Tìm kiếm bài viết theo id

Điển hay Tích lạ (sưu tầm)

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi phongthuythoinay, 8/5/09.

ID Topic : 907092
Ngày đăng:
8/5/09 lúc 11:56
  1. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Tham gia ngày:
    5/1/09
    Tuổi tham gia:
    17
    Bài viết:
    648
    Áo Gấm Mặc Đêm

    "Áo gấm mặc đêm" nguyên Hán văn là "Y cẩm dạ hành" do câu "Kim hữu nhất nhân, cách bích diêu linh chỉ văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình; phú quý bất hoàn hương như y cẩm dạ hành" (Nghĩa là "Nay có người cách vách rung lục lạc chỉ nghe tiếng mà không thấy hình; giàu sang mà không về xứ như áo gấm mặc đêm") của Trương Lương đời Tây Hán.

    Nguyên Sở Hạng Võ chiếm đất Quang Trung là đất hưng vương, núi non hiểm trở; còn Hán Lưu Bang vì thế lực yếu nên phải bị đày vào đất Bao Trung.

    Trương Lương, tự Tử Phòng, người nước Hán vốn là tay mưu sĩ của Lưu Bang, muốn tìm cách làm cho Hạng Võ bỏ đất Quang Trung để Lưu Bang trở lại chiếm giữ.

    Trương Lương liền giả một tên đạo sĩ mắc bệnh phong ma, nói điên, nói cuồng. Lưng buộc tiền đồng, tay áo đựng trái lê, gõ mõ đi khắp đường, khi ở chùa chiền, đình miếu, khi thì lang thang ở phố phường, vãy tiền hoặc liệng trái lê cho bọn trẻ chạy theo xem. Trước, lũ trẻ chưa quen còn ở xa, dần dần chúng không còn sợ sệt nữa nên xáp lại gần.

    Trương Lương ngắm trong lũ trẻ ấy có đứa nào thông minh mới dắt lần vào miếu vắng người, lấy bánh và tiền cho, rồi dạy nó hát: "Kim hữu nhất nhân cách bích diêu linh, chỉ văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình; phú quý bất hoàn lương như y cẩm dạ hành". Khi đứa bé thuộc làu, Trương Lương bảo nó trở về truyền lại cho những đứa khác, và dặn nếu có ai hỏi thì bảo là trời dạy.

    Đứa bé vâng lời. Chẳng bao lâu lời hát đó được phổ biến khắp cả xóm. Nó lại thấu đến tai vua Sở.

    Hạng Võ nghĩ đó là diêu ngôn. Câu "kim hữu nhất nhân" là ám chỉ nhà vua. Còn câu "cách bích diêu linh, chỉ văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình" là nói nhà vua tuy đã có danh tiếng nhưng chưa được truyền rộng ra. Câu cuối "Phú quý bất hoàn hương như y cẩm dạ hành" là có ý muốn nói nhà vua tuy đã được thiên hạ mà chẳng về xứ sở thì cũng như mặc áo gấm đi đêm.

    Vì nghĩ thế nên nhà vua cho người khởi công kiến thiết lài Bành Thành là cố hương của nhà vua và chọn ngày dời đô.

    Hạng Võ đã mắc kế Trương Lương vì một câu hát.





    Còn tiếp...........
     
  2. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Bách Bộ Xuyên Dương


    "Bách bộ xuyên dương" là đứng xa trăm bước bắn trúng lá dương.

    Đời Xuân Thu (551-479 trước D.L.), tướng Dưỡng Do Cơ và Phan Đảng đều là người nước Sở, có tài thiện xạ. Một hôm, cả hai thử tài nhau chơi.

    Phan Đảng bắn luôn ba phát đều trúng đích bia. Dưỡng Do Cơ nói:
    - Nhà ngươi bắn trúng đích bia, chưa lấy gì làm lạ. Ta trăm bước bắn trúng lá dương.

    Mọi người đứng chung quanh lấy làm lạ, hỏi. Dưỡng nói:
    - Đánh dấu vào một lá cây dương, ta đứng xa trăm bước, bắn một phát trúng giữa lá ấy nên mới gọi là "bách bộ xuyên dương".

    Để thưởng thức tài họ Dưỡng, mọi người kéo nhau đến cây dương. Một người lấy mực đánh dấu vào một chiếc lá. Dưỡng Do Cơ đứng xa trăm bước, giương cung lấp tên bắn ra một phát. Không thấy tên rơi xuống đất, mọi người đổ đến cây xem. Thì ra cây tên ấy vướng trên cành cây dương, còn mũi xuyên qua chiếc lá đã bôi mực. Phan Đảng nói:
    - May được trúng đấy thôi. Bây giờ, ta theo thứ tự mà đánh dấu vào ba chiếc lá, nhà ngươi lại theo thứ tự mà bắn trúng được cả ba thì mới là kiệt hiệt.

    Sau đó, Phan Đảng liền đánh dấu ba chiếc lá. Mỗi chiếc mỗi chỗ: chiếc đề chữ "nhất", chiếc đề chữ "nhị", chiếc đề chữ "tam". Dưỡng Do Cơ nhìn qua một lượt, đoạn lui ra ngoài trăm bước, lại theo thứ tự của mỗi chiếc lá: một, hai, ba mà bắn luôn ba phát, đều trúng cả. Mọi người chấp tay xá, nói:
    - Quả thật là thần nhân.
    Phan Đảng lòng khen thầm nhưng cũng muốn khoe tài mình, bảo:
    - Bắn như thế cũng là giỏi, nhưng nghề bắn cần có sức khỏe mới được. Ta có thể bắn suốt qua được mấy lần áo giáp.

    Đoạn bảo quân sĩ xếp áo giáp bảy lần liền nhau, dầy gần một thước. Mọi người cho là khó bắn qua được. Phan Đảng lại sai đem bảy lần áo giáp ấy treo lên trên đích bia, đoạn đứng xa trăm bước, cố sức thẳng cánh giương cung bắn một phát. Chỉ nghe tiếng tên bay vút đi mà không thấy tên rơi xuống đất, mọi người đổ lại xem, reo ầm lên:
    - Thật tài! Thật tài!
    Nguyên Phan Đảng bắn mạnh quá, tên ấy xuyên thấu bảy lần áo giáp như đinh đóng cột. Phan có vẻ tự đắc, truyền cho quân sĩ đem mấy lần áo giáp ấy xuống, và vẫn để mũi tên găm như vậy, định đưa cho tất cả trại lính cùng xem. Nhưng Dưỡng Do Cơ bảo:
    - Khoan đã, đừng hạ xuống vội. Để ta thử bắn một phát nữa xem sao?
    Mọi người vui vẻ đồng ý.
    Nhưng Dưỡng Do Cơ giương cung toan bắn lại thôi. Chúng nhân lấy làm lạ hỏi, Dưỡng nói:
    - Nếu cứ theo lối cũ mà bắn như vậy thì không lấy gì hay lạ. Ta sẽ có một cách bắn khác hơn.

    Nói xong liền bắn ngay một phát.
    Mũi tên đi không cao, không thấp, không lệch về tả hữu mà lại cắm thẳng ngay cái đốc tên của Phan Đảng và đẩy mũi tên này sang qua bên kia. Còn mũi tên của Dưỡng Do Cơ thì thay vào cắm chỗ thủng ấy.
    Mọi người xem thấy đều lắc đầu le luỡi và hoan hô nhiệt liệt.
    Bấy giờ Phan Đảng mới chịu phục.

    Trong sử lại có chép: vua Sở đi săn ở Kinh Sơn, gặp một con vượn có tài bắt tên giỏi lắm. Vua Sở truyền quân vây mấy vòng rồi giương cung bắn. Nhưng phát nào vuợn cũng bắt được cả. Vua Sở truyền gọi Dưỡng Do Cơ đến. Con vượn nghe tiếng "Dưỡng Do Cơ" liền kêu gào ầm lên, ra vẻ sợ hãi. Dưỡng Do Cơ đến, bắn trúng ngay giữa bụng con vượn. Xem thế, Dưỡng là người bắn giỏi nhất đời Xuân Thu.

    Trong tác phẩm "Lục Vân Tiên" của cụ Đồ Chiểu, đoạn Võ Thể Loan tiễn Lục Vân Tiên đi thi, có lời khuyên:
    "Chàng dầu cung Quế, xuyên dương,
    Thiếp xin hẹn chữ tao khương đạo hằng".

    "Xuyên dương" do điển tích trên và có ý nghĩa mưu việc thành tựu.





    Còn tiếp..........
     
  3. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Bán Kiên Cung
    Kiếm Nhất Trạo Giang Sơn


    "Bán kiên cung kiếm nhất trạo giang sơn..." nguyên do 2 câu thơ:
    "Bán kiên cung kiếm bằng thiên tuấn,
    Nhất trạo giang sơn tận địa duy".
    Nghĩa:
    "Nửa vai cung kiếm tận trời cao,
    Non sông khắp cõi xông pha một chèo".

    Đây là 2 câu thơ khí phách của Hoàng Sào, tướng giặc đời nhà Đường.

    Nguyên nhà Đường từ đời vua Đại Tông (763-765) đến Hy Tông (874-888) thì quốc thế càng suy vi. Phiêu trấn hoành bạo ở ngoài, hoạn quan chuyên chính bên trong. Phiên trấn thì nắm quyền thưởng phạt sinh sát nhân dân trong tay; hoạn quan thì thiện tiện phế lập vua chúa.

    Chính cuộc đã nguy như thế làm cho mối loạn trong dân gian ngày càng tăng gia nguy ngập. Những bần cố nông phải bỏ trốn lưu lạc. Một số có ít đất ruộng bị kiêm tính cũng bỏ quê quán mà thành lưu vong, hoặc tụ họp làm trộm cướp, hoặc làm điền hộ ở các trang viên.

    Tài chính bị kiệt quệ, kho tàng nhà nước hư không, triều đình phải đánh thuế nặng. Vừa binh tai, lại xảy ra thủy tai và hạn tai luôn năm làm cho nhân dân càng lâm vào tình trạng cực kỳ khốn khổ.

    Lúc bấy giờ ở Tào Châu, làng Xích Tướng có một người tên Hoàng Sào tự Cự Thiên, vốn con của một nhà bán muối. Sào rất thông minh, văn võ đều giỏi nhưng vẻ người rất xấu. Năm Càng Phủ thứ ba (876) đời vua Hy Tông, Hoàng Sào đi thi đỗ được Võ cử Trạng Nguyên. Vua thấy hình dung cổ quái của Sào nên không dùng, đuổi Sào đi.

    Hoàng Sào ra khỏi triều môn trở về, giữa đường ghé quán nghỉ, lòng đầy căm tức. Sào nghĩ thầm:
    - Khi đăng bảng mở khoa thi thì nói chọn người văn chương và võ nghệ mà thôi, chớ không thấy nói chọn người mặt mày đẹp đẽ. Nếu ta biết hôn quân muốn lấy diện mạo chọn người thì ta có đi thi làm chi cho uổng công.
    Tức khí quá, Hoàng Sào lấy bút mực viết một bài thơ trên vách quán rồi bỏ ra đi:
    "Lược thao như mỗ đáng phong hầu,
    Mắt thịt hôn quân dễ biết đâu?
    Nếu được đôi ba ngàn tử đệ,
    Đoạt thâu thiên hạ bốn trăm châu".
    Tào Châu Hoàng Sào tự Cự Thiên đề.

    Quân tuần thành đến quán trông thấy bài thơ liền chép lại dâng lên vua. Nhà vua tức giận truyền họa đồ hình Hoàng Sào và ra lệnh tập nã. Sào hay tin, không dám đi đường lớn nữa mà phải lặn lội trong rừng núi để về quê.

    Có truyện chép rằng: một hôm Hoàng Sào ghé vào chùa nghỉ, có tiên cho mượn bảo kiếm. Sào định thử kiếm mới bảo các sư trong chùa tìm nơi ẩn trốn kẻo bị bảo kiếm chém nhằm.

    Đến giờ ngọ, Hoàng Sào ra đứng giữa trời, nhìn ngay mặt trời khấn rằng:
    - Tôi là Hoàng Sào tự Cự Thiên, nghĩ vì đời vua này vô đạo, chẳng kể hiền tài cứ nghe lời gian nịnh cho nên đạo tặc phong khởi, hào kiệt ly tâm, thiên hạ nhiễu nhương, trăm họ thống khổ. Vậy tôi muốn ra sức trừ loài gian nịnh, cứu nạn cho sinh linh, đoạt lấy xã tắc, sửa trị ngôi trời. Nay tôi muốn thử sức kiếm báu xin hoàng thiên giúp sức nếu vạn sự kết quả như lòng tôi muốn thì xui tôi chém một kiếm cho tốt.

    Đoạn, cầm kiếm ra khỏi cổng chùa, nhìn chung quanh không thấy ai cả. Thấy một cây đại thọ ở bên đường, Sào liền đưa kiếm lên chém phạt ngang một kiếm. Cây đại thọ đứt hai đổ xuống, nhưng có làn máu đỏ vọt ra. Sào cực kỳ ngạc nhiên nhìn kỹ lại là ông sư cả ở chùa, đầu đã lìa khỏi mình lăn long lóc theo thân đại thọ. Thì ra vì ông sư cả nghe lời của Hoàng Sào bảo mọi người trong chùa phải tìm chỗ ẩn trốn khi Sào thử kiếm báu, nhưng ông không biết chỗ nào trốn cho kín. Ông lấy làm lo sợ quá, nhìn thấy một cây đại thọ có cái bộng to nên chui vào đó, ý định toàn thân.......không ngờ lại không toàn!

    Hoàng Sào đau lòng than thở, đoạn quảy gói mang kiếm lên đường, thẳng lên Thái Hành Sơn chiêu binh mãi mã.

    Non một năm, Sào chiêu mộ được trăm muôn binh thêm một số tướng tá văn võ kiêm toàn: Châu Ôn, Thượng Nhượng, Liễu Ngạn Chương, Liễu Ngạn Tùy, Các Tùng Châu, Đặng Thiên Vương, Mạnh Tuyết Hải. Hoàng Sào đặt Thượng Nhượng làm quân sư và các tướng toàn Tổng Binh. Thế lực rất mạnh.

    Hoàng Sào tự hiệu là Xung Thiên đại tướng quân, đem hơn 10 vạn quân đoạt được nhiều châu khác và vượt qua sông Dương Tử, xuống cướp miền Giang Nam, ra phía đông đến Chiết Giang, lại đánh Phúc Châu, Kiến Ninh, rồi thẳng đường xuống đoạt Quảng Châu. Ở đây, Hoàng Sào giết hại rất nhiều nhân dân trong thành thị, cùng 20 vạn người ngoại quốc buôn bán, gồm những giáo đồ Hồi Hồi, Cơ Đốc, Bái Hỏa, và người Do Thái, người Hy Lạp.

    Sau vì miền Nam có bệnh dịch, Hoàng Sào kéo quân lên Bắc. Năm 880, vây hãm Đông Đô rồi chiếm lấy Trường An, cướp phá và giết chóc những người quý tộc, quan lại và phú hào, nhiều không kể xiết. Vua Hy Tông bấy giờ phải bỏ hoàng thành chạy vào đất Thục. Hoàng Sào tự xưng là Đại Tề hoàng đế. Thật là thỏa chí bình sinh.

    Hoàng Sào trước muốn cứu muôn dân ra khỏi cảnh lầm than tang tóc, nhưng đến khi thực hành thì lại chẳng cứu muôn dân mà còn gây thảm họa chết chóc cho nhân dân nhiều thêm nữa. Tướng Châu Ôn là bộ hạ của Hoàng Sào lại đầu hàng quan triều. Trong số hơn 50 vạn quân của Sào, một số chán ghét Sào bỏ chạy theo Châu Ôn. Còn vua Hy Tông sau khi trốn chạy vào Tứ Xuyên, nhờ người Tây Đột Quyết là Lý Khắc Dụng đem quân cứu viện. Triều Đường được trung hưng.

    Năm 884, Hoàng Sào bị Lý Khắc Dụng đánh bại rồi bị tên bộ hạ ám sát tại Biện Châu. Có sách chép là Hoàng Sào đánh trận bị thương nặng trở về tư dinh, đâm cổ tự tử.

    Trong tác phẩm "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn tả khí phách của Từ Hải có câu:
    "Giang hồ quen thú vẫy vùng,
    Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo".
    Hai câu này thoát ý câu thơ của Hoàng Sào như trên:
    "Bán kiên cung kiếm bằng thiên tuấn,
    Nhất trạo giang sơn tận địa duy".

    Cũng trong tác phẩm "Đoạn Trường Tân Thanh", đoạn Thúy Kiều khuyên Từ Hải hàng triều đình, có câu:
    "Ngẫm từ khởi việc binh đao,
    Đống xương Vô Định (1) đã cao bằng đầu,
    Làm chi để tiếng về sau?
    Ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào?"


    "Hoàng Sào" là do điển tích trên.
    Kiều đem Hoàng Sào ra để thuyết Từ Hải biết là Từ có tài giỏi dũng lược như Hoàng Sào chăng nữa, thì cũng chỉ lưu lại đời sau cái tiếng làm giặc mà thôi.


    Nhưng ở đời từ xưa đến nay, thắng làm vua thua làm giặc là một lẽ thường.


    -------------------
    (1) Đống xương Vô Định là đống xương người chết trận ở bờ sông Vô Định. Đây là con sông chảy từ tỉnh Tuy Viễn qua phủ Diên An tỉnh Thiểm Tây vào sông Hoàng Hà. Ngày xưa bên bờ sông này đã có nhiều trận giao phong giữa quân Trung Hoa và quân Hung Nô. Người chết quá nhiều. Thơ Trần Đào đời Đường có câu:
    "Khả lân Vô Định hà biên cốt".
    Nghĩa là: "Đáng thương cho đám xương ở bờ sông Vô Định".





    Còn tiếp.........
     
  4. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Bi Ca Tán Sở



    "Bi ca tán Sở" là một bài hát do Trương Lương đặt ra cho hòa theo tiếng tiêu thổi để làm tan rã quân đội Sở Bá Vương Hạng Võ.

    Trương Lương tự Tử Phòng, người nước Hán, đời Tần-Hán (221 trước - 195 sau Dương lịch), phò Hán Bái Công Lưu Bang. Lúc bấy giờ, Hạng Võ bị tướng soái nhà Hán là Hàn Tín bao vây tại Cửu Lý Sơn ở phía bắc thành Từ Châu. Tuy lâm vào tinh thế nguy ngập: thiếu lương, nhưng bên cạnh vua Hạng còn 8 ngàn tử đệ theo từ lúc ban đầu, ở vào lúc cùng, họ quyết tử chiến mở con đường máu, thẳng về Giang Đông tu chỉnh binh mã để tiếp tục cuộc chiến đấu.

    Như vậy là một mối nguy cho Hán, dù có đại thắng bằng binh lực tất phải trả một giá rất đắt bằng xương máu. Vì thế, Trương Lương hiến kế là tìm cách phân tán 8 ngàn tử đệ để cô lập Hạng Võ. Có thế mới bắt Hạng Võ được.

    Trương Lương liền thừa lúc đêm khuya thanh vắng trời cuối thu lạnh lẽo, Trương đi qua lại từ Kê Minh Sơn đến Cửu Lý Sơn, vừa thổi tiêu vừa hát:

    "Tiết trời cuối thu chừ, bốn phía đầy sương.
    Trời cao nước cạn chừ, tiếng nhạn bi thương
    Cực người biên thú chừ, ngày đêm bàng hoàng,
    Thoát gươm mắc tên chừ, sa mạc phơi xương.
    Mười năm xa quê chừ, cha mẹ đau buồn.
    Vợ con mong nhớ chừ, gối chiếc chăn đơn.
    Đồng ruộng bỏ hoang chừ, ai người trông nom.
    Xóm có rượu ngon chừ, cùng ai thưởng thức,
    Tóc bạc mong con chừ, tựa cửa sớm hôm,
    Trẻ khóc gọi cha chừ, nước mắt trào thôn.
    Gió bấc kia thổi chừ, ngựa Hồ nhớ chuồng.
    Người xa quê hương chừ, nỡ quên xóm làng,
    Một sớm giao phong chừ, thân bỏ sa tràng,
    Xương thịt như bùn chừ, trên bãi trong mương.
    Hồn phách bơ vơ chừ, không nơi tựa nương,
    Tráng chí lừng danh chừ, phó trả hoang đường.
    Đêm trường canh vắng chừ, tự hỏi thiên lương,
    Mau bỏ Sở tan chừ, tránh chết tha phương,
    Ta vâng ý trời chừ, soạn ca thành chương,
    Ai biết mạng trời chừ, xin đừng mơ màng
    Hán vương nhân đức chừ, không giết quân hàng.
    Ai muốn về quê chừ, tha cho lên đường,
    Chớ giữ trại không chừ, Sở đã tuyệt lương
    Khi Võ bị bắt chừ, ngọc đá khôn lường.
    Mượn tiếng Sở chừ, khuyên quân Sở hàng
    Phổ thành điệu nhạc chừ theo sáu cung.
    Tiếng tiêu Tử Tư chừ nơi Đan dương
    Khúc hát Trâu Diễn chừ tại Yên đường.
    Tiếng tiêu vang chừ, chín từng mây.
    Gió thu về chừ, cuối thu nầy,
    Sở kia mất chừ, chạy đâu đây!
    Thời không đợ chừ, nhanh tựa bay.
    Lời ca chừ, ba trăm chữ dài
    Câu câu chữ chữ rõ ràng thay.
    Khuyên người nghe cho kỹ càng,
    Chậm tính, uổng đời thân chiến binh." (1)

    Nguyên Văn:
    "Cửu ngoạt thâm thu hề tứ dã phi sương,
    Thiên cao thủy hạt hề hàn nhạn bi thương.
    Tối khổ thú biên hề nhựt dạ bàng hoàng,
    Phi kiên chấp nhuệ hề cốt lập sa cương.
    Ly gia thập niên hề phụ mẫu sinh biệt
    Thê tử hà kham hề độc tú cô phường.
    Tuy hữu du điền hề thục dữ chi thủ,
    Lân gia tửu thục hề vọng xuyên thu thủy,
    Trĩ tử ức niệm hề lụy đoạn can trường.
    Hồ mã tư phong hề thượng chi luyến thổ,
    Nhân sinh khách địa hề ninh vong cố hương
    Nhật đán giao binh hề đạo nhẫn chi tử
    Cốt nhục vi nê hề suy thảo hào lương.
    Hồn phách du du hề võng tri sở ỷ,
    Tráng chí liêu liêu hề phó chi hoang đường.
    Đương thử vĩnh dạ hề truy tư thoái!
    Cấp tảo tán Sở hề thố tử thù phương.
    Ngã ca khởi đản hề thiên khiển cáo nhử,
    Nhữ kỳ tri mạng hề vật vị diêu mang.
    Hán vương hữu đức hề hàng quân bất sát,
    Ai cáo qui tình hề phóng nhữ cao tường.
    Vật thủ không doanh hề lương đạo dĩ tuyệt,
    Chỉ nhật cầm Võ hề ngọc thạch câu thương.
    Sở chi thanh hề tán Sở tốt.
    Ngã năng xuy hề hiệp lục luật,
    Ngã phi Tư hề phẩm Đan dương.
    Ngã phi Trâu hề ca Yên thất
    Tiên âm triệt hề thông cửu thiên.
    Thu phong khởi hề Sở vong nhật.
    Sở ký vong hề nhữ yên quy
    Thời bất đãi hề như lôi tật.
    Ca hề ca hề tam bách tự.
    Tự cú tự cú hữu thâm ý.
    Khuyến quân mạc tác đẳng nhànkhan
    Nhập nhĩ quan tâm đương thục ký."

    Trương Lương tập quân Hán học tiếng Sở hát theo.

    Canh khuya, đêm vắng, khí trời lạnh lẽo, lá vàng rụng bay lả tả, tiếng tiêu thâm trầm, giọng hát bi thảm đồng vọng vào dinh Sở. Ban đầu, Sở quân chỉ buồn bã than thở, nhưng sau cùng, nghe đến chừng nào thì càng cảm thấy ruột gan tan nát, rồi nước mắt đầm đìa......đoạn bàn nhau bỏ trốn.

    Chỉ trong một đêm, tám ngàn tử đệ cùng quân sĩ các dinh, mười phần bỏ trốn hết bảy, tám. Binh Sở không đánh mà tự nhiên vỡ tan để Sở vương phải ôm hận đầy lòng, buông lời than ai oán:
    "Lực bạt san hề khí cái thế,
    Thời bất lợi hề chuy bất thệ"......
    Tạm dịch:
    "Sức nhổ núi chừ khí hơn đời,
    Thời bất lợi chừ ngựa chẳng đi".....


    -------------------
    (1) Dựa theo bản dịch của Hải Âu Tử.
     
  5. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Bình Nguyên Quân


    Trong tác phẩm "Đoạn Trường Tân Thanh" của Nguyễn Du, đoạn thuật lại lúc Từ Hải gặp gỡ Thúy Kiều, cả hai nói chuyện với nhau, có những câu:
    "............
    Chút riêng chọn đá thử vàng,
    Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?
    Còn như vào trước ra sau,
    Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?"
    Từ rằng: "lời nói hữu tình,
    Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân".

    Kiều tha thiết nói:
    "Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?"
    Và lời đáp của Từ Hải:
    "Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân".
    Lời lẽ và ý tứ hai câu vốn mượn ý và lời ở hai câu liền nhau trong bài "Hàm Đan thiếu niên hành" của Cao Tứ đời Đường:
    "Vị tri cam đảm hướng thùy thị,
    Linh nhân khước ức Bình Nguyên Quân".
    Nghĩa là:
    "Biết ai gan ruột như mình,
    Khiến người lại nhớ đến Bình Nguyên Quân".

    Nhưng Bình Nguyên Quân là gì? Là ai?

    Nguyên đời Chiến Quốc (479-221 trước D.L.), con của Vũ Linh Vương nước Triệu tên Thắng, làm tướng quốc và được phong đất Bình Nguyên nên thường gọi là Bình Nguyên Quân.

    Cũng như Mạnh Thường Quân (người nước Tề), Tín Lăng Quân (người làm tướng nước Ngụy), Bình Nguyên Quân người rất hiếu khách. Trong nhà bao giờ cũng có thực khách đến hàng ngàn người.

    Khi quân nước Tần (1) vây kinh đô nước Triệu (2) là Ham Đan, vua nước Triệu phải sai Bình Nguyên Quân đến nước Sở (3) cầu cứu bằng cách liên minh. Bình Nguyên Quân định chọn lấy 20 người đủ sức khỏe, mưu mẹo trong số thực khách cùng đi. Nhưng chỉ chọn được 19 người.

    Một thực khách tên Mao Toại bước ra, tình nguyện đi cho đủ số. Bình Nguyên Quân hỏi:
    - Tiên sinh ở nhà này được bao lâu?
    Mao Toại đáp:
    - Đã được 3 năm.
    Bình Nguyên Quân nói:
    - Phàm bậc hiền sĩ ở đời chẳng khác gì cái dùi ở trong cái túi, bao giờ mũi nhọn cũng thò ra ngoài. Tiên sinh ở đây đã đến 3 năm mà tôi chưa từng thấy người chung quanh tôi khen ngợi điều gì, thế là tiên sinh không có đặc tài thì xin mời tiên sinh ở lại nhà.
    Mao Toại nói:
    - Chính ngày nay tôi mới xin làm cái dùi trong túi đó. Nếu tôi sớm được như cái dùi trong túi thì chẳng những chỉ thò mũi nhọn ra, mà lại còn nhảy tuột cả ra ngoài nữa.

    Nghe lời đáp lạ lùng, Bình Nguyên Quân bằng lòng cho đi. Mười chín thực khách kia nhìn nhau có vẻ xem thường, cười thầm.

    Đến nước Sở, Bình Nguyên Quân cùng vua Sở bàn việc liên minh, giải bày lợi hại, từ sáng sớm mãi đến trưa mà vẫn chưa ngã ngũ ra sao. Mười chín thực khách kia bèn bảo Mao Toại rằng:
    - Xin mời tiên sinh lên đi.
    Mao Toại cầm kiếm bước lên thềm, nói với Bình Nguyên Quân rằng:
    - Việc liên minh lợi hại thế nào, chỉ nói vài lời cũng quyết định được, thế mà bàn bạc từ sáng đến trưa vẫn chưa ra bề nào là cớ làm sao?
    Vua nước Sở hỏi ai, thì Bình Nguyên Quân cho biết đó là người nhà. Vua Sở quát:
    - Sao không lùi xuống? Ta đương nói chuyện với chủ ngươi, lên đây làm gì?
    Mao Toại vẫn cầm kiếm, tiến lên, đỉnh đạc nói:
    - Nhà vua sở dĩ quát tháo mắng tôi là vì cậy nước Sở có đất rộng người nhiều. Nhưng từ chỗ nhà vua đến chỗ tôi đứng chỉ trong 10 bước, thì tính mạng của nhà vua là ở trong tay tôi. Cậy thế nào được đất rộng người nhiều kia? Hiện có chủ tôi ngồi đó mà nhà vua quát tháo tôi thì còn lễ độ gì? Vả tôi nghe rằng: vua Thang chỉ nhờ khoảng đất 70 dặm mà làm vua thiên hạ. Vua Văn chỉ nhờ một vùng 100 dặm mà khuất phục được chư hầu, có phải đâu là vì nhiều sĩ tốt? Nay nước Sở nếu biết giữ được thế, chấn được uy thì sẵn đất vuông 5 ngàn dặm, dưới cờ kể có 100 vạn quân, đủ sức để làm bá vương đó. Sức mạnh như thế, đáng lẽ thiên hạ không sao địch nổi, thế mà thằng nhãi Bạch Khởi, tước của nước Tần, chỉ đem có vài vạn quân đánh nhau với nước Sở, trận đầu đã chiếm được đất Yên Sinh, trận thứ hai lại đốt mất Di Lăng, trận thứ ba phạm đến cả lăng tẩm của tiên vương nước Sở. Đó là mối thù đến muôn đời, ngay nước Triệu chúng tôi còn hổ thẹn thay, thế mà nhà vua không biết căm giận. Vậy ngày nay, liên minh chính là vì nước Sở chứ không phải vì nước Triệu. Chủ tôi ngồi đó, nhà vua quát tháo tôi là nghĩa làm sao?
    Vua nước Sở gật gù bảo:
    - Phải, phải! Công việc nước tôi, đúng như lời tiên sinh nói. Vậy tôi xin đem cả nước để liên minh.
    Đoạn tất cả tôi chúa đều uống máu ăn thề.
    Mao Toại cười nói với 19 người:
    - Đối với sự thành công này, các ông chỉ là theo đuôi, vấy máu ăn phần đó thôi. (4)

    Thực hiện được cuộc liên minh, Bình Nguyên Quân trở về nước Triệu, nói:
    - Thôi, ta không còn dám xét đoán người nữa. Xưa nay ta đã từng xét thiên hạ, kể số nhiều thì đến hàng ngàn người, mà ít thì cũng hàng trăm, vẫn tự hào rằng chưa hề bỏ xót ai cả. Thế mà đến nay tự biết mình trước kia đã không nhận rõ đặc tài của Mao tiên sinh. Khi sang nước Sở, Mao tiên sinh đã làm cho nước Triệu được vô cùng tôn kính. Mới biết tiên sinh đã khéo dùng ba tấc lưỡi mạnh hơn trăm vạn quân. Thôi, từ đây ta không dám xét người nữa.
    Rồi ông cất Mao Toại lên hàng thượng khách.

    Tuy dùng người mà Bình Nguyên Quân vẫn tự nhận đã thiếu sót trong việc xét người. Lời nói đó thật là tri kỷ tri bỉ vậy.


    -------------------
    (1) Một nước lớn thời Chiến Quốc ở vào tỉnh Thiểm Tây ngày nay.
    (2) Một nước lớn thời Chiến Quốc ở vào tỉnh Trực Lệ và Sơn Tây ngày nay.
    (3) Một nước lớn thời Chiến Quốc ở vào vùng Hồ Bắc, Hồ Nam bây giờ.
    (4) Ngày xưa người ta dùng huyết gà, chó, ngựa, v.v.....để cùng nhau uống máu ăn thề. Thành ngữ "vấy máu ăn phần" để chỉ những kẻ bất tài xu phụ người lấy lợi do lời của Mao Toại mà ra.



    Còn tiếp........
     
  6. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Bối Thủy Trận


    Hán đánh Triệu. Tướng Hán là Hàn Tín bảo các tướng sĩ của mình:
    - Hôm nay phá Triệu ắt thành công. Vậy ba quân chỉ ăn cơm sơ qua cho đỡ lòng. Trong chốc lát phá Triệu rồi sẽ ăn no.
    Tướng sĩ chưa dám tin nhưng phải gắng gượng vâng theo. Hàn Tín lại đem 1 muôn binh đóng nơi mé nước, sau lưng là một con sông to. Tướng sĩ của Triệu thấy Hàn Tín dàn trận như thế thì cho là cầm quân vụng về. Họ tin tưởng sự thắng lợi sẽ nắm chắc trong tay; và bao nhiêu quân Hán đóng ở trước sông không chỗ rút lui sẽ bị tiêu diệt hay làm mồi cho thủy chúa.

    Hàn Tín nổi trống kéo quân ra khỏi vàm Tỉnh hình. Binh Triệu khai đồn ra đánh. Hai bên giáp chiến được một lúc, Hàn Tín cùng tướng sĩ quăng cờ ném trống bỏ chạy xuống bờ sông. Binh Triệu thấy thắng thế, bỏ đồn trống, xông ra giành lấy cờ trống của Hán, đồng thời rượt theo Hàn Tín. Bấy giờ, quân đội đóng ở bờ sông đổ xô ra chận đánh binh Triệu. Chỉ có một con đường tiến tới, quân Hán nỗ lực đánh nhầu, một chống với mười, khí thế rất hăng. Binh Triệu phải rút lui trở về, thì thấy đồn đã bị quân Hán chiếm lấy. Trên đồn cờ Hán bay phất phới như ngạo nghễ.

    Nguyên 2 ngàn binh Hán theo lệnh của Hàn Tín núp tại Kỳ Sơn, chờ binh Triệu bỏ đồn hăng hái giành cờ trống và đuổi theo Hàn Tín thì xung phong vào đồn Triệu, chiếm lấy một cách dễ dàng. Binh Triệu bấy giờ như chim mất ổ, rối loạn hàng ngũ, vỡ chạy tứ tán. Tướng Triệu là Trần Dư ra sức cản ngăn, giết hết mấy tên quân, nhưng cũng không thể ổn định được tình thế.

    Trần Dư lại bị binh Hán bao vây, cuối cùng chết tại trận. Binh Hán thừa thắng đánh thẳng vào thành, bắt được vua Triệu.

    Các tướng hỏi Hàn Tín rằng:
    - Phép đóng binh, bên hữu phải có gò núi, bên tả phải có bưng chầm, sao tướng quân khiến bọn tôi lập bối thủy trận mà thắng được giặc?
    Hàn Tín nói:
    - Ấy cũng ở trong binh pháp cả, tại các ông không nghĩ đến. Trong binh pháp có nói: để vào chỗ tử địa thì sống, để vào chỗ vong địa thì còn. Nếu đem người đến chỗ sinh địa mà đánh, gặp địch mạnh thì bỏ chạy hết, như vậy còn gì binh!
    Các tướng đều chịu cho là hay.
     
  7. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Con "Quốc Quốc"


    Con "Quốc Quốc" vốn là chim Cuốc. Tiếng "Quốc Quốc" do cách tá âm "cuốc cuốc" mà ra. Trong bài "Qua Đèo Ngang" của bà huyện Thanh Quan có câu:
    "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia."

    Chim Cuốc còn có tên là Đỗ Quyên, Tử Quy hay Đỗ Vũ. Giống chim này, đầu mỏ hơi cong, miệng to đuôi dài, lưng màu tro, bụng sắc trắng có một đường đen thẳng ngang. Nó thường lũi trong bụi rậm dưới ao sâu hoặc hồ rộng. Cuối xuân sang hè thì bắt đầu kêu. Giọng thê thảm khiến khách lữ hành động lòng nhớ nhà, nhớ quê hương.

    Chim này không tự làm ổ lấy, đẻ trứng vào ổ chim Oanh. Chim Oanh ấp, nuôi cho đến lớn.

    Sự tích chim Cuốc có nhiều thuyết.

    Có điển cho rằng vua nước Thục là Đỗ Vũ thông dâm với vợ một bề tôi là Biết Linh, Biết Linh dấy loạn. Vua Thục thất bại, mất ngôi, chạy trốn vào rừng. Đoạn này sách "Thành Đô Ký" lại nói: vua Thục thông dâm với vợ Biết Linh. Biết Linh biết chuyện, bày kế cho vợ nói khích Đỗ Vũ nhường ngôi cho Biết Linh rồi cùng vợ Biết Linh bỏ nước đi, để sống cho trọn tình chung. Đỗ Vũ nghe theo, giao nước cho Biết Linh nhưng vợ Biết Linh bấy giờ bỏ Đỗ Vũ, trở lại sống cùng chồng.

    Buồn khổ, nhớ nước, sau thác, Thục Đế hóa thành chim Đỗ Quyên, ngày đêm kêu mãi không thôi.

    Trong "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ Nguyễn Du đoạn tả về khúc đàn Kiều gảy cho Kim Trọng nghe lúc tái hợp, có câu:
    "Khúc đâu êm ái xuân tình,
    Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên."

    Lại cũng có điển chép: Thục Đế An Dương Vương ở nước ta (207 trước D.L.?), vì con gái là Mỵ Châu bị lừa, trao nỏ thần cho chồng là Trọng Thủy nên phải thua trận và nhảy xuống biển tự tử. Vì nhớ nước nên hóa thành chim Cuốc, ngày đêm kêu lên những tiếng não ruột.

    Thuyết sau này e không đúng. Vì tiếng "Đỗ Quyên", "Đỗ Vũ" nguồn gốc vốn ở Trung Hoa.

    Thật không có tiếng gì kêu bi thảm, não nuột cho bằng tiếng chim Cuốc. Những buổi trưa hè nắng chang chang hay những đêm hè tịch mịch, tiếng chim Cuốc trong những bụi rậm hay trong bụi niễng dưới đầm vọng lên làm lòng người cảm thấy bi ai một cách lạ lùng. Nó gợi lên được sự nhớ nhung một thời oanh liệt xa xôi nào; có khi nó thúc giục và làm bừng dậy cái tinh thần ái quốc nồng nàn đang tiềm tàng trong lòng người dân thời nước mất nhà tan.

    Thi ca cổ điển Việt Nam dùng rất nhiều điểm về chim Cuốc.

    Trần Danh An, một di thần nhà Lê (1428-1788), nghe tiếng Cuốc kêu cũng cảm xúc, nhớ lại một triều đại hưng thịnh, một công nghiệp dựng nước của Thái Tổ (1), tài đức của Thái Tông (2).....Hôm nay, Chiêu Thống hèn nhát, họ Trịnh chuyên quyền, lòng ái quốc thiết tha sống động trong tâm hồn thi sĩ; nhưng thi sĩ cảm thấy mình bất lực trước thời cuộc nên đành gói ghém tâm sự di thần của mình trong mấy vần thơ:
    "Giá Cô tại Giang Nam
    Đỗ Quyên tại Giang Bắc
    Giá Cô minh gia gia
    Đỗ Quyên minh quốc quốc
    Vi cầm do hữu quốc gia thanh,
    Cô thần đối thử tình vô cực".
    Nghĩa:
    "Chim Gia Cô ở bờ sông Nam,
    Chim Đỗ Quyên ở bờ sông Bắc,
    Giá Cô kêu gia gia,
    Đỗ Quyên kêu quốc quốc
    Chim nhỏ còn kêu tiếng nước nhà
    Cô thần đối cảnh tình man mác".

    Bà huyện Thanh Quan khi qua đèo Ngang đã mượn tiếng Cuốc kêu để diễn tả tâm sự thầm kín của mình đối với công nghiệp của triều Lê đã mất:
    "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia."
    Nhưng tiếng Cuốc ở đây lại càng lâm ly, não nùng hơn nữa!

    Đứng trước thành Cổ Loa, xưa kia nơi đây là cung miếu của vua Thục, nhà thơ Chu Mạnh Trinh bất giác sinh lòng hoài cổ. Cung miếu đó, xưa kia tráng lệ huy hoàng bao nhiêu thì ngày nay điêu tàn quạnh quẽ bấy nhiêu. Trong cảnh vắng vẻ lạnh lùng này, dưới ánh trăng mờ nhạt, tiếng cuốc khắc khoải năm canh vọng lên buồn bã.
    ....."Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt,
    Trăng mờ khắc khoải Cuốc kêu thâu" (3)
    Nguyên văn:
    ....."Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu,
    Đỗ Quyên để đoạn nguyệt âm âm".


    -------------------
    (1) Tức Lê Lợi, khởi nghĩa chống giặc Minh 10 năm và giải phóng được đất nước.
    (2) Vua thứ hai đời nhà Hậu Lê, nối ngôi Lê Thái Tổ.
    (3) Bản dịch của Tiền Đàm.
     
  8. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Cái "Gia Gia"


    Cuối đời nhà Thương (1783-1154 trước D.L) vua Trụ hoang dâm vô đạo, tàn hại lê dân, người người oán giận.

    Văn vương là Cơ Xương, vốn là một chư hầu của nhà Thương, nhân từ đức hạnh, được các chư hầu và dân chúng kính phục. Văn vương lại có một người tôi tài giỏi là Khương Tử Nha phò tá làm cho chính trị trong nước ngày càng hưng vượng. Văn vương chết, truyền ngôi cho con là Cơ Phát, lấy hiệu Võ vương.

    Sau Võ vương nghe lời quần thần, hội chư hầu đem binh phạt Trụ mong cứu dân chúng thoát cảnh lầm than. Bá Di và Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc nghe thấy, ra nắm dây cương ngựa của Võ vương, nói rằng:
    - Cha chết chưa chôn mà đã chăm việc chinh chiến, thế có gọi là hiếu được không? Bầy tôi giết vua để cướp nước, thì có gọi là nhân được không?
    Võ vương bảo:
    - Vua Trụ hoang dâm vô đạo, sát hại lê dân làm giận lòng người, trái ý trời. Nếu ta thủ phận, ngồi nhìn sự hà khắc của vua Trụ thì muôn dân còn trông cậy vào đâu! Hơn nữa,, giang sơn có riêng gì của vua Trụ, ngày xưa vua Thành Thang chẳng chinh phạt vua Kiệt nhà Hạ để dựng nên nhà Thương đó sao?
    Bá Di, Thúc Tề chẳng nghe, cho Võ vương là bội chúa. Những cận thần của Võ vương tức giận, muốn giết cả hai. Tử Nha can:
    - Không nên. Hai ông ấy là người nghĩa.
    Đoạn, bảo quân lính đẩy hai ông ra.

    Sau Võ vương thắng trận, Trụ vương thiêu mình, lập thành nhà Chu, các chư hầu đều thần phục. Bá Di, Thúc Tề lấy làm hổ thẹn, coi thóc gạo cũng là của nhà Chu mà không ăn nữa. Hai ông lên ẩn ở núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn, và làm bài hát "Thái vi" (hái rau vi) rằng:
    "Lên núi Tây Sơn chừ, ta hái rau vi.
    Kẻ bạo thay bạo chừ, biết phải trái gì.
    Thần Nông, Ngu, Hạ (1) đã qua chừ, ta biết đâu mà quy y.
    Đành chịu vậy chừ, vận mạng ta suy."
    Nguyên văn:
    "Đăng bỉ Tây Sơn hề thái kỳ vi hĩ,
    Dĩ bạo dịch bạo hề bất tri kỳ phi hĩ.
    Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một hề ngã an thích quy hĩ.
    Vu ta tồ hề mạng chi suy hĩ".

    Nhưng một hôm có người bảo hai ông:
    - Đất bây giờ là đất của nhà Chu, thiên hạ là thiên hạ của nhà Chu, hai ông đã chê, không ăn cơm gạo nhà Chu mà hái rau vi của giang sơn nhà Chu thì có khác gì.
    Hai ông cho là có lý nên từ ấy nhịn ăn mà chết.

    Tương truyền, hai ông vì uất ức, oan hồn chưa tan nên biến thành một loại chim, thường gào thét một giọng bi thảm:
    - Bất thực túc Chu gia.....Bất thực túc Chu gia (2)
    Người ta bảo đó là chim Đa Đa do âm gia gia mà ra.

    Trong bài "Qua đèo ngang tức cảnh" của bà huyện Thanh Quang, có câu:
    "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, (3)
    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia".

    Nguyễn Công Trứ có làm bài thơ "Vịnh Di, Tề":
    "Danh chẳng màng, lợi cũng chẳng mê.
    Ấy gang hay sắt hỡi Di, Tề?
    Gặp xe vua Võ tay dừng lại,
    Thấy thóc nhà Chu mặt ngoảnh đi.
    Cô Trúc hồn về sương mịt mịt,
    Thú Dương danh tạc đá tri tri.
    Cầu nhân chẳng đặng nhân mà chớ,
    Chẳng trách ai chi, chẳng oán chi."


    -------------------
    (1) Thần Nông, thuộc về Tam Hoàng (Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông) dạy người làm ruộng.
    Ngu Thuấn, một trong Ngũ Đế (Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn).
    Hạ, vua Vũ đời nhà Hạ (2205-1818 trước D.L.). Đây là những vị minh quân đời thượng cổ.
    (2) "Không ăn lúa nhà Chu......Không ăn lúa nhà Chu".
    (3) Xem bài "Con Quốc Quốc".
     
  9. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Can Tương, Mạc Gia


    Can Tương và Mạc Gia là tên hai vợ chồng người rèn kiếm. Mà cũng là tên hai thanh kiếm báu ngày xưa ở bên Trung Hoa.

    Nguyên đời Xuân Thu, vua nước Ngô (1) là Hạp Lư muốn có những thanh kiếm báu, mới đắp một cái thành ở Ngưu Thủ Sơn để đúc mấy ngàn thanh kiếm, gọi là Biển Chư. Tuy vậy chưa vừa ý, nhà vua tìm được người nước Ngô tên Can Tương, cho ở cửa Tượng Môn để đúc những thanh kiếm thật sắc, chém đá như chém bùn.

    Can Tương được lệnh nhà vua cho vào kho và khắp toàn quốc tìm vàng và sắt tốt. Đoạn chọn ngày giờ, Can Tương sai các đồng nam và đồng nữ cả thảy 300 người, ngày đêm đốt than nấu. Nhưng suốt cả 3 tháng trời, vàng sắt vẫn không chảy. Can Tương lấy làm lạ, không biết tại sao. Người vợ là Mạc Gia bảo rằng:
    - Những bảo vật của thần linh tất phải đợi nhân khí mới thành tựu được. Nay phu quân đúc kiếm suốt 3 tháng không thành, hoặc giả thần linh còn chờ đợi nhân khí chăng?
    Can Tương nói:
    - Ngày xưa thầy ta cũng đúc mãi mà kiếm không thành, nên cả hai vợ chồng phải nhảy vào lò, bấy giờ mới kết quả. Về sau, ai đúc kiếm ở chân núi ấy cũng phải làm lễ tế lò. Nay ta đúc kiếm mãi không được, hay là cũng phải thực hành như thế!
    Mạc Gia nói:
    - Thầy ta còn bỏ thân để đúc nên thần kiếm, khó gì mà ta không noi gương.
    Đoạn, Mạc Gia tắm gội sạch sẽ ra đứng ở bên lò. Sai các đồng nam, đồng nữ kéo bể đốt than. Giữa lúc lửa cháy phừng phực, Mạc Gia liền nhảy ngay vào lò. Được một lúc, vàng và sắt đều chảy ra cả.

    Bấy giờ, Can Tương đúc được hai thanh kiếm. Thanh đúc trước lấy tên là Can Tương. Thanh đúc sau lấy tên là Mạc Gia. Can Tương giấu lại một thanh kiếm, chỉ đem thanh kiếm Mạc Gia dâng cho Hạp Lư. Vua Ngô cầm thanh kiếm chém thử vào viên đá thì viên đá đứt đôi ra. Nhà vua thưởng cho Can Tương 100 nén vàng.

    Sau, vua Ngô biết Can Tương giấu lấy một thanh, mới sai người đến đòi và bắt buộc nếu không chịu giao trả thì sẽ xử tử. Can Tương đem thanh kiếm ra xem. Thanh kiếm ở trong bao nhảy ra, hóa thành một con rồng xanh. Can Tương cưỡi con rồng ấy bay lên trời đi mất. Sứ giả về tâu với Hạp Lư. Nhà vua thở dài, luyến tiếc, lại càng quý trọng thanh kiếm Mạc Gia, mới thuê người làm kim câu để đeo thanh kiếm vào mình. Lại truyền lệnh: ai làm kim câu giỏi, giá trị thì được thưởng 100 nén vàng.

    Người trong nước đua nhau làm kim câu để dâng. Có một Câu Sư tham giải thưởng to, giết chết hai con thơ, lấy máu tươi hòa với sắt đúc thành 2 cái kim câu đem dâng cho Hạp Lư. Qua mấy hôm sau, Câu Sư đến cửa cung nhà vua xin lãnh thưởng. Hạp Lư hỏi:
    - Kim câu của nhà ngươi có gì đặc biệt hơn của người ta không mà đến đòi lãnh thưởng?
    - Có. Vì muốn được thưởng, tôi đã giết chết hai con để đúc thành hai cái kim câu ấy. Người khác bì thế nào được.
    Nhà vua truyền đem 2 cái kim câu ấy ra. Nhưng thị vệ tâu rằng: vì bỏ lẫn vào đám kim câu khác, cái nào cũng giống nhau, không thể tìm được. Câu Sư lại van nài xin cho xem tất cả. Thị vệ đem ra một đống kim câu. Nhưng Câu Sư cũng không nhìn được cái nào là của mình, mới cất tiếng kêu lên:
    - Ngô Hồng và Hổ Kê ơi! Ta đây, sao 2 con không hiển linh trước mặt đại vương?
    Vừa dứt lời, lạ thay, hai cái kim câu trong đống nhảy ra, ấp vào ngực Câu Sư. Hạp Lư kinh sợ, bảo:
    - Ừ, thế thì nhà ngươi nói thực.
    Đoạn thưởng cho Câu Sư 100 nén vàng. Từ bấy giờ, nhà vua quý trọng 2 kim câu như thanh kiếm Mạc Gia, và đeo chúng hẳn bên mình.

    Về sau, thanh kiếm này không biết lạc về đâu.
    Cách hơn 600 năm, đến triều nhà Tấn (265-419), có quan thừa tướng tên Trương Hoa trông thấy trên trời có khí lạ, liền triệu một người giỏi về thiên văn là Lôi Hoán đến hỏi. Lôi Hoán nói:
    - Đó là cái tinh bảo kiếm ở về địa phận Phong Thành.

    Trương Hoa lập tức bổ Lôi Hoán làm huyện lệnh ở Phong Thành. Lôi Hoán đào nền ngục thất, bắt được một cái rương bằng đá, dài hơn 6 thước, rộng hơn 3 thước. Mở ra xem, trong có 2 thanh kiếm. Lấy thứ đất ở núi Tây Sơn mà chùi đánh thì ánh sáng rực rỡ. Lôi Hoán đem dâng cho Trương Hoa một thanh, còn một thanh giữ lại cho mình. Trương Hoa xem thanh kiếm, bảo:
    - Đây tức là thanh kiếm Can Tương, còn thanh kiếm Mạc Gia đâu mất. Tuy vậy, thần vật thế nào rồi cũng hợp nhau.
    Một hôm, Lôi Hoán và Trương Hoa cùng đeo kiếm đi qua bến Diên Bình Tân. Tự nhiên hai thanh kiếm bỗng nhảy xuống nước mất. Vội vàng sai người lặn xuống nước tìm thì thấy có hai con rồng ngũ sắc, vểnh râu, trừng mắt, làm cho người này hốt hoảng vội trồi lên. Từ đó, hai thanh kiếm hoàn toàn mất tích.


    -------------------
    (1) Một nước chư hầu đời Xuân Thu, ở vào địa phận phía Nam sông Hoài, sông Tứ cho đến tỉnh Chiết Giang.
     
  10. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Chắp Cánh, Liền Cành

    "Chắp cánh, liền cành" tức là "Chim chắp cánh, cây liền cành".

    Sách Nhĩ nhã chép: chim Kiêm giống chim le le, lông màu xanh, chỉ có một cánh và một mắt, thường ở phương Nam. Mỗi khi muốn bay thì hai con phải chắp cánh với nhau mới bay được. Chim này gọi là Tỷ Dực điểu, cũng gọi là Kiêm Kiêm.
    Cây liền cành là cành của hai cây giao nhau.

    Nguyên đời Chiến Quốc (479-221 trước D.L.), vua nước Tống tên Yển vốn người hiếu sắc, dâm bạo. Một hôm đến chơi ở gò Phong Phụ, bắt gặp một phụ nữ hái dâu rất đẹp. Vua dọ hỏi biết là vợ của nho sĩ Hàn Phùng, người họ Tức. Vua liền cho đòi Hàn, bảo đem vợ lại hiến mình. Hàn sợ uy quyền, về thuật cho vợ nghe và khóc hỏi có bằng lòng không? Tức thị làm thơ để tỏ ý mình:
    "Núi nam có con chim
    Núi bắc giăng lưới bắt.
    Chim mặc sức bay cao,
    Lưới kia đành quăng vất"

    Vua Tống say mê sắc đẹp của nàng, theo đuổi không thôi. Liền sai người đến tận nhà Hàn, cướp lấy người ngọc. Hàn thấy vợ bị bắt đưa lên xe đi, lòng đau như cắt, biết không phương giải cứu, kiếp này khó họp, đau đớn quá mà tự tử.

    Vua Tống đem Tức thị lên đài Thanh Lăng, cưỡng bách, bảo nàng:
    - Ta đây là vua một nước, có đủ uy quyền sinh sát trong tay. Muốn phúc, ta cho phúc. Muốn họa, ta cho họa. Huống chi chồng nàng đã chết, nàng còn ở với ai. Nếu bằng thờ quả nhân, cùng ta vai bắt mặt kề thì sẽ được phong hoàng hậu.
    Tức thị nổi giận làm thơ tỏ ý mình:
    "Chim có trống mái,
    Chẳng theo phượng hoàng.
    Thiếp là thứ dân,
    Chẳng thích Tống vương".
    Vua Tống tức quá, bảo:
    - Nàng đến đây rồi, dẫu không muốn thờ ta cũng không thể được.
    Tức thị thấy thế cùng, nói:
    - Để thiếp tắm gội, thay áo, lạy linh hồn chồng cũ rồi sẽ xin hầu đại vương.
    Vua Tống bằng lòng cho.
    Tức thị tắm gội, thay áo xong, ngửa trông lên không, chắp tay vái hai vái rồi từ trên lầu đâm đầu xuống đất. Vua Tống hoảng hốt, vội níu lại nhưng không kịp, trong nàng đã tắt thở rồi. Khám xem trong mình nàng có một bức thư. Đại ý nói: sau khi chết xin cho đem thi thể cùng chôn một mộ với chồng, dưới suối vàng sẽ đội ơn sâu.
    Vua Tống cả giận, cho người chôn riêng một nơi, làm hai mộ cách xa nhau. Được ba hôm, bỗng một đêm có giống cây Văn Tử mọc ở cạnh hai ngôi mộ. Chỉ trong tuần nhật, cây ấy dài hơn ba thước, những cành quấn quít lấy nhau như một. Thỉnh thoảng có một đôi chim uyên ương đậu ở trên cành, giao đầu kêu nhau một giọng bi thương. Người trong xóm thương xót, cho đó là oan hồn của vợ chồng Hàn Phùng hóa sinh; và gọi thứ cây ấy là "cây Tương Tư".

    Trong tác phẩm "Đoạn Trường Tân Thanh" của Nguyễn Du có câu:
    "Trong khi chắp cánh liền cành,
    Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên".
    "Chắp cánh liền cành", ý nói: vợ chồng gắn bó.

    Trong "Chinh Phụ Ngâm" của Đặng Trần Côn, có câu:
    "An đắc tại thiên vị Tỷ Dực điểu,
    Tại địa nguyện vi liên lý chi".
    Nghĩa là:
    "Trên trời nguyện hóa chim liền cánh,
    Dưới đất làm cây nhánh dính liền".
    Để nói ý: vợ chồng gắn bó chung thủy đời đời, không bao giờ xa rời nhau.
     
  11. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Chim Việt, Ngựa Hồ


    Cổ thi có câu:
    "Hồ mã tê Bắc phong,
    Việt điểu sào Nam chi".
    Nghĩa là:
    "Ngựa Hồ hí gió Bắc,
    Chim Việt ở cành Nam".

    Chim Việt là loài chim sinh ở đất Việt, thuộc phía Nam nước Trung Hoa. Mỗi năm cứ đến buổi đầu thu, từng đàn chim Việt bay sang phương Bắc để kiếm ăn. Vì khi thu sang, phương Bắc có nhiều chỗ có giống lúa mới vừa chín, lại thêm có nhiều hoa quả. Trái lại ở phương Nam vì mới giao mùa, lúa vừa đọng sữa, cây trái hiếm. Do đó, chim Việt phải đổ sang đấy kiếm ăn.
    Tuy sang phương Bắc nhưng đàn chim Việt vẫn nhớ quê hương. Muốn làm ổ, chúng chọn cành cây chĩa về phương Nam, tức là phương của quê nhà mà chim sinh trưởng.
    Chim Việt (Việt điểu) để chỉ chim nhớ quê hương cố quốc.

    Ngựa Hồ là ngựa ở nước Hồ. Nước này ở về phương Bắc nước Trung Hoa mà ngày xưa người Trung Hoa thường cho là nước man rợ hay cũng gọi là Phiên quốc. Ngựa Hồ cao lớn, leo núi rất giỏi, chạy rất nhanh. Người Trung Quốc thường mua về làm ngựa chiến trận. Nước Hồ vốn là xứ lạnh. Khi đông về, gió bấc thổi, tuyết rơi lả tả, gió lạnh tê tái.
    Ngựa Hồ tuy về Trung Quốc là nơi tương đối ấm áp hơn nhưng vẫn nhớ đến đất Hồ tê lạnh mỗi độ đông vệ. Vì thế khi có gió bấc là gió phương Bắc thổi đến, tuyết rơi lả tả nơi đất Trung Nguyên thì ngựa cất tiếng hí lên thê thảm tỏ lòng nhớ cố hương.

    Có sách lại chép: nước Hồ đem ngựa cống vua Hán ở Trung Nguyên. Ngựa được nhốt vào chuồng cho ăn uống thật ngon và được chăm sóc rất kỹ. Nhưng khi gió bất thổi đến thì ngựa lại bỏ cả ăn uống, ngóng về phương Bắc hí vang lên những tiếng bi thảm.

    ""Chim Việt Ngựa Hồ" trở nên thành ngữ có nghĩa bóng là không quên nơi quê hương cố quốc dù ở nơi đất khách quê người.

    Trong tác phẩm "Trinh Thử" của Hồ Huyền Qui có câu:
    "Chỉ con chim Việt đỗ rày cành Nam".
     
  12. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    ĐÀO NGUYÊN

    Vào đời nhà Tấn,tại huyện Võ Lăng có một ông lão làm nghề chài lưới,một hôm đánh cá dọc theo khe núi ông lão thấy một đóa hoa đào trôi từ khe núi ra.Ông lão nghĩ có hoa đào trôi trên sông thì ắt ở thượng nguồn có trồng đào.Thế là ông lão quyết chí đi ngược khe núi để tìm và sau cùng thuyền của ông đến một nơi có rất đông người ở,cuộc sống sung túc.Ở đây được trồng rất nhiều hoa quý,nhất là hoa đào.

    Ông lão đi vào trong xóm hỏi thăm thì được người dân cho biết họ vốn là người nước Tần nhưng không chịu được chế độ hà khắc của Tần Thủy Hoàng nên rủ nhau đến nơi này ở.

    Lưu lại chốn Đào Nguyên vài hôm,ngư ông thấy cảnh sống an nhàn,trai thanh gái lịch thật thanh tao,khả ái.

    Sau đó,ông lão chào mọi người trở lại chốn cũ.Người trong làng đến hỏi thăm và khi nghe ông lão kể chuyện ai cũng muốn vào thăm động Đào Nguyên.Nhưng khi ông trở lại thì không thấy động Đào Nguyên đâu cả.

    Mọi người cho rằng ông lão đã lạc vào cảnh tiên.Từ đó,đời sau đã dùng chữ Đào Nguyên để chỉ nơi tiên cảnh,an nhàn,thanh tịnh.


    Truyện hoa tiên có câu:
    " Nào hay là khách Đào Nguyên đã về."

    Trong truyên Kiều của Nguyễn Du có câu:
    "Rước mừng đón hỏi dò la,
    Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây."
     
  13. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Kết Cỏ Ngậm Vành



    Ngụy Thù, người nước Tấn, có người vợ lẻ trẻ đẹp. Lúc Ngụy Thù gần chết, không muốn cho người vợ thuộc về người khác, bèn dặn con là Ngụy Khỏa phải chôn sống nàng chung trong áo quan của mình. Ngụy Thù chết, Ngụy Khỏa động lòng trắc ẩn nên tha cho người vợ trẻ. Về sau, Ngụy Khỏa đi đánh tướng nhà Tần là Đỗ Hồi trên đồng cỏ xanh. Tự nhiên Đỗ Hồi vướng chân vào cỏ và ngã xuống, bị Ngụy Khỏa đâm chết. Đêm hôm ấy Ngụy Khỏa nằm chiêm bao thấy cha của người vợ lẻ Ngụy Thù hiện đến và nói: "Tôi cám ơn ông đã không chôn sống con gái tôi, cho nên đã kết cỏ quấn quanh chân Đỗ Hồi cho nó ngả."

    Thời Đông Hán, có người tên Dương Bảo đi chơi, thấy một con chim sẻ bị chim cắt đánh rơi, bèn đem về săn sóc nuôi nấng, đến khi chim mạnh thì thả bay đị Về sau, bỗng có đứa trẻ mặc áo vàng, cầm bốn cái vành ngọc đến tạ ơn" "Tôi cám ơn ông đã cứu mạng tôị Tôi tặng ông bốn vành ngọc nàỵ Ai có được nó thì con cháu sẽ đời đời được giàu có vinh hiển."

    "Kết cỏ ngậm vành", ý nói lòng biết ơn sâu sắc người đã giúp đỡ mình.
     
  14. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Chu Công Thổ Bộ


    Chu Công tên Đán, người đời nhà Chu (1135-221 trước D.L.), có tài trị nước.

    "Thổ bộ" do nguyên câu: "Nhất phạn tam thổ bộ" nghĩa là "một bữa ăn phải nhả cơm ba lần".

    Nhà Thương (Ân) truyền được hơn 600 năm thì đến vua Trụ tên Ân Thọ là vua dâm bạo. Văn Vương Cơ Xương vẫn thờ nhà Ân nhưng đến con là Võ Vương tên Cơ Phát hội các chư hầu phạt Trụ, diệt nhà Ân lên ngôi, đóng đô ở Cảo Kinh, đặt quốc hiệu là Chu, tức là Tây Chu.

    Võ Vương làm vua, em là Chu Công Đán giúp việc chính trị, tôn trọng chiêu đãi người hiền. Chu Công xem gương hưng vong của các đời Đường, Ngu, Hạ, Thương thấy rằng chỉ là do chư hầu (các tù trưởng) phục hay bất phục nên đem đất đai chiếm được phong lại cho các tù trưởng cũ. Chỉ có các địa điểm trọng yếu thì phong cho các công thần cùng con em để khống chế chư hầu cũ và làm hàng rào cho vương thất.

    Chư hầu mới cũ đều theo đất phong lớn nhỏ mà chịu tước Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Đất phong của Công, Hầu là 100 dặm vuông, của Bá là 70 dặm, của Tử, Nam là 50 dặm. Người được đất không đến 50 dặm gọi là phụ dung.

    Chu Công lại đặt ra lễ nhạc, mỗi nghi thức ở triều đình, mỗi trật tự trong gia tộc đều được quy định chặt chẽ. Về nông nghiệp, Chu Công đặt phép tỉnh điền. Một khoảng đất rộng chừng 5, 6 trăm mẫu chia nhau 9 khu theo hình chữ "tỉnh". Tám gia đình chia nhau 8 khu ở chung quanh và phải chung sức cày cấy khu ở giữa để nộp cho vua. Phép tỉnh điền có lợi là làm cho tài sản nhân dân khỏi chênh lệch.

    Sử chép dưới triều này, nước Việt Nam lúc đó gọi là Việt Thường, sai sứ sang cống chim bạch tử. Chu Công chế xe Chỉ Nam (nguồn gốc của địa bàn) để đưa sứ ta về nước, phòng lạc đường. Đây là một thời cực thịnh của đời nhà Chu mà phần lớn do tài đức của Chu Công xây dựng.

    Ở ngôi được 13 năm, Võ Vương mất, Thành Vương còn nhỏ. Chu Công giữ quyền nhiếp chính để phò ấu chúa. Có bọn bầy tôi cũ của vua Trụ phao ngôn là ông sẽ cướp ngôi của cháu. Thấy Thành Vương không trị tội kẻ phao tin nhảm mà còn tỏ ý hoài nghi, ông bèn trả chức vị lui về ấp riêng, soạn tập thơ "Xuy Hiền" gởi cho nhà vua. Thành Vương xem xong, lấy làm hối hận lại rước Chu Công về làm phụ chính.

    Chu Công chẳng những có tài về chính trị còn có đức tính quý trọng kẻ sĩ người hiền. Khi tắm gội hay đang ăn cơm, nghe có kẻ sĩ đến, ông liền bới tóc hay nhả cơm ngay để ra đón tiếp. Sách "Sử Ký" có chép: Chu Công răn ông Bá Cầm rằng "Một buổi tắm gội, ta phải bới tóc ba lần, một bữa ăn ta phải nhả cơm ba lần để đứng dậy ra tiếp kẻ sĩ. Thế mà còn lo không thu phục được người hiền trong thiên hạ đấy!". Nguyên văn: "Ngã nhất mộc tam ác phát, nhất phạn tam thổ bộ, khởi dĩ đãi sĩ, do khủng thất thiên hạ chi nhiền nhân".

    "Chu Công thổ bộ" ý nói Chu Công trọng vọng kẻ sĩ. Đó là một tấm gương sáng cho những người lãnh đạo việc nước cần phải quý trọng kẻ sĩ, trọng người hiền để tìm bậc hiền giả cùng mình mưu lo đại cuộc cho đất nước.

    Trong bài "Đoản Ca Hành" của Tào Tháo đời Tam Quốc có câu:
    "Sơn bất yếm cao,
    Thủy bất yếm thâm.
    Chu Công thổ bộ,
    Thiên hạ quy tâm".
    Dịch ý:
    "Núi sông cách trở là bao,
    Chu Công trọng vọng, anh hào về theo". (1)


    -------------------
    (1) Bản dịch của Tử Vi Lang
     
  15. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Chức Cẩm Hồi Văn


    Đời nhà Tấn (265-419) ở đất Thần Châu có nàng Tô Huệ, tự Nhược Lan. Nàng có dung nhan kiều mỵ, tài đức song toàn, văn chương xuất chúng. Khi Tô được 20 tuổi, cha mẹ đính gả cho hàn sĩ Đậu Thao, người cùng quê. Vợ chồng ăn ở đầm ấm. Nàng Tô rất mực chìu chồng, đảm đương tất cả mọi việc gia đình để cho Đậu Thao có đủ thì giờ theo đuổi trau giồi nghiên bút. Người ở quanh vùng đều cho là hạnh phúc và hết sức ngợi khen nàng.

    Sau, Đậu Thao đỗ đạt làm quan, may mắn được nhậm chức tại Thần Châu, không phải đi đâu xa cả. Gia đình đã đầm ấm hạnh phúc lại càng đầm ấm hạnh phúc hơn.

    Nhưng rồi vì công vụ cần thiết, vua truyền Đậu Thao ra trấn đất Lưu Sa. Vì nơi gian lao hiểm trở nên Đậu Thao đành phải để vợ ở nhà.

    Thời gian qua......

    Ba năm chờ đợi, nàng Tô ngày càng sức vóc mỏi mòn, dung nhan tiều tụy. Đêm đêm bên ngọn đèn khuya, nàng ngồi âm thầm đối bóng, tủi phận hờn duyên, lo ngại thân chồng mà giọt châu tầm tã. Lòng đau dằng dặc, nỗi nhớ triền miên nên hồn thơ dâng trào lên ngọn bút làm thành 10 bài tứ tuyệt. Nàng lại lấy gấm vuông độ chừng 1 thước, dùng chỉ ngũ sắc dệt 10 bài tứ tuyệt ấy lên trên theo hình trôn ốc, từ ngoài xoáy tròn vào trung tâm bức gấm.

    Nàng thêu khéo, chữ hay, nên bức gấm trông cực kỳ tuyệt mỹ. Xong, nàng tự tay dâng lên nhà vua. Thấy lạ, vua truyền cho quần thần đọc, nhưng cả triều không ai đọc được. Vua đành gọi nàng. Đứng giữa triều, Tô cất tiếng ngâm với một giọng não nùng bi thảm:

    "Quân thừa hoàng, chiếu an biên thú,
    Tống quân tống biệt Hà kiều lộ.
    Hàm bi yểm lụy tặng quân ngôn
    Mạc vong ân tình tiện trường khú.

    Hà kỳ nhất khứ âm tín đoạn,
    Ý thiếp bình vi xuân bất noãn.
    Quỳnh dao giai hạ bích đài không.
    San hô trướng lý hồng trần mãn.

    Thử thời đạo biệt mỗi kinh hồn,
    Tương tâm hà thác cánh phùng quân.
    Nhất tâm nguyện tác thương hải nguyệt
    Nhất tâm nguyện tác lãnh đầu vân.

    Lãnh vân tuế tuế phùng phu diện,
    Hải nguyệt niên niên chiếu đắc biên.
    Phi lai phi khứ đáo quân bang
    Thiên lý vạn lý giao tương kiến.

    Thiều thiều lộ viễn quan san cách,
    Hận quân tái ngoại trường vi khách.
    Khứ thời tống biệt lư diệp hoàng
    Thùy kính kỷ kinh mai hoa bạch.

    Bách hoa tán loạn phùng xuân tảo,
    Xuân ý thôi nhàn hướng thùy đạo.
    Thùy dương mãn địa vị quân phan,
    Lạc hoa mãn địa vô nhân tảo.

    Đình tiền xuân tảo chính phân phương,
    Bảo đắc tần tranh hướng họa đường.
    Vị quân đàn đắc Giang Nam khúc,
    Phó ký tình thâm đáo sóc phương.

    Sóc phương thiều đệ san hà việt.
    Vạn lý âm thư trường đoạn tuyệt.
    Ngân trang chẩm thượng lệ chiêm y,
    Kim lũ la thường hoa giai liệt.

    Tam xuân hồng nhạn đệ giang thanh,
    Thử thị ly nhân đoạn trường tình,
    Tranh huyền vị đoạn trường tiên đoạn,
    Oán kết tiên thành khúc vị thành.

    Quân kim ức thiếp trọng như san,
    Thiếp diệt tư quân bất tạm nhàn.
    Chức tương nhất bản hiến Thiên Tử,
    Nguyện phóng nhi phu cấp tảo hoàn".



    Bài này có nhiều người dịch. Dưới dây là bản dịch của Hoàng Quang.


    "Chàng vâng chiếu ra yên cõi ngoại,
    Thiếp đưa chàng tới lối cầu sông.
    Ngậm sầu giọt lệ nhắn lòng,
    Chớ tham chốn khác mà vong tình này.

    Trông tin tức tới nay thăm thẳm,
    Để buồng hương chẳng ấm hơi xuân.
    Từ ngày đôi ngã cách phân,
    Màn dần bụi bám, thềm dần rêu phong.

    Tưởng ly biệt nỗi lòng kinh sợ,
    Thiếp với chàng bao thuở gặp nhau.
    Nguyện làm trăng giữa biển sâu,
    Nguyện làm mây phủ trên đầu non cao.

    Trăng giữa biển năm nào cũng thấy,
    Mây đầu non đường mấy cũng thông.
    Bay qua bay lại bên chồng,
    Dầu ngàn muôn dặm xa trông như gần.

    Quan san ấy mấy lần trở cách,
    Hiềm nỗi chàng làm khách rất lâu.
    Chàng đi mới ố bông lau,
    Mà nay mấy độ trắng mầu hoa mai.

    Hoa trăm thức xuân vui hớn hở,
    Xuân giục người than thở với ai.
    Dương kia đủ những tơ dài,
    Hoa kia rã cánh không người quét cho.

    Sân xuân sớm thơm tho trăm thức,
    Chốn họa đường lựa bậc đàn tranh.
    Giang Nam năm khúc rành rành,
    Mượn đầu năm móng gởi tình sóc phương.

    Sóc phương ấy đôi đường diệu vợi,
    Âm thư này nhắn gởi không thông,
    Gối riêng nước mắt tuôn dòng,
    Xiêm thêu áo vẽ lâu cùng mực tan.

    Ba xuân tới tiếng nhàn nhắn gởi,
    Xuân giục người bối rối như tơ.
    Năm dây còn đó sờ sờ;
    Buồn đà đứt ruột, gảy chưa rồi đàn.

    Chàng thương thiếp còn hơn núi nặng,
    Thiếp nhớ chàng tình chẳng kém thua.
    Dệt đem bức gấm dâng vua,
    Xét lòng dạ thiếp tha cho chồng về."

    Ngâm xong, nàng Tô nước mắt đầm đìa. Nhà vua quá cảm động không dám nhìn nàng, vội hạ chiếu cho Đậu Thao về ngay.

    Mười bài thơ ấy được truyền tụng, với bức gấm thêu, ai cũng nức nở khen cho Tô là mt bậc kỳ tài. Trước họ gọi bức gấm thơ ấy là "Toàn Loa Đồ" (1), sau lại cho tên không xứng với giá trị của tác phẩm nên đổi là "Hồi Văn Cách" (2), nhưng cũng vẫn chưa thấy thỏa đáng. Cuối cùng, họ lại đổi và thêm tên tác giả là "Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn".

    Thông cảm mối tình sâu đậm của nàng Tô, cổ nhạc Việt Nam có người đã dựa theo bài "Chức Cẩm Hồi Văn" mà sáng tác một bài hát điệu Nam Ai, cũng nhan đề "Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn". Lời lẽ lưu loát, ý tình nồng nàn. Nhưng không biết tên tác giả là ai. Bài như thế này:

    "Khi vâng chiếu chỉ ra đề cờ,
    Từ chàng đi, thiếp bặt tin đợi chờ.
    Hồng nhạn kêu thu sông Hớn bơ vơ.
    Áo não nùng khiến dạ ngẩn ngơ.
    Trách bấy ông Tơ gieo chi mối sầu như tóc tơ.
    Nghĩ mấy lời từ hồi ban sơ.
    Nhớ những khi thiếp nguyện trăm năm tam tùng thờ.
    Chàng mần răng ý lẳng lơ.
    Chân đi thăm thẳm, mắt ngóng luống nhớ cách núi ải, biết chừ trao thơ.
    Má phấn duyên phai lạt, hồng nhàn trông đợi chờ
    Trướng lý để bụi trần nhơ.
    Kìa cờ ai, nghe tiếng trống vẫn bóng xa xa
    Hay là chiếu triệu chồng ta.
    Chốn giang biên, chàng ôi có hay chăng là
    Để lụy tương tư nầy như chút phận Hằng Nga.
    Đêm đông quạnh quẽ, tiếng quyên hòa.
    Gìn lòng son nỡ để cho trăng già
    Luông tuồng bao nỡ vắng bặt nhạn tin qua.
    Hay là ong bướm đã say đắm mê hoa,
    Chim ô thước qua sông Ngân Thường,
    Nỡ nào để cho loan phụng Sâm Thương.
    Chẳng biết no nao cá nước hội một trường,
    Kẻo năng nề hai chữ uyên ương.
    Ong bướm dẫu say mê hoa hường,
    Cũng đoái tưởng chút nghĩa tào khương.
    Chim bao nài bay qua cho tỏ tường.
    Để trông đợi tháng ngày thương.

    Trông tin chàng, đêm nằm mơ màng,
    Tỉnh giấc hoè trằn trọc thở than.
    Năm canh sầu riêng lo cho bạn vàng,
    Phận làm trai hiếu nghĩa trung cang
    Bệ ngọc trên báu kiếm sắc phán.
    Chốn giang biên ra khử trừ đảng gian.
    Nước non xa muôn dặm, da người bọc mình chàng.
    Tuyết sương lạnh nơi chốn Đồng Quan
    Chàng trừ mô ra giai đấu khởi ngụy bang,
    Cho rồi, đặng trở về Trường An.
    Kẻo để tương tư nầy mày xanh sầu võ vàng.
    Soi đài gương luống thẹn hồng nhan.
    Châu rơi lã chã lệ tuôn đôi hàng,
    Hiềm vì ai xui duyên nợ lỡ làng.
    Ngàn trùng xa cách như khách ở ngoại bang.
    Bao nỡ bỏ cái nghĩa Ngưu Lang,
    Thuở ra đi lau lá vàng,
    Bây chừ đã trắng mai rỡ ràng.
    Cung quế xơ rơ bóng nguyệt đã tàn.
    Ơn kia chưa trả oán nọ liền mang.
    Nghe tiếng dế năm canh mơ màng,
    Ngỡ lạc ngựa chàng đã hồi bang.
    Bởi duyên cớ nào bạc đen lòng phụ phàng.
    Để gió thảm mưa sầu khan.
    Chẳng biết nơi nao yên gót trở về
    Trên ngai vàng bạc thẻ bêu kia.
    Răng rứa bạn niềm tây nhớ nghĩa, nhớ nghĩa
    Hổ phận nầy như chút phận bèo kia.
    Mây bay khói tỏa in cờ rìa,
    Trống trường thành giục điểm canh khuya.
    Bâng khuâng nhớ chàng như nhạn chít lìa.
    Thiếp lạy ông Trời: chớ có phân chia.
    Từ chàng ra chốn cung đao,
    Thiếp trông tin chàng tựa cá trông sao.
    Ôm gối phụng chờ trông áo não, áo não.....
    Sao quên lời núi hẹn sông giao.
    Ai đi lấp thảm cho khuây má đào
    Tương tư nầy rằng thấu cung cao.
    Ơn trên tha về đặng tỏ nỗi âm hao". (3)
    -------------------
    (1) Bức đồ hình tròn trôn ốc
    (2) Bài văn có tác dụng làm cho người đi biên thùy được trở về.
    (3) Vì không tìm được bản chiíh, chỉ nghe người ca truyền mà sưu tập lại, hẳn có ít chỗ chưa được ổn đáng. Vậy xin cáo lỗi cùng tác giả và bạn đọc; và mong được bổ chính cho. Nhân đây xin cảm tạ lòng tốt của ông Ngô Văn Lương (ở Bạc Liêu), người đã giúp một phần tài liệu này.
     
  16. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Cỏ Ngu Mỹ Nhân


    Hán, Sở giao tranh tại Cai Hạ. Đây là trận cuối cùng quyết định thắng bại của đôi bên.

    Tướng soái của Hán Vương Lưu Bang là Hàn Tín đem trăm vạn quân siết chặt vòng vây, quyết tiêu diệt Sở Bá Vương Hạng Võ. Bị vây suốt mấy hôm, quân Sở, người thiếu lương, ngựa thiếu cỏ, trong một đêm chúng bỏ trốn gần hết. Chỉ còn 2 tướng là Hoàn Sở và Chu Lan.

    Sở Hạng Võ được tin báo, ra trướng nhìn quanh. Quân Sở bấy giờ chỉ còn độ hơn ngàn người. Sở Vương kinh hãi, buông tiếng thở dài não nuột, quay trở vào. Sở Hậu là Ngu Cơ đón tiếp, hỏi:
    - Việc quân hôm nay ra sao mà thiếp thấy sắc diện Đại Vương có chiều ê ủ?
    Sở Vương nói:
    - Lưu Bang thất phu, ngờ đâu có chí lớn. Quân ta sinh biến đã bỏ đi hết. Nay binh Hán đánh phá rất gấp, một mình ta khó mong địch lại. Nếu thoát khỏi vòng vây trở lại đất Giang Đông mới mong mưu đồ khôi phục, nhưng nghĩ đến nàng, lòng ta vô cùng chua xót.
    Ngu Cơ nghe nói nghẹn ngào, tức tưởi khóc:
    - Thiếp mong ơn Đại Vương luyến ái, tình sâu ghi khắc vào lòng. Nay bước cùng, Đại Vương muốn bỏ thiếp đi xa làm lòng thiếp như dao cắt ruột.
    Đoạn, nàng nắm chặt lấy áo Sở Vương, nước mắt lai láng. Cả hai bịn rịn không muốn lìa nhau. Sở Vương khiến kẻ tả hữu bày rượu ra, uống với Ngu Cơ vài chén, đoạn cất tiếng ca, lời rất bi tráng:
    "Lực bạc sơn hề khí cái thế,
    Thời bất lợi hề chuy bất thệ.
    Chuy bất thệ hề khả nại hà?
    Ngu hề, Ngu hề khả nại hà!"
    Tạm dịch:
    "Sức nhổ núi chừ khí hơn đời.
    Thời bất lợi chừ ngựa chẳng đi.
    Ngựa chẳng đi chừ biết làm sao?
    Ngu ơi! Ngu ơi! biết làm sao?"

    Ngu Cơ cảm động, cất giọng hòa lại:
    "Hán binh dĩ lược địa,
    Tứ diện Sở ca thinh.
    Đại Vương ý khí tận,
    Tiện thiếp hà biểu sinh".
    Tạm dịch:
    "Binh Hán cướp lấy đất,
    Bốn bề tiếng Sở kêu.
    Đại Vương ý khí hết,
    Mạng sống thiếp phải liều".

    Chu Lan và Hoàn Sở vào trướng, thúc giục, yêu cầu nhà vua sớm ra đi. Trời sắp sáng, Sở Vương nhìn Ngu Cơ nghẹn ngào:
    - Thôi, từ nay vĩnh biệt, xin nàng bảo trọng!
    Ngu Cơ hỏi:
    - Đại Vương ra khỏi vòng vây, vậy còn thiếp?
    Sở Vương say đắm nhìn Ngu Cơ, nói:
    - Cứ như nhan sắc của nàng, Lưu Bang trông thấy tất phải lưu dụng, liệu không đến nỗi chết, nàng có lo gì.
    Ngu Cơ đầm đìa nước mắt, nói:
    - Thiếp xin đi lẫn với ba quân, theo ra khỏi vòng vây. Nếu không ra được, xin chết trước mặt bệ hạ để âm hồn được theo bệ hạ về đất cũ.
    Sở Vương ngậm ngùi bảo:
    - Dũng sĩ áo giáp dày, khí giới sắc còn khó mong đi thoát, huống chi thân kiều mỵ như nàng đang nửa chừng xuân, để hoa rụng thật muôn vàn đáng tiếc. Ta không nỡ.
    Ngu Cơ nói:
    - Thiếp xin mượn thanh gươm của Đại Vương, sẽ thay áo theo Đại Vương.
    Sở Vương rút gươm đưa cho. Ngu Cơ cầm lấy, khóc nói rằng:
    - Thiếp chịu ơn Đại Vương rất hậu, không lấy chi báo đáp, thôi xin liều một chết báo đền.
    Vừa dứt lời, nàng mạnh tay đưa gươm vào cổ, kết liễu một đời tài sắc. Sở Vương bưng mặt khóc.

    Thương cảm người liệt nữ, người ta chôn xác Ngu Cơ tử tế. Trên mả nàng mọc một thứ cỏ bốn mùa vẫn xanh tươi, tục gọi "cỏ Ngu mỹ nhân" (Ngu mỹ nhân thảo).

    Tăng Tử Cố, một văn sĩ đời nhà Tống làm bài "Ngu Mỹ Nhân Thảo" có câu:
    "Hương hồn dạ trục kiếm quang phi,
    Thanh huyết hóa vi nguyên thượng thảo".
    Hoàng Khôi dịch:
    "Hương hồn theo ánh gươm vàng,
    Huyết rơi nay hóa mấy hàng cỏ xanh".
     
  17. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Cỏ Đỏ Trên Mộ Chiêu Quân


    Tỉnh Tuy Viễn ở Trung Hoa, bắc giáp Mông Cổ. Thị trấn tỉnh hội là Quy Quy. Cách 10 cây số về phía Nam có mộ của Vương Chiêu Quân, người cung phi tuyệt đẹp của Hán Nguyên Đế, được tiếng là "trầm ngư", một trong "tứ đại mỹ nhân" ở cổ Trung Hoa. (1)

    Nơi đây có 3 tòa cổ miếu xây bằng đá và 4 tấm bia đá xoay mặt về hướng Nam. Đó là mộ của nàng Chiêu Quân ở giữa; hai bên là mộ của 2 nữ tỳ đã cùng thác với nàng. Trên bia đá có khắc tên tuổi của ba người.

    Mộ của Chiêu Quân đặt ở dưới ngôi miếu giữa. Trên mộ bia có khắc mấy dòng chữ đã mờ vì thời gian "Vương Chiêu Quân chi mộ". Trên một tấm bia chót to hơn, có ghi qua sự tích của nàng kỳ nữ Chiêu Quân.

    Đây là cuộc đời của Chiêu Quân, vì lệnh vua, vì để làm một công việc hòa bình cho đất nước trong lúc vận nước suy đồi nên đem tấm thân liễu yếu đào tơ, vượt qua 2 cửa ải Nhạn Môn và Đắc Thắng để sang cống Hồ.

    Chiên Quân tên là Vương Tường, quê ở Tuy Quy, là một cung phi của vua Nguyên Đế đời Hán (48-53 trước D.L.). Lúc bấy giờ vua Hán có đến 3 ngàn mỹ nữ cung phi nên không thể nào biết mặt cả thảy được. Vua truyền tên thị vệ Mao Diên Thọ bảo họa sĩ vẽ hình tất cả những cung phi để vua ngắm và chọn làm hậu cung khi cần đến.

    Mao Diên Thọ được dịp "nước đục thả câu", ăn hối lộ của cung nhân. Hễ ai đút tiền thì truyền thần mặt xinh tươi, đẹp đẽ để dâng lên nhà vua. Cung nhân cũng nhờ đó mà hưởng được chút ơn mưa móc của quân vương, cho cuộc đời tài sắc của mình đỡ tẻ lạnh. Chiêu Quân đẹp hơn các cung phi khác nên không chịu đút lót tiền, lại còn xỉ vả nặng lời Diên Thọ. Do đó, khi cầm lấy bức ảnh Chiêu Quân, hắn lấy viết chấm dưới mắt ảnh nàng một chấm làm thành nốt ruồi. Rồi khi dâng tranh lên nhà vua, hắn làm xàm tấu cho rằng Chiêu Quân tuy đẹp nhưng vì có nốt ruồi mà sách tướng gọi lạ "thương phu trích lệ". Đó là nốt ruồi sát phu. Nhà vua nghe lời nên không đoái hoài đến nàng.

    Rợ Hung Nô bấy giờ đánh thắng nhà Hán. Chúa Hung Nô buộc Hán Nguyên Đế phải cống phẩm vật và một cung phi tuyệt sắc, mới chịu bãi binh. Trong tình thế nguy ngập của nước nhà, Nguyên Đế phải đồng ý.

    Vừa sợ việc làm bị bại lộ, vừa ghét Chiêu Quân nên Mao Diên Thọ mưu với bọn gian thần đem Chiêu Quân đi cống. Nguyên Đế trước đã xem hình của Chiêu Quân nên bằng lòng đem nàng cống Hồ. Nhưng đến lúc Chiêu Quân vào triều bái để lên đường sang Phiên thì nhà vua mới trông thấy rõ mặt thật là một tuyệt thế giai nhân. Vua tức giận lắm, điều tra mới rõ mưu mô gian xảo của Diên Thọ, định đem trị tội. Thọ hay được trốn sang đầu hàng Hung Nô. Bấy giờ sự thực đã rõ rồi, không thể thay người khác được. Vì sứ giả Hung Nô đã nhận được mặt của Chiêu Quân.

    Thế là Chiêu Quân từ biệt xứ sở cố hương, tới ải biên thùy Nhạn Môn. Nỗi thương nước nhớ nhà, nỗi giận kẻ gian thần, xót xa phận bồ liễu, nàng xuống kiệu song loan hướng về quê hương cố quốc, gẩy một bản đàn biệt ly. Giọng đàn bi ai thảm thiết, những kẻ theo đưa đều não lòng nhỏ lệ. Cây cỏ bên đường cũng héo xào gục xuống mặt đất như để xớt thảm chia sầu.......

    Chiêu Quân chẳng những có sắc mà còn có tài đàn hay thơ giỏi. Nhìn một con chim lẻ cánh bạt gió về chiều, nàng xót xa cảm thương cho thân thế, cất tiếng ngâm:
    "Cánh én cô đơn đượm tủi sầu,
    Ngang trời gió cuốn bạt về đâu?
    Quan san ngàn dặm vương thương nhớ,
    Hồ Hán từ đây cách biệt nhau".

    "Mây trắng trời trong gió ngạt ngào,
    Hồn hoa mờ mịt dưới trăng sao,
    Đêm đêm thổn thức, đêm đêm mộng,
    Có phải trời xanh cợt má đào".

    Và khi mùa thu đến. Nhìn mây thu, trời thu, sắc thu nhuộm úa lá vàng, dưới bầu trời ảm đạm, lá vàng rơi lả tả, bài "Thu Phong Oán" của nàng còn truyền tụng do một tình cảm sâu đậm của một kỳ nữ vì nước ly hương:
    "Thu mộc lê thê,
    Kỳ diệp nuy hoàng.
    Hữu điểu xử sơn,
    Tập ư bào tang.
    Dưỡng dục mao vũ.
    Hình dung sinh quang.
    Ký đắc thanh vân,
    Thượng du khúc phường.
    Ly cung tuyệt khoáng.
    Thân thế tồi tàng.
    Chí niệm ức chẩm,
    Bất đắc hiệt ngoan.
    Tuy đắc ẩm thực,
    Tâm hữu hồi hoàng.
    Y hà ngã độc,
    Vãng lai biến thường!
    Phiên phiên chi yến,
    Viễn tập Tây Khương,
    Cao sơn nga nga.
    Hà thủy ương ương
    Phụ hề! Mẫu hề.
    Đạo lý du trường.
    Ô hô ai tai,
    Ưu tâm trắc thương!"

    Thái Bạch dịch:
    "Cành thu hiu hắt lá thu vàng,
    Trên đỉnh non cao, đó rõ ràng.
    Có một chim kia hay đáo để,
    Ở ăn tự lúc mới ra dàng.

    Ra dàng đã đủ cánh lông bay,
    Thấy rõ hình dung quý giá thay.
    Trên nóc lầu cao đà đổ xuống.
    Chín từng mây thẳm đã tung bay.

    Tung bay, nhưng khốn biết bao rày;
    Sự thế than ôi, nỗi nước này!
    Nỗi nọ dường kia khôn tả xiết;
    Gan sầu ruột héo, ngỏ ai hay!

    Ai hay cho khúc đoạn trường này,
    Cho nỗi quan hoài ở chốn đây!
    Uống uống ăn ăn không đắp lại,
    Những hờn những oán, những sầu cay!

    Sầu cay riêng nghĩ xiết bàng hoàng,
    Biết đến bao giờ hận mới tan.
    Én nọ tung bay xập xòe cánh,
    Đường xa mấy mấy dặm quan san.

    Quan san thăm thẳm nỗi lòng đau,
    Biển rộng non cao chất tủi sầu.
    Vòi vọi đường xa muôn dặm cách,
    Mưa nắng sân Lai, xót dãi dầu!

    Dãi dầu ai hỡi thấu cho chăng?
    Lấp đặng cho ai những bất bằng.
    Những nhớ những thương tầy núi biển,
    Tình thu chan chứa hận sầu vương!".

    Khi đến Lạn Nhạn Đài bên sông Hắc Thủy, Chiêu Quân bắt được chim nhạn, liền viết thư buộc vào chân nhạn, rồi thả cho bay đi, mong nó mang tin về quê hương. Nhìn chiếc nhạn bay, nhìn dòng sông Hắc Thủy, nàng xót xa đau đớn, ngao ngán thở dài:
    "Thủy hà sóng lạnh gió đìu hiu,
    Cánh nhạn lê thê giải nắng chiều.
    Thấp thoáng mây về nơi lữ thứ,
    Mơ màng một giấc mộng cô liêu".

    Ngâm thơ xong, nàng lao mình xuống sông Hắc Thủy. Cái chết trinh liệt của nàng khiến cho mọi người, kể cả chúa Hung Nô cũng ngậm ngùi thương tiếc, cảm phục người kỳ nữ nhà Hán. Nhất là chúa Hung Nô tưởng là hoa nọ về tay, người mang tiếng là chúa của một nước rợ oai hùng sẽ được cùng người ngọc Trung Nguyên âu yếm, tận hưởng tất cả những khoái cảm của cuộc đời người, không ngờ mối hy vọng nay đã hoàn toàn tan vỡ.

    Văn thơ đời Hán và đời sau có nhiều bài nói về cuộc đời và ca tụng đức tính hy sinh cao khiết của Chiêu Quân. Đến đời nhà Tấn (265-419), Tấn chúa Tư Mã Chiêu đổi tên Chiêu Quân là Minh Phi. Thạch Sùng sáng tác khúc ca gọi là Vương Minh Quân. Có khúc cổ nhạc phủ được phổ biến ở Trung Hoa xưa gọi là khúc "Chiêu Quân Oán", "Chiêu Quân cống Hồ".

    Tương truyền cỏ ở chung quanh đất này đều màu trắng, chỉ có cỏ mọc trên mộ Chiêu Quân màu đỏ, là giống màu cỏ ở Trung Nguyên mà thôi. Phải chăng đó là hồn thiêng của đất nước của người kỳ nữ đã hun đúc tạo thành một vật lạ lùng để tiếng muôn đời.

    Trong tác phẩm "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn diễn tả lúc Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe buổi sơ ngộ có câu:
    "Quá quan này khúc Chiêu Quân,
    Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia".

    Trong tác phẩm "Lục Vân Tiên" của cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng có câu:
    "Chiêu Quân xưa cũng cống Hồ,
    Bởi người Diên Thọ, họa đồ gây nên".


    -------------------
    (1) Tứ đại mỹ nhân (bốn người con gái đẹp nhất ở Trung Hoa ngày xưa):
    - Tây Thi lạc nhạn (nhạn sa)
    - Chiêu Quân trầm ngư (cá lặn)
    - Điêu Thuyền bế nguyệt (trăng thẹn)
    - Dương Ngọc Hoàn tu hoa (hoa nhường)
     
  18. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Cơm Phiếu Mẫu, Trôn Ác Thiểu


    Hàn Tín người đất Hoài Âm nước Sở đời Tây Hán, thuở hàn vi thường câu cá ở sông Hoài. Có khi cả ngày tìm không được một bữa cơm. Phiếu Mẫu thương tình thường cho cơm ăn. Tín tạ ơn nói:
    - Tôi ngày sau được đắc đạo sẽ xin báo đáp.

    Một hôm, Hàn Tín đem cá ra chợ bán, gặp đứa tiểu nhân tên Ác Thiểu đón đường làm nhục, bảo:
    - Chà, bán cá mà còn đeo gươm cho oai, nhưng có dám đâm ta không?
    Tín ngẩn ngơ. Tên Ác Thiểu lại tiếp:
    - Nếu không dám thì hãy chui dưới trôn ta đây mà qua...
    Tín không do dự, cúi mình chui dưới trôn của nó mà đi. Người ở chợ đều cười ồ lên, cho Tín quá hèn nhát. Có người tên Hứa Phụ vốn xem tướng giỏi, nói với Tín:
    - Tướng ngươi sang lắm, hưởng đến tước vương hầu, oai danh thiên hạ.
    Hàn Tín phì cười:
    - Một ngày chẳng có một bữa cơm no, còn trông giàu sang sao được.

    Khi Hạng Lương khởi binh đánh Tần Thủy Hoàng, Hàn Tín đến đầu mong lập công danh, nhưng Lương khinh Tín, chỉ cho làm chức Chấp Kích Lang để dùng hầu hạ nơi trướng mà thôi. Sau Hạng Lương chết, cháu là Hạng Võ lên thay cầm quân, vẫn khinh thường Tín, cho Tín là tên "lòn trôn", hèn nhát nên không dùng vào việc lớn.

    Trương Lương là quân sư của Hán Lưu Bang, biết Hàn Tín là người có tài kinh bang tế thế nên tìm đến, yêu cầu Tín bỏ Sở sang giúp Hán. Tín bằng lòng.

    Hàn Tín được Hán Lưu Bang đăng đàn bái tướng phong chức Nguyên Nhung, cầm quân đánh Sở. Đánh được nhiều trận thắng lợi to, cuối cùng hạ được Sở Hạng Võ, gồm thâu thiên hạ, thống nhất đất nước, giúp Lưu Bang lập nên cơ nghiệp Hán triều, Tín được phong làm Sở Vương.

    Về quê cũ cai trị, Hàn Tín cho người tìm Phiếu Mẫu và Ác Thiểu đến. Cả hai phủ phục, gầm đầu không dám nhìn lên. Hàn Tín sai người lấy ngàn vàng thưởng cho Phiếu Mẫu gọi là đền đáp ơn ngày xưa. Phiếu Mẫu lạy tạ ra về. Đoạn Tín lại phong cho Ác Thiểu làm chức Trung húy.

    Ác Thiểu cực kỳ ngạc nhiên, thờ thẩn một lúc mới nói:
    - Lúc trước tôi ngu lậu thô bỉ, chẳng biết đại nhân mà xúc phạm oai nghiêm, nay tội ấy được tha chết là may, còn dám mong đâu được ban chức tước.
    Hàn Tín ôn tồn bảo:
    - Ta chẳng phải là kẻ tiểu nhân hay cố chấp, đem lòng thù hận. Hành động đối xử của nhà ngươi ngày xưa xem qua tuy có vẻ quá đáng nhưng cũng là một bài học luyện chí cho ta. Vậy nhà ngươi đừng tị hiềm, mà hãy nhận lấy chức ta ban.
    Ác Thiểu cảm mến lạy tạ ra về. Hàn Tín lại nói với kẻ tả hữu:
    - Tráng sĩ đó trước kia làm nhục ta. Lúc ta còn hàn vi, không thế lực gì, nếu ta chống cự, giết hắn đi thì chưa chắc ta được như ngày hôm nay. Nhờ ta biết nhẫn nhục nên mới yên thân mà giúp được nước lập nên công danh. Hắn giúp ta đấy, nên ta mới phong thưởng chứ không phải là việc vô cớ.

    Cổ thi có câu:
    "Mà lòng Phiếu Mẫu mấy vàng cho cân".
    Mang ơn người, đền đáp ơn âu cũng là lẽ thường. Bị người làm nhục mà cũng đền đáp, cho là công ơn "mạ nhân như giáo nhân", thật là thái độ của một sĩ quân tử.
     
  19. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Củi Đậu Đun Hạt Đậu


    Đời Tam Quốc (220-264), Tào Thực tự Tử Kiến là con thứ ba của Tào Tháo, vốn có tài làm thơ hay, được tiếng là đệ nhất thi nhân đời Tần Hán nhưng có tính phóng túng. Tào Tháo thương lắm nhưng không thể truyền ngôi cho một chàng giàu tâm hồn nghệ sĩ ấy được.

    Tháo chết, truyền ngôi cho con cả là Tào Phi. Thực bản tính ngông nghênh bất phục, có ý chống lại ông vua anh. Phi giận lắm, truyền người bắt Thực đến định làm ti. Nhưng vì yêu tài Thực nên Phi bảo:
    - Ta với mầy tuy tình anh em nhưng nghĩa vua tôi, sao dám cậy tài miệt lễ? Ngày tiên quân hãy còn, mầy thường đem văn chương khoe giỏi lòe đời. Ta rất nghi, có lẽ mầy nhờ người khác làm giúp. Vậy giờ đây ta ra hạn: đi bảy bước phải làm xong một bài thơ. Nếu làm được thì tha tội chết; bằng không xong, ta quyết chẳng dung.
    Thực nói:
    - Xin ra đề cho.
    Trên điện sẵn có treo bức tranh thủy mặc, vẽ hai con trâu chém nhau bên bức tường đất. Một con rơi xuống giếng chết. Tào Phi trỏ vào bức tranh, bảo:
    - Hãy lấy bức họa kia làm đề. Nhưng trong thơ cấm phạm vào những chữ "Ngưu", "Đẩu", "Tường", "Trụy", "Tỉnh", "Tử" (trâu, chọi, tường, rơi, giếng, chết).

    Thực đi khoan thai. Vừa hết bảy bước, liền cất tiếng ngâm:
    "Hai tấm thân đi đường,
    Trên đầu bốn khúc xương.
    Gặp nhau tựa sườn núi,
    Bỗng đâu nổi chiến trường.
    Đôi bên đua sức mạnh,
    Một địch lăn xuống hang.
    Đâu phải thua kém sức,
    Chẳng qua sự lỡ làng".

    Nguyên Văn:
    "Lưỡng nhục tề đạo hành,
    Đầu thượng đới ao cốt.
    Tương ngô do sơn hạ,
    Huất khởi tương đường đột.
    Nhị định bất câu cương,
    Nhất nhục ngọa thổ quật.
    Phi thị lực bất hư,
    Thịnh khí bất tiết tất".

    Tào Phi cùng tất cả quần thần đều giật mình, nức nở khen. Phi lại hỏi:
    - Bảy bước thành thơ, ta còn cho là chậm. Mầy có thể ứng khẩu đọc ngay một bài được chăng?
    Thực đáp:
    - Xin ra đề cho.
    Phi nói:
    - Ta với mầy là anh em. Cứ lấy câu đó làm đầu đề. Nhưng cũng cấm dùng hai chữ "Huynh", "Đệ".
    Thực chẳng cần nghĩ ngợi một giây, ứng khẩu đọc ngay:
    "Củi đậu đun hột đậu
    Đậu trong nồi khóc kêu:
    Cùng sinh trong một gốc,
    Bức nhau chi đến điều".

    Nguyên Văn:
    "Chữ đậu nhiên đậu cơ,
    Đậu tại phẩu trung khấp.
    Bản thị đồng căn sinh,
    Tương tiễn hà thái cấp".

    Phi nghe cảm động, sa nước mắt, liền tha cho, nhưng giáng Tào Thực làm An Hương Hầu.

    Ở Việt Nam trong thời Tây Sơn (1771-1802), hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ xuýt đánh nhau để tranh quyền. Nguyễn Nhạc yếu thế, phải khóc nói với em:
    - Bì oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn?!
    Nghĩa là: nồi da nấu thịt, lòng em nào nỡ?! nên Nguyễn Huệ cảm động rồi cả hai hòa nhau.

    Ở tỉnh Bình Định, mỗi khi người ta đi săn được hươu nai gì thì lột da ra làm nồi mà nấu thịt. Do đó, ca dao Bình Định có câu:
    "Da nai nấu thịt nai,
    Việc đời như thế không ai động lòng.
    Thịt nai mà chín bên trong,
    Da nai cũng cháy còn mong nỗi gì!"

    Cảm động lời nói của Nguyễn Nhạc, người Bình Định đem lời nói đó diễn bằng câu ca dao:
    "Lỗi lầm anh vẫn là anh,
    Nồi da xáo thịt sao đành hỡi em?".

    Đời nhà Nguyễn (1802-1945) vua Tự Đức giết anh là Hồng Bảo để củng cố địa vị ngai vàng của mình. Một hôm, trong một buổi chầu, nhà vua vô ý để răng cắn nhằm lưỡi mới khiến quần thần làm bài thơ chơi, nhưng trong thơ cấm dùng tiếng "Răng", "Lưỡi".

    Đây là bài thơ của cụ Nguyễn Hàm Ninh:
    "Ngã sinh chi sơ nhữ vị sinh,
    Nhữ sinh chi hậu ngã vi huynh.
    Bất tư cộng hưởng trân cam vị;
    Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình"

    Tạm dịch:
    "Thuở tớ sinh ra, mầy chửa sinh,
    Mầy sinh sau tớ, tớ là anh.
    Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng nhau hưởng,
    Xương thịt đành tâm nỡ dứt tình".

    Nhà vua khen hay, thưởng một chữ một nén vàng; nhưng vì cho bài có ý "móc", nên bắt phạt mỗi chữ đánh một roi.

    "Củi đậu đun hột đậu", "Nồi da xáo thịt", "Răng cắn lưỡi" thành ngữ điển tích nầy đều có một ý nghĩa như nhau.
     
  20. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Cử Án Tề Mi
    (Bố Kinh)


    Đời Hậu Hán (25-219), ở đất Giang Nam có một chàng hàn sĩ tên Lương Hồng. Nhà nghèo, Lương Hồng ở trong túp lều tranh vách đất. Họ Lương chăm học biết trọng liêm sĩ, khí tiết, giữ đạo đức thanh bần cao đẹp. Đức hạnh, tài năng của chàng được người người khâm phục, nổi tiếng khắp nơi.

    Ở cùng địa phương có nàng Mạnh Quang vốn dòng nho gia giàu có nhất vùng. Nàng tính nết đoan trang đức hạnh, đang độ kén chồng.

    Thấy nhà họ Mạnh đạo đức, Lương Hồng thuận cùng Mạnh Quang giá nghĩa đá vàng.

    Khi làm lễ thành hôn, nàng Mạnh Quang mặc xiêm y lộng lẫy, trang sức toàn vàng ngọc đắt tiền, cốn làm đẹp cho chàng vừa ý. Nào ngờ trông thấy vợ trang sức rực rỡ, Lương Hồng không bằng lòng, bảy ngày đêm, chàng không làm lễ động phòng hoa chúc.

    Nàng Mạnh Quang lấy làm lạ, kiểm điểm lời nói cử chỉ của mình không tỏ vẻ gì vô lễ. Nghĩ mãi, nàng ngờ rằng vì nàng trang sức lộng lẫy mà chồng không bằng lòng chăng. Nàng liền trút bỏ lớp áo quần tốt đẹp, đồ trang sức ngọc vàng, để mặc y phục vải bô, cài thoa gai ra hầu chồng.

    Thấy vợ như thế, Lương Hồng vui vẻ nói:
    - Đây mới chính là vợ của ta. Hồng này không màng danh lợi, không ham tiền của bạc vàng. Ta chỉ muốn cùng vợ cày lấy ruộng, trồng lấy lúa, dệt lấy vải, sinh sống trong cảnh nghèo mà lúc nào cũng giữ tròn khí tiết, đạo đức, vợ lúc nào cũng kính trọng chồng và chồng lúc nào cũng nể yêu vợ.

    Mạnh Quang nghe chồng nói rất lấy làm vui vẻ. Nàng đối với chồng rất mực cung kính. Mỗi bữa cơm, đối diện, nàng nâng mâm ngang mày để tỏ lòng kính trọng chồng.

    Trong tác phẩm "Nhị Độ Mai", tác giả Vô Danh, đoạn diễn tả cảnh Hạnh Nguyên đi cống Hồ có làm bài thơ tặng tình nhân là Mai Lương Ngọc lúc chia ly, có câu:
    "Ngang mày Mạnh thị chưa nâng án,
    Thấp mặt Chiêu Quân đã mất tranh."

    "Mạnh thị" đây chỉ nàng Mạch Quang. Về sau, những nhà hôn lễ, nhà trai thường viết 4 chữ "Cử án tề mi" dán ở cửa phòng, chỉ rằng người vợ hiền đức.

    Trong tác phẩm "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Kiều sang chơi nhà Kim Trọng, chàng nho sinh này có chiều âu yếm lả lơi, Kiều sợ chàng đi quá vòng lễ giáo, mới có câu khuyện"
    "Vẻ chi một đóa yêu đào,
    Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
    Đã cho vào bực bố kinh,
    Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu."

    "Bố kinh" là "Bố quần, kinh thoa", nghĩa là quần bằng vải, trâm cài đầu bằng gai, chỉ người vợ hiền đức.