vững niềm tin nhìn vào con đường trước mặt, vì những tấm gương anh hùng thời nào cũng có, họ sẽ nối bước Quang Trung mà xả thân hy sinh cho tiền đồ dân tộc. Lịch sử đang chuyển mình, những Quang Trung thời đại rồi đây sẽ xuất hiện. Quang Trung là một anh hùng cái thế trong lịch sử. Ðó không phải là điều để bàn luận... Vậy, chúng ta thử lạm bàn xem về cái tình cảm riêng của vị anh hùng dân tộc có một không hai trong lịch sử Việt Nam, bằng những phát kiến mới về lăng mộ, về những con người và về những bà phi của Ngài. Với quan niệm đa thê của người xưa, vua chúa thường có nhiều cung phi, nên Quang Trung cũng không ra ngoài cái thông lệ ấy. Nhưng nếu chúng ta tìm thấy thêm một số bà phi của Ngài thì sẽ cảm thấy thích thú và ngạc nhiên hơn, nhưng không nỡ hẹp hòi mà chê trách. Là một vĩ nhân thường thì có cuộc sống rất phi thường và trong tình cảm thì cũng có lắm vấn đề như đa tình, lãng mạn v.v... Nhưng với Quang Trung có một điều làm cho chúng ta thán phục là Ngài đã lập lên hai Hoàng hậu là Chánh cung Hoàng hậu Phạm Thị Liên (theo Nhà Tây Sơn của Quách Tấn), và Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Ngoài ra, Ngài còn ngỏ ý cầu hôn với công chúa nhà Thanh của Trung quốc. Trong sử sách chỉ ghi lại Quang Trung có hai người vợ là: CHÁNH CUNG HOÀNG HẬU HỌ PHẠM Không ai biết được Nguyễn Huệ lập gia đình năm nào, nhưng chỉ biết rằng suốt trong chặng đường đánh Nam dẹp Bắc, vì dân vì nước, Ngài đã có một người vợ họ Phạm quê ở Bình Định, là anh em cùng mẹ khác cha với Thái sư Bùi Ðắc Tuyên và quan Hình bộ Thượng thư Bùi Văn Nhật. Theo Tây Sơn Tiềm Long Lục thì Nguyễn Huệ lấy bà họ Phạm năm 16 tuổi, đến năm 1789 thì được phong làm Hoàng hậu (30 tuổi). Bà chính cung họ Phạm có với Nguyễn Huệ ba trai và hai gái là Quang Toản được phong làm Thế tử, Quang Bàn được vua Cảnh Thịnh phong làm Tuyên công lãnh Ðốc trấn Thanh hoá và Quang Thiện được phong làm Thái tể. Còn hai người con gái thì một người đã gả cho phò mã Phan Văn Trị và một người nữa gả cho Nguyễn Phước Tư, có liên hệ xa gần với Nguyễn Ánh, ông là cháu sáu đời của Nguyễn Uông anh ruột của chúa Nguyễn Hoàng. Sau một cơn bạo bệnh năm 1791, bà chính cung từ trần và chôn dưới chân núi Kim Phụng, cạnh thành phố Huế. Ðược suy tôn miếu hiệu là: "NHÂN CUNG ÐOAN TĨNH TRINH THỤC NHU THUẦN VŨ HOÀNG CHÍNH HẬU" BẮC CUNG HOÀNG HẬU LÊ NGỌC HÂN: Mùa hè năm 1786 lấy danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh, Nguyễn Huệ đánh chiếm Phú xuân và mang lại một nền thống nhất quyền hành cho vua Lê Hiển Tông. Qua sự mai mối chớp nhoáng của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ đã cưới cô công chúa thứ chín, mới vừa tròn 16 tuổi của vua Lê Hiển Tông, để rồi, cuộc đời của Ngọc Hân công chúa đã vĩnh viễn gắn liền với sự nghiệp vĩ đại của vị anh hùng Non Tây áo vải cờ đào. Sau khi lên ngôi năm 1789, Quang Trung đã phong cho Ngọc Hân công chúa làm Bắc cung Hoàng hậu. Bà có với vua Quang Trung một con trai là Nguyễn Văn Ðức và một con gái là Nguyễn Thị Ngọc. Lúc chết được tôn miếu hiệu là:"NHƯ Ý TRANG THẬN TRINH NHẤT VÕ HOÀNG HẬU" CÒN BAO NHIÊU BÀ THỨ PHI NỮA? Như ta đã thấy, ngoài hai bà Chính cung Hoàng hậu họ Phạm ở Qui Nhơn và Bắc cung Hoàng hậu ở Thăng long mà sử sách đã thường nhắc đến, trên thực tế, vua Quang Trung còn có bao nhiêu bà thứ phi nữa? Theo như những phát kiến mới, Ngài đã có ít nhất là ba bà vợ nữa: - BÀ THỨ PHI NGUYỄN THỊ BÍCH: Theo như tôn phổ dòng họ Nguyễn viết bằng chữ Hán, ở làng Mỹ chánh, huyện Hải lăng Quảng trị thì cô con gái út của ông Nguyễn Văn Cẩn (1712-1771 giữ một chức quan nhỏ vào mạt kỳ thời chúa Nguyễn ở Phú xuân) và bà Nguyễn Thị Ai (1714-1772) đã gả cho vua Quang Trung. Nguyên văn chữ Hán ghi: "Nguyễn Thị Bích giá vu Quang Trung Hoàng đế bổn thôn xuất đinh, tịch tự thử thủy tốt vu cửu nguyệt, sơ thập nhật, mộ tại Vĩnh an thôn, gò Thỏ xứ". Khi nhà Tây Sơn sụp đổ, bà Nguyễn Thị Bích đã trốn về Vĩnh ân để nương náu cùng gia đình và bà con, lúc chết được chôn cất ở gò Thỏ, thôn Vĩnh ân, huyện Phú cát. Như vậy, bà là nhân chứng cuối cùng của gia đình Tây Sơn, đã chứng kiến trọn vẹn trang sử đầy bi hùng của triều đại Tây Sơn dưới thời huy hoàng của vua Quang Trung và dưới thời suy tàn của vua Cảnh Thịnh. Bà Nguyễn Thị Bích có một con trai với vua Quang Trung, nhưng không biết có còn được sống sót sau những năm tháng dài bị vua quan triều Nguyễn Gia Long truy lùng và tận diệt hay không? Ðó là một câu hỏi được nêu lên về khả năng tìm kiếm dòng máu còn sót lại của vị anh hùng dân tộc ngay trên chính quê hương của Ngài. - BÀ THỨ PHI TRẦN THỊ QUỴ: Theo như gia phả họ Trần ở Hội an Quảng nam cho biết: "Thủy tổ họ Trần có nguồn gốc ở Thăng long. Ðến đời thứ năm sinh ra ông Trần Công Thành và ông sinh ra bảy người con, có một người con gái là bà Trần Thị Quỵ, qúy phi của vua Quang Trung. Khi nhà Tây Sơn thất thế, bà đã bị Nguyễn Ánh xử tử hình tại đất Kim bồng (nay là xã Cẩm kim, thị xã Hội an). Bà bị chém đầu rồi thả trôi sông, thi hài của bà được dân làng bí mật vớt lên khâm liệm và mai táng. Bia mộ còn ở xứ Trà quân, xã Cẩm thạnh, Quảng nam. Hiện tấm bia trên mộ bà còn khắc các chữ: "Nam cố, Ðông châu tiền triều Hoàng hậu thứ phi tự Qụy Trần tổ cô mộ. Mậu Tuất hạ, nguyệt nhật kiết" - BÀ THỨ PHI HỌ LÊ: Bản gia phả và văn tế của ngài thỉ tổ dòng họ Nguyễn có ghi:"Ngài thỉ tổ ta một người họ Lê, quán tỉnh Quảng ngãi, huyện Mộ đức, tổng Quy đức, làng Bồ đề. Ngài là công thần nhà Tây Sơn, chức Ðô đốc. Ngài có bà chị là vợ của vua Quang Trung và bà có một người con trai. Nhưng vì vận trời thay đổi nên nhà Tây Sơn phải sụp đổ. Gặp cảnh tang thương, nên các con của ngài đều phải lưu lạc ra tỉnh này để lánh nạn, do đó đã đổi họ Lê ra họ Nguyễn". Bản gia phả còn ghi: "Ðời thứ nhất tiên khai khẩn thỉ tổ khảo húy SẤU THỤY TRUNG DŨNG ÐỆ TAM LANG" Chưa có khám phá nào cho chúng ta biết tên và cuộc đời của bà thứ phi này, cũng như vị hoàng tử của vua Quang Trung do bà sinh ra như thế nào? Lại nữa, trong lịch sử thường nhắc đến Tiết chế Nguyễn Quang Thùy, phải chăng ông là con của vua Quang Trung và bà thứ phi họ Lê ở Quảng ngãi? Nếu không phải thì Quang Thùy là con ai và người con của bà thứ phi họ Lê này là một hoàng tử khác nữa chăng? Ðây là một trường hợp mà nhiều người vẫn lầm tưởng. Kể cả vua Càn Long nhà Thanh, đã phong cho Quang Thùy làm Thế tử vì tưởng rằng ông là con trưởng, vì ông lớn hơn Quang Toản, lại có tên trong danh sách sứ bộ của giả vương Phạm Công Trị đi Trung quốc chúc thọ bát tuần vua Thanh năm 1790. Về sau biết sai lầm nên đã phong lại cho Quang Toản làm Thế tử. Theo như thư của một giáo sĩ (Le Labousse năm 1793) tiết lộ sau ngày Quang Trung chết, thì Quang Thùy là con của một nàng hầu. Như vậy ai là mẹ của Quang Thùy? Và tại sao bà này lại không được phong làm hoàng hậu? Ðó là những vấn đề đang chờ đợi sự khám phá mới của các nhà nghiên cứu lịch sử, rất có thể ánh sáng soi rọi vào, đây là vợ đầu tiên của vua Quang Trung. Mỗi một trang sử là một phần tâm huyết của cha ông để lại. Mỗi một khám phá mới là những tài liệu trân qúy vô vàn. Nhưng, với sự dè dặt thường lệ, bằng vào các tài liệu của gia phả, nó chỉ là một mớ tư liệu của gia đình đầy thiên kiến và nặng tính chủ quan, nên rất khó lượng định được mức độ khả tín của sự thực lịch sử. Bởi vậy, những phát kiến mới mà chúng ta thấy chỉ là một tiền đề gợi ý với sự hoài nghi cố hữu, về tính cách xác tín của tài liệu. Khám phá mới nào cũng phải chờ sự cẩn trọng gạn lọc, đánh giá và phán xét của thời gian. NGUYỄN AN PHONG
Vua Quang Trung chọn và trọng dụng nhân tài HOÀNG TẤN Khi mới bắt đầu cuộc khởi nghĩa, nhà Tây Sơn dùng ngọn cờ đấu tranh đánh đổ chế độ phong kiến nhà Nguyễn, đem lại công bằng cho dân lành, Nguyễn Nhạc tích cực chiêu hiền để có người hiền tài ra giúp nước. Những người đến với Tây Sơn đều tự mình đến tham kiến, hoặc do người khác có uy danh giúp đỡ giới thiệu để được trọng dụng. Khi khởi nghĩa thành công, giang sơn thu về một mối, thì việc chọn nhân tài không chỉ là những người tự giác đến với mình, mà vua Quang Trung theo các đời trước cho mở các khoa thi Võ và Văn tại kinh đô Phú Xuân, tất cả mọi người đều được ứng thí. Riêng về Văn, nhà vua cho 3 năm mở một khoa, gọi là khoa Minh Kinh. Khoa thi Văn đầu tiên mở vào năm Quang Trung thứ nhì (1789). Nét đáng chú ý trong việc chọn nhân tài của vua Quang Trung là nhà vua không phân biệt người ở vùng nào, miễn là có thực tài thì được chọn. Theo các cứ liệu lịch sử, sau khi xưng vương vua Quang Trung quản lý phần đất từ Phú Xuân trở ra, còn từ Quảng Nam trở vào thuộc quyền vua Thái Đức Nguyễn Nhạc; nhưng qua các khoa thi ở Phú Xuân, Quang Trung đã tuyển chọn rất nhiều người ở miền trong. Trong số đó có nhiều nhân tài, sau khi chọn được nhà vua sử dụng và bổ nhiệm ngay các chức vụ quan trọng trong triều đình. Chẳng hạn như Phan Văn Biên, người Phú Yên giỏi về kinh sử, rành toán pháp, vừa thi đậu xong được bổ ngay làm Huấn Đạo; Đinh Sĩ An người Bình Khê, cùng Ngô Diên Diệu, Phan Đình Vân, Huỳnh Chiếu thơ văn thanh khoáng nổi danh về văn học, người đời xưng tụng là "Tây Sơn tứ tài tử", thi xong được bổ làm việc ở Nội Các với Hàm Hàn Lâm. Hoặc Phạm Văn Trung người Phù Mỹ, Trần Trọng Vỹ (Hoài Ân), Đặng Sĩ Nguyên, Đặng Mộng Kỳ, Lý Xuân Tá người Quảng Nam thi đậu xong đều được bổ nhiệm ngay các chức vụ quan trọng theo thực tài từng người. Truyền rằng, Trần Trọng Vỹ là người thơ hay, theo nhà Tây Sơn làm một chức quan nhỏ, sau khi thi đỗ khoa Minh Kinh ông liền được bổ làm Thị Lang Bộ Lễ. Không chỉ ở phần đất phía Nam, mà người ở đất Thuận Hóa và Bắc Hà thi đậu cũng nhiều. Nổi tiếng nhất là Đặng Cao Phong thi đậu được bổ vào Nội Các với chức Hàn Lâm Học Sĩ, rồi thăng lên Trung Thư Thị Lang. Nhà vua rất tin dùng, những chuyện cơ mật trong triều Phong đều được tham dự. Về thi Võ, người miền trong ra thi cũng nhiều. Trong đó, có hai người nổi tiếng là Phạm Cần Chính và Lê Sĩ Hoàng. Chính người Phù Cát, học chữ giỏi mà võ nghệ cũng giỏi, sức mạnh phi thường, một mình ông có thể cắp nách hai tảng đá nặng hàng tạ nhảy qua rào cao. Ông chuyên dùng cây Thiết Sóc, nên được người đời gọi là Phạm Thiết Sóc, được vua Quang Trung cho đổi sang họ Nguyễn. Còn Lê Sĩ Hoàng người Quảng Nam, lúc nhỏ nhà nghèo đi chăn trâu cho nhà giàu, để trâu bị cọp bắt, Hoàng chạy vào núi trốn may mắn gặp dị nhân truyền võ nghệ, ông chuyên sử dụng đại đao. Chuyện kể rằng, trong lúc Hoàng vào thi vua Quang Trung sai Trần Quang Diệu ra tỉ thí, tài sức ngang nhau. Cao hứng nhà vua đòi đấu thử, Lê Sĩ Hoàng cung kính: "với Trần tướng quân hạ thần còn không địch nổi, huống chi với Bệ Hạ". Vua Quang Trung đắc ý vỗ vai nói: "Đây là Hứa Chữ của ta". Nói xong nhà vua cởi chiếc cẩm bào đang mặc ban cho Hoàng. Sĩ Hoàng cùng Quang Diệu được mọi người tôn là "Tây Sơn song đa". Sau này Sĩ Hoàng lập được nhiều chiến công, được liệt vào hàng lương tướng của nhà Tây Sơn. Không chỉ trọng dụng người tài, vua Quang Trung còn là người biết trọng người tài, ngay cả người ấy là của đối phương. Đó là trường hợp Nguyễn Huỳnh Đức, một vị tướng tài của nhà Nguyễn bị quân Tây Sơn bắt trong trận thủy chiến ở Gia Định năm Quí Mão (1783). Khi Huỳnh Đức được giải đến trước mặt, Nguyễn Huệ trông thấy tướng mạo vị tướng này khôi ngô, kỳ vĩ, lòng sinh ái mộ bèn tự tay cởi trói cho Đức và ôn tồn khuyến dụ. Trái lại Huỳnh Đức trừng mắt mắng lại rằng: "Tôi trung không thờ hai chúa. Nay rủi bị bắt thì tôi chỉ đợi chết chứ không bao giờ đầu hàng". Các tướng phẫn nộ xin đem đi chém, Nguyễn Huệ cười: "Thái độ Huỳnh Đức không có gì là quái. Đó là bản sắc của người anh hùng và lòng trung nghĩa của kẻ trượng phu. Trước cái chết mà không khuất, đó là trung nghĩa, há chẳng khiến cho chư tướng khâm phục sao". Sau đó, Nguyễn Huệ sai đem Huỳnh Đức để sau bản doanh và giao cho Ngô Văn Sở và ái cơ của mình là Trần Mỹ Tuyết thuyết phục. Huỳnh Đức ban đầu rất cứng rắn, nhưng cuối cùng cũng phải chịu theo Nguyễn Huệ, được Nguyễn Huệ mở đường cho chọn ở hay đi đâu tùy ý. Lúc đến trấn Nghệ An, Huỳnh Đức xin Nguyễn Huệ được ở lại giúp Nguyễn Văn Duệ trấn Nghệ An và được chấp nhận.
Nguyễn Huệ với chiến lược con người HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Nhân theo vua Cảnh Thịnh đi thăm lăng vua Quang Trung, Ngô Thì Nhậm có làm một bài thơ với lời chú thích rất lạ, như thế này: Mùa xuân năm Đinh Tỵ, tôi mộng thấy Thiên Hoàng đế ngự ra Bắc Thành; tôi hầu thảo chiếu thư. Câu cuối cùng ngự bút chữa là: "Trẫm lạc nhân hoàn lưu chính trị" (Trẫm xuống cõi đời, lưu lại chính trị), rồi ngoảnh lại bảo tôi: "Trẫm thêm bảy chữ, người thấy thế nào?" Tôi khấu đầu khen hay. Cũng có thể những giấc mơ có thật; nhưng ở đây người ta đọc thấy cái hàm ý của Ngô Thì Nhậm muốn dùng một giấc mơ để khuyên răn vua Cảnh Thịnh. Như thế là, qua lời tự thẩm định của chính nhà vua trong giấc mơ, thì khát vọng lớn ở đời của Nguyễn Huệ phải là chiến công mà là chính trị, là làm sao xây đắp được một nền Đại Chính để nhân dân sống có hạnh phúc. Đây là sự đánh giá hết sức sâu sắc của một nhà văn hóa lớn đối với vị anh hùng dân tộc: Nguyễn Huệ không chỉ là một thiên tài quân sự, mà còn là một nhà vương đạo mang cái Tâm nhân nghĩa bao trùm cả thời đại ông. Đối tượng toàn diện của chính trị là con người và vì thế, có thể nói đến một "Chiến lược con người" trong sự nghiệp vĩ đại của Nguyễn Huệ. Truyền thuyết dân gian Bình Định có nói đến một nhân vật lịch sử tên là Giáo Hiến, người thầy toàn diện đã giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo nên bản lĩnh của Nguyễn Huệ từ những năm còn vác cày cho tới khi trở thành thủ lĩnh khởi nghĩa. Đến trước khi nhắm mắt, thầy giáo Hiến vẫn luôn luôn răn bảo người học trò mà ông đã gởi gắm tất cả kỳ vọng tương lai: Một mai chống vững sơn hà Phải dùng văn trị dung hòa võ công Sau này rực rỡ đai cân Phải dùng đức trị mười phân vẹn mười Nhớ câu thu phục lòng người... Văn trị, Đức trị, Lòng người... có lẽ những bài học vỡ lòng ấy từ thuở dựng cờ đã vang động sâu thẳm trong bản chất minh tuệ của Nguyễn Huệ để phát triển lên thành tư tưởng vương đạo của ông qua suốt sự nghiệp giải phóng và phục hưng dân tộc. Không nghi ngờ gì nữa, rằng một nền chính trị lớn (Đại chính) phải thể hiện đầy đủ lý tưởng "An dân" của nó. Nguyễn Huệ chăm lo giáo dục quân đội của ông thành một sức mạnh vì dân trừ bạo từ trong bản chất, những người lính trên đường dài chinh phạt vẫn sống "không lương không tiền, nhưng không lấy cái gì của người Bắc hết, hoặc ăn cơm không muối, uống nước lạnh và ngủ ngoài trời" (Thư của linh mục Le Roy ở Kẻ Vĩnh). Dưới quyền Nguyễn Huệ không thấy sử sách nói tới nạn tham nhũng và hối lộ; ông trừng trị thẳng tay với bất cứ ai lợi dụng quyền thế để cướp đoạt và ức hiếp nhân dân. Nhật ký của Hội truyền giáo Bắc kỳ thời đó có ghi lại một sự kiện điển hình: "Trước mặt ông ta (Ngô Văn Sở), vua Quang Trung đã xử trảm viên trấn thủ Thanh Hóa và một đại thần khác bị khép tội quấy nhiễu đàn áp dân chúng". Thanh lọc mọi yếu tố xúc phạm nhân dân ra khỏi bộ máy cai trị dưới quyền mình, đó là bản chất dân chủ của đường lối Đại Chính của Nguyễn Huệ, mặc dù ở thời đại ông, lịch sử chưa bao giờ có cơ hội để trả giá cho một khái niệm về dân chủ nào hết. Ngay khi lên ngôi vua, Nguyễn Huệ đã công bố lời thề tâm huyết tận đáy lòng của một lãnh tụ nghĩa quân đã trải suốt mười bảy năm chiến đấu vì nhân dân, rằng nhiệm vụ của ông là "dìu dắt dân vào con đường lớn, đưa dân lên cõi đài xuân". Trong nhiều chính sách tiến hành ngay sau đó, chính quyền vua Quang Trung đã tập trung vào hai nhiệm vụ dân tộc lớn nhất là chống giặc đói (Chiếu khuyến nông), và chống giặc dốt (Chiếu lập học). Đặc biệt, sự chăm lo việc học cho dân đã được nhà vua đưa lên nhiệm cấp bách hàng đầu, nhằm mục đích nâng cao văn hóa đại chúng và đào tạo nhân tài cho đất nước: "Dựng nước lấy dạy học làm đầu; cai trị lấy nhân tài làm gốc". Vì thế dù tình hình kinh tế quốc gia hết sức khó khăn qua chiến tranh, và còn phải tiếp tục đánh giặc, vua Quang Trung vẫn nỗ lực thực hiện một chính sách văn hóa - giáo dục dân tộc sâu rộng và toàn diện; trong đó lần đầu tiên trong lịch sử phong kiến nước ta, trường học được thành lập đến tận các cấp xã (xã học), các thầy giáo xã (giảng dụ) được triều đình trung ương cấp bằng chứng nhận. Tờ Chiếu lập học nhấn mạnh rằng chăm lo việc học cho nhân dân là "quy mô lớn để chuyển loạn thành trị". Nét nổi bật nhất trong sách lược vương đạo của Nguyễn Huệ chính là cuộc chinh phục của ông đối với đẳng cấp trí thức ở thời đại ông, những người nắm giềng mối xã hội thoạt đầu đã chống lại phong trào nông dân một cách quyết liệt và mù quáng chưa từng thấy ở bất cứ thời kỳ lịch sử nào khác. Trí thức vốn là những chuyên viên trong mọi lĩnh vực, vẫn giữ vai trò quyết định cho sự tồn tại của mọi chế độ xã hội; và trí thức nho sĩ là những chuyên viên tổng hợp của xã hội phong kiến. Sự thất bại của phong trào Tây Sơn ở địa bàn phía Nam có nhiều nguyên nhân, trong đó điều quan trọng là Tây Sơn không có sự hợp tác của trí thức để cai trị ở một số nơi đất mới phức tạp với nhiều khối sắc dân khác nhau; ngược lại phía Nguyễn Ánh đã quy tụ được vốn liếng sẵn có của mình, nổi tiếng là nhóm tri thức Võ Trường Toản đã đào tạo những Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu... Chính các thủ lĩnh Tây Sơn đã nhìn thấy khoảng trống đáng lo ngại ấy trong phong trào nông dân của mình. Vì thế khi ra Bắc lần đầu, Nguyễn Nhạc chỉ chăm chăm xin cho được "món của quý nước An Nam" là các ông nghè để đem về, thấy ai nói năng hoạt bát một chút cũng hỏi ngay "Thế các ông có phải là tiến sĩ không?". Chính Nguyễn Huệ cũng thẳng thắn nhìn nhận sự vắng thiếu đội ngũ trí thức trong lực lượng cách mạng của mình. Trong thư gửi Nguyễn Thiếp, ông khiêm tốn tỏ nỗi lo ngại: "Những kẻ giúp việc trong nhất thời đều là những kẻ mạnh bạo" (ý nói những võ tướng chỉ giỏi việc chiến trận). Những trí thức đương thời, họ là ai? Ở Nam hà mọi người đều đã chạy theo chúa Nguyễn trốn vào Gia Định, còn lại Bắc hà nơi dày đặc "áo mão tiến sĩ", thì chính là nơi phong trào chống Nguyễn Huệ bạo phát hoặc ngấm ngầm đều hết sức ác liệt, dẫn đầu là giới trí thức chính thống của triều đình Lê - Trịnh. Lý Trần Quán tự chôn sống chết theo chúa Trịnh, Nguyễn Huy Trạc uống thuốc độc tại ngự sử đài chết theo nhà Lê. Trần Phương Bình lên núi Hồng Lĩnh mổ bụng tự sát. Lê Duy Đàn và Trần Danh Án thì "nón rách, áo tơi tàn" lẻn qua Nam Quan quỳ lạy vua Thanh mang đại binh qua; Dương Trọng Tế cùng nhiều trí thức lớn trong các gia đình Nguyễn Du, Ngô Thời Nhậm đều chiêu mộ hào kiệt "dò hư thực tế thế nào để tìm cách bắt lấy Nguyễn Huệ". Văn chương hồi đó có những tên tuổi lừng lẫy như Nguyễn Hành, Phạm Thái, cả Bùi Dương Lịch, Phan Huy Ích trước đó đã nồng cháy nỗi căm thù chống lại Nguyễn Huệ; thậm chí nhiều năm sau, Lê Huy Giao còn làm thơ "Mừng kẻ thù là Quang Trung Nguyễn Huệ chết" (Hạ cừu nhân Quang Trung, Nguyễn Huệ chết). Hai trăm năm đất nước bị chia cắt, giới sĩ Bắc hà đó đã đồng hóa chữ trinh với võng lọng cân đai của Chính phủ (tên gọi phủ chúa Trịnh lúc bấy giờ), đã mụ mẫm đi trong nỗi ngu trung đối với nhà Lê, vì thế nhất loạt dưới mắt họ, Nguyễn Huệ không hiện ra như người anh hùng cứu dân, mà là một "tên giặc man rợ" (man tặc). Tình hình ngao ngán đến nỗi Nguyễn Huệ phải kêu lên: "Ta thật không lấy Bắc hà làm lợi". Thật lạ lùng, kim cổ chưa bao giờ trí thức Việt Nam lại phi dân tộc đến như vậy. Giá như bấy giờ, Nguyễn Huệ chỉ cần mang một thanh gươm chinh phạt khắp Bắc hà, cứ hễ nghe đến trí thức là chém đầu, quả tình cũng không có gì oan. Nhưng nếu làm thế thì chắc chắn Nguyễn Huệ đã không thực hiện nỗi sứ mệnh lịch sử của mình: thứ nhất là ông sẽ mất hết lòng người, thứ hai là ông sẽ không tìm đâu ra nhân tài để giúp ông xây dựng đất nước; thứ ba, ông sẽ mang tội với hậu thế, bởi vì có thể là Việt Nam sẽ không bao giờ còn biết đến Nguyễn Du và Truyện Kiều. Nhưng hiển nhiên là Nguyễn Huệ đã không xếp trí thức vào loại đối tượng cần phải đánh đổ của nghĩa quân. Ông chỉ cho họ thấy rằng họ là những người "mang bệnh nặng đến mê muội và sai lầm", tức là bệnh thiếu máu vàng vọt của nhận thức do chữ trung mù quáng gây ra. Phải đạt thấu cái tâm nhân đạo của bậc lương y chân chính như vậy mới cứu nỗi "con bệnh trí thức" của thời đại ông, bởi vì như Ngô Thế Lân đã nói, người thầy thuốc giỏi không ở chỗ biết cách cứu bệnh, "mà ở chỗ biết được mạng sống hay chết, có thể chữa hay không chữa khỏi". Nguyễn Huệ xác tín rằng bệnh của họ sống được, rằng bệnh của anh trí thức chẳng qua là bệnh của nhận thức; rằng nhân cách trí thức có khả năng phục thiện một khi nhận ra đúng chân lý, và Nguyễn Huệ đã giải bày lòng mình một niềm tin ngỡ chừng ngây thơ nhưng sâu thẳm một cách không ngờ rằng "con người tốt không thể làm ác suốt đời". Từ đó, Nguyễn Huệ đã công bố một chính sách khoan hồng triệt để đối với những cựu thần nhà Lê đã chống đối Tây Sơn: những người bị giam cầm được thả ra, những người đang trốn tránh thì không bị truy nã, những người đã ra trình diện thì được trả lại điền sản để khỏi đói rét, những người thích ẩn dật thì triều đình không tìm cách đoạt chí; riêng đối với những người muốn ra hợp tác thì nhà vua không câu nệ cũ hay mới, khoa danh hay không, đều dung nạp hết miễn là người có tài và thực tâm gánh vác việc nước. Chung cho tất cả là như vậy, nhưng đối với người có tài, Nguyễn Huệ có một cái nhìn biệt nhãn ít có ở đời: quý trọng, tin cậy, tất cả đều chân thành tận đáy lòng, như thể rằng Nguyễn Huệ đã quên đi sức mạnh sấm sét của mình để sống với người tài bằng một quả tim lớn. Thử nghĩ lại xem, một con người đã coi ba mươi vạn quân Thanh trước mắt chỉ như "những kẻ tự dẫn mình đến chỗ chết", lại khiêm cung trước một La Sơn phu tử đến như vậy, tha thiết, nơm nớp, tự khu xử như học trò đối với thầy. Nguyễn Huệ luôn luôn giữ ý niệm như thế đối với kẻ sĩ: với Trần Văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Thiếp, dù là bề tôi, họ vẫn vừa là khách, vừa là thầy của ông. Phải nói rằng Nguyễn Huệ chưa bao giờ biết sợ bất cứ kẻ thù nào, ông chỉ sợ người hiền. Nguyễn Huệ đã buộc những người trí thức hoài nghi phải tin theo ông, bằng cách cho họ thấy rằng ông trao cả niềm tin cho họ, không chật hẹp, không dè chừng, không phân biệt. Vừa gặp dược Ngô Thì Nhậm, ông nhận ra ngay người hiền, liền giao trọng trách ngang hàng với Ngô Văn Sở, căn dặn chung: "Ngô Thì Nhậm vừa là khách vừa là bầy tôi của ta. Nay ta giao cho các khanh hết thảy việc quân quốc... các khanh cần họp bàn với nhau, không được phân biệt kẻ mới người cũ, miễn sao làm cho được việc ta mới yên lòng." Làm như vậy không phải ông học đòi làm minh quân, mà thật lòng ông cảm thấy bất lực trong sự nghiệp dựng nước nếu không có sự hợp tác của kẻ sĩ "Nghĩ rằng: sức một cây gỗ không chống nổi là một tòa nhà to, mưu lược một kẻ sĩ không dựng được cuộc thái bình" (Chiếu cầu hiền). Và rốt cuộc Nguyễn Huệ đã chinh phục được nhân tâm: kẻ sĩ Bắc hà kể đến hàng ngàn người đều về với Tây Sơn "rốt cuộc còn lại bảy, tám người không chịu ra mới thôi" (Hoàng Lê nhất thống chí). Không phải là việc mũ áo cho đẹp mắt, thực sự họ là những nhân tài giúp nước: Trần Văn Kỷ lo nội chính, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn lo toàn bộ sách lược ngoại giao đối với nhà Thanh. Nguyễn Thiếp và Bùi Dương Lịch xây dựng văn hóa-giáo dục, Nguyễn Gia Phan chăm lo ngành y tế (Nguyễn Gia Phan là người chỉ đạo công việc chống dịch bệnh ở Thăng Long sau khi quân Thanh rút chạy). Như chính lời cảm khái của từng người trong cuộc, Quang Trung Nguyễn Huệ đã "tái tạo" cho Ngô Thì Nhậm, "gây dựng lại" cho Phan Huy Ích. Trong ánh sáng nhân đạo của Nguyễn Huệ, cả một đẳng cấp kẽ sĩ thời Lê mạt đã tự cải tạo mình thoát ra khỏi số phận tàn lụi để mang tất cả "chất xám" ra cống hiến cho đời, được chia sẻ với toàn dân tộc niềm vinh dự "được sinh ra làm người nước Nam", như chính Ngô Thì Nhậm đã nói. "Mà nay áo vải cờ đào - Giúp dân dựng nước biết bao công trình", đấy là sự đánh giá tuyệt vời dành cho Nguyễn Huệ, không phải trên quan điểm của nhà Lê, mà là của những người nghĩa quân đi chân đất. Ai Tư Vãn là một bằng chứng tâm huyết về sự cải tạo nhận thức lịch sử của kẻ sĩ nhà Lê, bởi vì dù là hoàng hậu, Lê Ngọc Hân cũng vẫn là một công chúa là Lê. Nguyễn Huệ đã xây dựng nền nhân cách mới cho kẻ sĩ cả một thời đại, và cũng phải nói rằng chính những kẻ sĩ đó cũng góp phần xây dựng nền nhân cách lớn của Nguyễn Huệ, theo quy luật chung tương ánh hồng của cái Đẹp. Chính là những trí thức của một thời tưởng đã thành tội phạm dân tộc hoặc may ra thì cũng đành cuộc đời bỏ đi ấy, đã cùng với Nguyễn Huệ xây dựng nhà Tây Sơn thành một triều đại văn hiến xứng đáng với võ công của nó. "Quốc vương là người thiên tư hiếu học, tuy trong chinh chiến gấp gáp vẫn không quên bàn bạc đạo lý. Trong nghị luận thường ngày, quốc vương diễn đạt được một cách có thứ tự những cái mà sách vở đời trước chưa từng nói, tôi thực nhờ được gần gũi, bơi lội trong kiến thức của quốc vương mà lĩnh hội được" (Bang giao hảo thoại) - Ngô Thì Nhậm, người đọc hết kim cổ, đã nhận xét về năng lực trí tuệ của Nguyễn Huệ như vậy. Mỗi anh hùng dân tộc đều có một sự nghiệp lớn lao khó có thể so sánh, nhưng ở từng con người vẫn nổi bật lên những nét đặc biệt thuộc về tính cách: Lý Thường Kiệt là sự gánh vác tận tụy, Trần Hưng Đạo là lòng hòa ái vì nghĩa lớn, Lê Lợi là sự bền chí không lùi bước, Nguyễn Trãi là nỗi thương dân đến quặn lòng... và với Nguyễn Huệ, đúng như nhận xét của Ngô Thì Nhậm, là một suy nghĩ rất mới, bây giờ vẫn mới. Hoàng Phủ Ngọc Tường (Tạp chí Văn Hiến Việt Nam)
1/. Chính sách kinh tế : a/. Trước tiên, vua lo phục hồi nông nghiệp. Loạn ly, đói kém, chết chóc đã làm cho đất đai hoang phế nhiều, làng xóm điêu tàn, dân chúng phiêu tán kiếm ăn hay lánh nạn. Vua ra lệnh cho mọi người trở về quê quán, tổ chức chia công điền, đất hoang để ai cũng có ruộng cày; ủy các xã cấp tốc làm lại sổ đinh, điền, kiểm tra lại dân số, ruộng đất. Sự bóc lột xâu thuế nặng nề của hai họ Trịnh-Nguyễn khiến dân chúng kiệt quệ, chán nản, cho nên năm đầu vua cho giảm các loại thuế xuống một nửa, còn với các nơi bị chiến tranh tàn phá thì miễn hẳn thuế. Tiếp theo lại định các mức thuế nhẹ hơn trước và bãi bỏ thuế điệu, tức là thuế sưu dịch, loại thuế bắt dân nộp “nghĩa vụ lao động” bằng tiền. b/. Vua chú trọng ngay việc phát triển ngoại thương. Bấy giờ các nhà buôn tây phương được khuyến khích ra vào buôn bán, thể lệ phân minh, không bị các quan lại tham ô nhũng nhiễu như trước nữa nên họ rất vui lòng. Vua lại điều đình với nhà Thanh để thiết lập thương mại giữa hai nước; trên đất ta thì lập chợ Bình-thủy-quan ở Cao bằng, chợ Du-thôn-ải ở Lạng sơn để dân hai nước tự do buôn bán; trên đất Tàu thì lập nhà hàng của ta ở Nam ninh, thuộc tỉnh Quảng Tây để hàng hóa nước ta lưu thông sang bên ấy. Để đáp ứng nhu cầu thương mại, đồng tiền Quang Trung thông bảo được đúc, số lượng lớn, lưu hành rộng rãi khắp nước. Đây là đường lối rất sáng suốt, bởi sự phát triển ngoại thương sẽ làm cho công nghiệp thịnh vượng, thợ thuyền hăng hái sản xuất, những người năng động và may mắn sẽ trở nên giàu có, nhờ đó có thể thực hiện cách mạng kỹ nghệ để tiến theo tây phương. Vua nhắm mục đích rõ ràng như thế nên đã bãi bỏ những thứ thuế công thương nghiệp bóc lột quá đáng, tác hại đến sản xuất và tiêu thụ. c/. Hoạt động kinh tế phải có an ninh bảo đảm cho nên vua lo lắng nhiều về trật tự an ninh trong nước. Bấy giờ, tại mỗi huyện vua đặt thêm chức Phân-suất để điều khiển lực lượng võ trang của huyện, lo việc truy nã các băng cướp, bảo đảm an toàn sinh hoạt cho dân chúng. Nhờ đó, cảnh bình trị trở lại nhanh chóng. Trong mấy năm đầu, một số quan lại cũ của họ Trịnh hoặc dòng dõi nhà Lê còn gây rối ở miền núi hoặc vài nơi miền đồng bằng song tất cả đều bị quân đội Tây Sơn dẹp yên ngay. Chính sách kinh tế của vua nhanh chóng mang lại hiệu quả tốt đẹp. Năm Quang Trung thứ tư, khắp nước được mùa, hàng hoá đầy đủ, việc buôn bán rầm rộ, dân chúng yên vui, cảnh thái bình thịnh trị đã thực sự đến với dân tộc. Không phải nhà chính trị đại tài thì không thể nào lập được thành tích như thế. 2/. Chính sách tôn giáo,tín ngưỡng. Bởi thấy rõ sự cần thiết của tôn giáo trong đời sống xã hội nên cách mạng Tây Sơn ngay từ đầu đã có chính sách tôn giáo rất tiến bộ, bảo vệ và giúp đỡ các tôn giáo phát triển. a/. Với đạo Thiên chúa, phát biểu của các giáo sĩ Tây phương đã xác nhận chính sách tốt đẹp ấy : · Giáo sĩ Tây Ban Nha, Jumilia, kể : “nhiều ông quan của đám “giặc” đã đến thăm tôi và xin tôi thuốc. Tôi cũng đã được họ giúp đỡ rất nhiều. Họ cho phép chúng tôi tự do giảng đạo, công khai dựng các thánh đường, không còn ai có thể đến quấy phá và ăn trộm bất cứ thứ gì trong nhà thờ. Ngoài ra họ còn cho 13 tên lính ngày đêm bảo vệ chúng tôi” · Một giáo sĩ trong Hội truyền giáo ngoại quốc năm 1786 đã viết trong một bức thư rằng : “Trong lúc này, ở Nam Hà cũng như Bắc Hà, chúng tôi đều được hưởng sự thanh bình, quan dân ai nấy đều yên trí lo phận sự riêng của mình. Quân Tây Sơn đã lựa được 3 người để cầm đầu chính quyền. Những người này đều là những tay hào kiệt, đứng đắn, can đảm, ham chuộng hòa bình, xuất thân ở nơi quần chúng” · Giáo sĩ Le Roy trong một bức thư đề ngày 18-07-1793 viết : “Từ khi Tây Sơn lên cầm quyền, Tôn giáo được tiến bộ” Chỉ đến năm 1798, vua Cảnh thịnh mới có lệnh cấm đạo, bởi vì giáo sĩ Labartelle ở Phú xuân đã liên lạc với Nguyễn Ánh. Dầu vậy, bấy giờ ở miền bắc, các giám mục và giáo sĩ được đường hoàng phát triển Công giáo. Ngoài ra, chính Khâm sai Vũ Văn Dũng, hoàng thân Nguyễn Quang Thùy đã ủng hộ công giáo rất mạnh, tuy rằng nhà Tây Sơn chưa chính thức bãi bỏ lệnh cấm đạo. b/. Với Phật giáo thì cách mạng Tây Sơn coi là tôn giáo của dân tộc nên hết lòng xây dựng. Đông Định vương Nguyễn Lữ tuy lo việc nước mà vẫn giữ tính cách của một nhà sư. Còn vua Quang Trung thì lo phát triển bề cao của Phật giáo : -Vua cho lập tại mỗi huyện một ngôi chùa thật lớn, thật đẹp, để các tăng sĩ có học thức và đạo hạnh trụ trì và giảng dạy đạo lý. Đó là cách rất hay để làm cho Phật giáo hưng thịnh. c/. Vua Quang Trung đề cao các tín ngưỡng phù hợp với đạo lý nhưng không chấp nhận thói mê tín. Ngô Thời Nhậm trong tập văn “Hàn Các Anh Hoa” có ghi chủ trương của vua : “các đền thờ bách thần mà là thờ nhảm đều bị xóa bỏ thần hiệu trong tự điển, còn các thiên thần và tôi trung, con hiếu, đàn bà tiết nghĩa đã được các triều phong tặng thì nay đều cho thăng bậc”. Đó là nêu rõ các chân lý về con người và bác bỏ các lầm lạc phản chân lý. Chủ trương sáng suốt ấy cho thấy vua Quang Trung có sự hiểu biết rất sâu và vững chắc về tinh thần con người. 3/. Chính sách giáo dục : a. Công tác giáo dục : vua Quang Trung đặc biệt chú trọng công tác giáo dục. Trong tờ chiếu lập nhà học, nhà vua nói : “Dựng nước lấy dạy học làm đầu , cầu trị lấy nhân tài làm gốc. Trẫm vừa khi mới Bình Định đã có ý hậu đãi các nhà nho, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài để dùng cho quốc gia” Thực hiện chủ trương trên, vua ra lệnh các xã lập các nhà xã học, chọn nho sĩ có học thức, đạo đức làm thầy dạy, còn phủ huyện thì đều mở lại các học hiệu, cử các Huấn đạo đến lo việc giáo dục. Thầy dạy học phải có đạo đức là bởi việc giaó dục phải đào tạo cho con người vừa có trí thức vừa có đức hạnh; nếu chỉ dạy cho trí thức để người ta dùng nó mà làm càn bậy thì thà rằng cứ để cho dốt nát còn ít tai hại cho cộng đồng hơn. Vua Quang Trung chủ trương lấy Đạo lý làm cái gốc tiến hoá của dân tộc, là rất anh minh vậy. b. Xây dựng xã hội Nhân Chính : Vua ra chiếu cầu hiền, viết : “Có tài mà không để cho đời dùng thì đó không phải là ý Trời sinh ra người hiền tài … Vậy ban chiếu để quan liêu lớn nhỏ và dân chúng trăm họ, ai có tài năng, học thuật, mưu hay giúp ích cho đời đều cho phép được dâng thư tỏ bày công việc … Những người có tài nghệ gì có thể dùng cho đời, các quan văn võ đều được tiến cử, lại cho dẫn đến yết kiến, tuỳ tài mà bổ dụng. Nếu có người bấy lâu ẩn tiếng, không ai biết cũng cho phép được dâng thư tự cử” ( Người hiền tài biết đem tài đức ra giúp ích cho đời, ngày nay gọi là giới tinh hoa chính trị; vai trò của họ hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của cộng đồng. Lời chiếu trên nêu rõ vai trò ấy, cho thấy vua Quang Trung đã chú trọng xây dựng một giới tinh hoa chính trị đông đảo để làm cơ sở cho nền thịnh trị lâu dài trên đất nước. c. Xây dựng nền quốc học : Vua Quang Trung chủ trương xây dựng một nền quốc học, phát biểu bằng tiếng nói dân tộc, viết bằng chữ của dân tộc; cho nên trong bước đầu, văn thư của triều đình thường bằng chữ nôm, trong các khoa thi có đề thi bằng chữ nôm, làm văn nôm. Văn nôm đã được nhiều văn nhân đời Trần sáng tác, đời vua Lê Thánh tông, nhờ được vua coi trọng nên phát triển mạnh. Đền đời vua Quang Trung thì việc chính thức hoá chữ nôm, đưa nó lên làm văn tự quốc gia, đã trở thành một chính sách. Một nước độc lập phải có văn tự riêng, không thể dịch ý tưởng ra tiếng khác mà viết. Chính sách văn tự quốc gia cho thấy vua Quang Trung lo cho dân, cho nước rất xa vậy Chương trình lớn lao của vua Quang Trung là dựng lại nước Việt-Thường. Trước kia, Trưng vương đã thu hồi toàn bộ đất nước Việt-Thường; sau đó, các vua Lê Đại Hành, Lý Thái tổ, Lý Thái tông, đại tướng quân Lý Thường Kiệt, các vua Trần Thái tông, Lê Thánh tông đã từng tiến quân vào nước cũ. Đến vua Quang Trung thì nhà vua đã có chương trình kế hoạch dứt khoát, cụ thể để dựng lại nước Việt-Thường, giải thoát cho đồng bào bên ấy, giành lại đất đai đã bị đế quốc Tần và Tục-Tần cướp đoạt. Các sự kiện sau đây cho biết phần nào về chương trình ấy : + Trong lúc đánh đuổi quân xâm lược, quân ta bắt được vô số tù binh Thanh; vua Quang Trung đã tổ chức họ thành “Binh đoàn nội địa”. Tờ chiếu “Phối trú nội địa hàng binh” của vua có đoạn : “vậy, ban chiếu này phát phối các ngươi vào các cơ đội, sung vào quân ngũ, cấp cho lương hướng, để các ngươi khỏi bị cái khổ gông cùm, được ra trận tòng quân, dùng làm nanh vuốt" Việc tổ chức Binh đoàn nội địa tất không ngoài việc gây bạo động, cát cứ tại các tỉnh miền nam nước Tàu, tiến tới khởi nghĩa, thiết lập chính quyền cách mạng, công việc ấy lúc này người Tàu bị đô hộ đang tiến hành. + Tại Tứ Xuyên có tổ chức “Thiên địa hội” đang gây phong trào chống Mãn Thanh khắp nơi. Vua Quang Trung đã bảo trợ họ, giúp phương tiện cho họ hoạt động, phong cho các thủ lãnh của tổ chức làm tướng (chú : tất nhiên là tướng của vua ta, nước ta) + Nhiều toán hải tặc ở biển Tàu bị quân nhà Thanh truy nã liền chạy sang xin qui thuộc nước ta, vua Quang Trung thu dụng tất cả, phong cho các thủ lãnh chức Tổng binh, sai tiếp tục đánh phá quân Thanh triều ở ven biển. Như vậy, bước thứ nhất của kế hoạch là chuẩn bị các lực lượng nội địa và gây rối loạn bất ổn khắp trên phần đất nước Việt-Thường bị chiếm, khiến vua Thanh thấy khó lòng giữ được phần đất này. Ngay trong năm 1790, bước thứ nhất này đã có kết quả : khi giả vương Phạm Công Trị sang chầu, vua Càn long đã ân cần yêu cầu giả vương bảo vệ an ninh cho phần Việt đông (chú : Việt đông là miền đông nước Việt, tức các tỉnh Triết giang, Phúc kiến, Quảng đông và đảo Hải nam). Bước thứ hai của kế hoạch : vua bắt đầu thực hiện với tờ sắc ngày rằm tháng tư năm Quang Trung thứ tư (1792), sai Đại đô đốc Vũ Văn Dũng làm chánh sứ sang triều Thanh đòi lại miền Lĩnh Nam của nước ta. Tờ sắc có đoạn : “Sắc sai Hải dương Chiêu viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ quốc công sung chức Chánh sứ sang Tàu tâu xin lại hai tỉnh Quảng đông và Quảng tây và cầu hôn một vị công chúa” (chú : Vũ quốc công là Vũ Văn Dũng; hậu duệ của Đại tướng họ Vũ ngày nay vẫn còn lưu giữ được tờ sắc phong này). Đây là cách xử lý rất khôn khéo. Nếu vua Càn long đồng ý thì hai tỉnh Quảng đông, Quảng tây sẽ là của hồi môn của công chúa, triều Thanh không bị tai tiếng gì; còn nếu vua Càn long không đồng ý thì các cuộc khởi nghĩa sẽ bùng nổ ở khắp nội địa miền nam, hải tặc sẽ chiếm lĩnh miền ven biển. Thanh triều động binh đàn áp thì quân đội Việt Nam sẽ giúp nghĩa quân đánh dẹp … Sứ bộ Vũ Văn Dũng đã sang Tàu. Nhưng vua Quang Trung đột ngột băng hà khiến Đại tướng Vũ phải đổi tờ sớ xin đất thành tờ báo tang.
Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 30, Ngụy Tây Sơn liệt truyện, thì vua Quang Trung bị một ông già bay từ trên trời xuống, dùng gậy sắt đánh vào đầu, bị xây xẩm mặt mày, thành bệnh mà chết. Tuy là truyện hoang đường kiểu Tây Du ký, nhưng chúng ta rút ra được một điều: Vua bị chóng mặt, ngã xuống, rồi thành bệnh. Nhưng trong một số tài liệu khác lại nói nhà vua bị Trúng phong huyền vựng. Chứng này ngày nay là huyết áp cao, gây tai biến mạch máu não, nếu cứu kịp thì thành bán thân bất toại. Chứng này ngày nay tổng hợp y học Đông Tây thì trị được. Theo Bắc Cung hoàng hậu (Công chúa Ngọc Hân) trong bài Ai tư vãn khóc vua Quang Trung có đoạn: Từ nắng hạ mùa thu trái tiết, ; Xót mình rỗng mỏi mệt chẳng yên. ; Xiết bao kinh sợ lo phiền, Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu. ; Khắp mọi chốn đâu đâu tìm được, ; Phương pháp nào đổi được cùng chăng? Theo linh mục Ginestar, người Tây ban nha ghi lại trong thư ngày 20 tháng 10 năm 1799 , nói rõ vua Quang Trung bị đầu độc. Vậy nguyên do vua Quang Trung băng hà có thể tạm kết luận: Ngài bị đầu độc, khiến huyết áp cao, sinh tai biến mạch máu não, rồi thành bán thân bất toại. Nhưng ai đầu độc? 1. Mãi gần đây, những bộ sử của Thanh triều in ra, mới biết rõ là vua Càn Long. Trong Đại Thanh thực lục, quyển 1342, thuật năm 1789, vua Càn Long sai Thành Lâm sang phong vương cho vua Quang Trung, tặng cho nhà vua chiếc áo. Trên áo có thêu bẩy chữ: ; Xa tâm chiết trục đa điền thử. 2. Bấy giờ không ai hiểu ý nghĩa ra sao. Trong dịp này vua Càn Long cũng làm bài thơ tặng vua Quang Trung, trong đó có câu: ; Phát dị Nam bang y dữ quan ( Mũ áo trẫm ban cho không khác gì y phục nước Nam). 3. Năm 1792 khi vua Quang Trung băng, Càn Long làm bài thơ khóc có câu: ; Thất tự bất năng bãi ai thuật (Bẩy chữ không dứt được niềm xót xa của trẫm). 4. Trong Đại Thanh thực lục, quyển 1357, Càn Long ban chỉ thẳng cho các biên thần rằng việc ép vua Quang Trung sang chầu với mục đích phục thù cho Hứa Thế Hanh. Nhà vua chê triều Minh đòi Đại Việt cống người vàng hàng năm để bồi thường về việc giết Liễu Thăng. Nhưng vua Quang Trung sai một người đóng vai mình tên Phạm Quang Trị, đánh lừa vua tôi Thanh triều. Con rơi của Càn Long là Phúc Khang An, đang là Tổng-đốc lưỡng Quảng, chi tiêu cho sứ đoàn mỗi ngày 4000 lượng bạc. Các tỉnh khác cũng theo Phúc làm như vậy. Càn Long đã ban chỉ rằng mỗi lần ban yến cho vương công, đại thần, sứ thần Mông-cổ cũng chi không quá 1.000 lượng bạc. Nay sứ đoàn Việt được cung phụng mỗi ngày 4.000 lượng. Sứ đoàn đi, về trên 200 ngày thì phải chi ra 800.000 lượng. Số tiền đó nếu dùng để chi cho quân sang báo thù cho Hứa Thế Hanh cũng dư. Như vậy rõ ràng Càn Long mưu báo thù. 5. Về việc tặng, còn nhiều lần, nhiều thức khác: _ Ngày 11 tháng 7 năm 1790, Càn Long tặng Quang Trung giả mũ, áo, ngựa, 10.000 lượng bạc. Một cỗ mũ áo để vào chầu. _ Ngày 14 tháng 7 cùng năm lại được tặng một số lụa, gấm, vóc. _ Ngày 29 tháng 7, lại được tặng áo, mũ cân đai. _ Ngày 29 tháng 11, khi Quang Trung giả về gần biên giới Việt, Càn Long sai ngựa lưu tinh phi theo khẩn cấp, tặng một số y phục. Tóm lại qua 5 yếu tố trên, cũng như các sử gia hiện thời đều tiết lộ: Áo tặng vua Quang Trung đều ướp hương dược. Hương dược đó thấm qua da, làm cho huyết áp cao, đưa đến vua Quang Trung băng hà . ; Trở lại 7 chữ: Xa tâm chiết trục đa điền thử, Thì chữ Xa với chữ Tâm thành chữ Huệ. Chiết trục là xe gãy trục long bánh. Thử là năm Tý. Kết lại vua Quang Trung sẽ băng vào năm Nhâm Tý (1792).