Tìm kiếm bài viết theo id

Điển hay Tích lạ (sưu tầm)

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi phongthuythoinay, 8/5/09.

ID Topic : 907092
Ngày đăng:
8/5/09 lúc 11:56
  1. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Cưỡi Rồng, Bói Phượng



    Đời Chu Tương Vương (651-617 trước D.L.), Tần Mục Công làm bá chủ các nước ở tây phương. Nhà vua có một người con gái. Lúc mới sinh, gặp kẻ dâng viên ngọc phác (1), Tần Mục Công sai thợ giũa, thành một viên ngọc sắc biếc và đẹp lắm.

    Đến khi cô gái đầy tuổi thôi nôi, trong cung bày đồ toái bàn (2), nàng nhặt ngay viên ngọc, rồi ngắm nghía mãi, mới đặt tên nàng là Lộng Ngọc.

    Lớn lên, Lộng Ngọc nhan sắc đẹp tuyệt trần. Tính trời thông minh, nàng có tài thổi sinh hay lắm, không học ai mà thành âm điệu. Tần Mục Công sai thợ khéo làm ống sinh bằng ngọc để cho nàng thổi. Nàng thổi ống sinh ấy, tiếng trong như tiếng Phượng.

    Tần Mục Công cưng lắm, lập cái lầu để cho nàng ở, tên là Phượng lâu. Trước lầu có xây một đài gọi là Phượng đài. Năm Lộng Ngọc lên 15, Tần Mục Công muốn tìm một người giai tế (3), Lộng Ngọc thề: nếu người nào có tài thổi ống sinh họa được với nàng thì mới chịu nhận làm chồng.

    Tần Mục Công sai sứ đi tìm, nhưng không có ai cả.

    Một hôm, Lộng Ngọc ngồi trên lầu, vén rèm ngắm cảnh. Bấy giờ trời quang mây tạnh, vừng trăng sáng tỏ như gương, nàng truyền cho thị nữ đốt một lò hương rồi đem ống sinh ra thổi. Bỗng nghe tiếng tiêu từ đâu họa lại, lúc gần lúc xa. Lộng Ngọc lấy làm lạ, dừng ống sinh lại không thổi nữa, lắng tai nghe giọng tiêu ấy chỉ còn dư âm văng vẳng. Lộng Ngọc ngẩn ngơ, lưỡng lự thao thức canh chầy, đoạn đặt ống sinh ở đầu giường rồi đi nghỉ.

    Giữa lúc ấy, nàng bỗng thấy trên trời về phía tây nam, cửa mở rộng, hào quang ngũ sắc rực rỡ như ban ngày, có một chàng thiếu niên, mũ lông áo hạc, cưỡi con chim phượng từ trên trời sa xuống, đứng trước Phượng đài. Chàng bảo nàng:
    - Ta đây là chủ núi Họa Sơn, Ngọc Hoàng Thượng Đế cho ta kết duyên với nàng. Đến ngày Trung Thu nầy thì đôi ta gặp nhau. Ấy là duyên số đã định sẵn như vậy.
    Nói xong, chàng đưa tay rút ống ngọc tiêu bên mình, rồi đứng tựa lan can mà thổi. Con chim phượng đứng bên cũng giương cánh ra vừa hót vừa múa. Tiếng phượng hót cùng với tiếng ngọc tiêu xướng họa hòa nhau như một theo điệu cung thương (4), nghe rất thâm trầm. Lộng Ngọc mê mẩn tâm thần hỏi: khúc tiêu này là khúc tiêu gì? Chàng thiếu niên đáp: đây là khúc "Họa Sơn Ngâm". Nàng lại hỏi: khúc này có học được không? Chàng đáp: khi đôi ta kết duyên rồi thì có gì không học được. Đoạn chàng bước đến gần đưa tay cầm lấy tay nàng.....

    Lộng Ngọc giật mình tỉnh dậy. Sáng lại, nàng thuật lại điềm chiêm bao cho cha nghe. Tần Mục Công liền sai người cứ theo hình dáng người trong mộng mà dò tìm đến núi Họa Sơn. Có người nông phu chỉ rằng: từ rằm tháng bảy vừa qua, có một chàng trai trẻ tuổi lạ mặt đến làm nhà ở đỉnh núi, hằng ngày thường xuống chợ mua rượu uống, chiều lại thổi chơi khúc ngọc tiêu, ai nghe cũng rất lấy làm thích.

    Người của Tần Mục Công mừng rỡ tìm đến, trông thấy chàng thiếu niên mũ lông áo hạc, cốt cách thần tiên, vái chào hỏi họ tên. Chàng xưng là Tiêu Sử. Người của nhà vua thuật lại sự tình và yêu cầu Tiêu Sử về triều. Sau mấy lần từ chối không được, Tiêu Sử cùng theo về triều ra mắt Tần Mục Công. Tần Mục Công thấy Tiêu Sử dung mạo thanh nhã, có vẻ bằng lòng, cho ngồi bên cạnh hỏi:
    - Ta nghe nhà ngươi có tài thổi ống tiêu tất có tài thổi ống sinh nữa.
    Tiêu Sử đáp:
    - Tôi chỉ biết thổi ống tiêu, chứ không biết thổi ống sinh.
    Vua bảo:
    - Ta định tìm một người có tài thổi ống sinh, nay nhà ngươi chỉ biết thổi ống tiêu, vậy không thể làm rể ta được.
    Đoạn bảo người đưa Tiêu Sử ra.
    Lộng Ngọc sai nội thị tâu với với Tần Mục Công: tiêu với sinh cũng là một loại, người ta có tài thổi ống tiêu thì sao không bảo dạo chơi một khúc để cho người ta được phô tài.

    Tần Mục Công lấy làm phải, truyền Tiêu Sử thổi nghe. Tiêu Sử mới thổi qua một khúc thì thấy có gió mát hây hẩy. Đến khúc thứ nhì thì mây che bốn mặt. Đến khúc thứ ba thì có đôi bạch hạc múa lượn trên không, đồng thời có đôi khổng tước bay đến rồi các giống chim đua nhau kêu hót.....mãi một lúc mới tan. Tần Mục Công rất lấy làm bằng lòng. Lộng Ngọc đứng bên rèm trông thấy vui tươi nói: "người ấy thật đáng làm chồng ta!"

    Tần Mục Công lại hỏi Tiêu Sử:
    - Nhà ngươi có biết ống sinh và ống tiêu có từ đời nào không?
    Tiêu Sử thưa:
    - Ống sinh làm ra từ đời Nữ Oa; ống tiêu làm ra từ đời Phục Hi.
    Tần Mục Công bảo kể rõ nguyên ủy. Tiêu Sử nói:
    - Nghề tôi vốn ở ống tiêu, vậy tôi xin kể nguồn gốc ống tiêu. Ngày xưa vua Phục Hi ghép ống trúc làm ống tiêu, chế theo hình chim phượng. Tiếng thổi cũng giống tiếng chim phượng. Thứ lớn ghép liền 23 ống, dài 1 thước 4 tấc (5) gọi là Nhã tiêu; thứ nhỏ ghép liền 16 ống, dài 2 thước 1 tấc gọi là Tụng tiêu. Cả hai thứ gọi chung là Tiêu quản. Còn một thứ không dây gọi là Đổng tiêu. Về sau, vua Huỳnh đế sai Linh Luân lấy trúc ở Côn Khê, chế thành ống Địch, ống nầy có 7 lỗ, cầm ngang mà thổi, tiếng cũng giống chim phượng, trông rất giản tiện. Người đời sau thấy ống Tiêu quản phiền phức quá nên chỉ dùng ống địch. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là địch. Bởi vậy, ống tiêu ngày nay không giống ống tiêu ngày xưa.
    Tần Mục Công lại hỏi:
    - Sao nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại có các giống chim bay đến?
    Tiêu Sử thưa:
    - Ống tiêu dẫu mỗi đời mỗi khác nhưng tiếng thổi bao giờ cũng giống tiếng chim phượng. Chim phượng là chúa các giống chim, vậy khi nghe tiếng chim phượng tất nhiên các giống chim đều kéo nhau đến cả. Ngày xưa vua Thuấn chế ra khúc nhạc tiêu thiều mà chim phượng còn bay đến, huống chi là các giống chim khác.

    Tiêu Sử ứng đối lưu loát. Tần Mục Công rất lấy làm bằng lòng, sai quan Thái Sử chọn ngày lành để làm lễ thành hôn.

    Tiêu Sử kết duyên cùng Lộng Ngọc, được phong làm Trung đại phu. Tuy làm quan nhưng Tiêu Sử không dự gì đến triều chính, ngày ngày vui chơi ở Phượng Lâu. Lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống mấy chén rượu. Lộng Ngọc học được phép tiên của chồng cũng không ăn cơm. Tiêu Sử lại dạy vợ thổi tiêu.

    Ở với nhau được non nửa năm, nhân một đêm trăng sáng vằng vặc, vợ chồng đem tiêu ra thổi. Bỗng thấy một con phượng xuống đậu bên tả, và một con rồng xuống phủ phục bên hữu. Tiêu Sử bảo Lộng Ngọc:
    - Ta vốn là tiên ở thượng giới, Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy sử sách ở trần gian nhiều chỗ tán loan, vậy nên giáng sinh ta xuống họ Tiêu ở nhà Chu để sau định lại. Người nhà Chu thấy ta có công về việc sử sách mới gọi ta là Tiêu Sử, đến nay đã hơn trăm năm rồi. Ngọc Hoàng cho ta làm chủ núi Họa Sơn, vì ta cùng nàng có tiền duyên với nhau, nhờ khúc ngọc tiêu mà được cùng nhau tác hợp, nhưng cũng không nên ở mãi chốn trần gian này. Nay rồng và phượng đã đến đón, vậy chúng ta cùng nhau đi.
    Lộng Ngọc định vào từ biệt cha. Tiêu Sử ngăn:
    - Không nên! Đã là thần tiên thì chớ nên vì chút tình riêng mà quyến luyến.

    Đoạn Tiêu Sử cưỡi rồng, Lộng Ngọc cưỡi phượng cùng bay lên trời.

    Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Từ Hải cùng Kiều gặp gỡ, có câu:
    "Trai anh hung, gái thuyền quyên,
    Phỉ nguyền bói phượng, đẹp duyên cưỡi rồng"

    "Đẹp duyên cưỡi rồng" là do điển tích trên.
    "Bói phượng" có nghĩa là kén được chồng tốt.

    Sách Tả truyện có chép: Trần Trọng Kính sang nước Tề (6), được vua nước này cho coi việc công chính. Quan Đại Phu nước Tề có ý muốn gả con gái cho Trọng Kính. Người vợ liền bói một quẻ, bảo rất nên. Vì quẻ bói nói:
    "Phượng hoàng vu phi, hòa minh tương tương" nghĩa là phượng hoàng cùng bay, cùng hót vang vang.

    Phượng là tên một giống chim. Theo sách cổ, đó là một trong 4 con thú linh thiêng: Long, Lân, Qui, Phượng, đem lại điều lành, và chỉ khi nào có đời thái bình hay thánh nhân ra đời thì mới xuất hiện.

    Phượng là chúa loài chim. Con trống gọi là phượng; con mái gọi là hoàng. Loan là một giống chim cùng loại với phượng hoàng. Vì là đồng loại nên người ta hay dùng để ví với vợ chồng. Ca dao có câu:
    "Ước gì anh được vô phòng,
    Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan".

    "Bói phượng", "Cưỡi rồng" đều cũng có nghĩa là kén được chồng xứng đáng.


    -------------------
    (1) Viên ngọc còn ở trong hòn đá.
    (2) Tức là bày đủ các thứ vật như bút, mực, kim, chỉ, v.v...để thử xem đứa bé ấy lấy cái gì, mà đoán hậu vận của nó.
    (3) Chàng rể tài giỏi.
    (4) Hai âm đầu đứng trong ngũ âm: cung, thương, giốc, trủy, vũ. Cung là tiếng to, nặng, rất thấp, rất đục. Thương là tiếng hơi đục, hơi thấp, mau, lẹ. Giốc là tiếng lơ lửng, không cao, thấp, không trong, đục. Trủy là tiếng hơi cao, hơi trong. Vũ là tiếng rất cao, rất trong.
    (5) 1 thước tàu = 0m33.
    (6) Một nước chư hầu lớn thời Xuân Thu Chiến Quốc, ở vào địa phận tỉnh Sơn Đông ngày nay.
     
  2. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Duyên Nợ Ba Sinh


    "Ba sinh" do chữ "Tam sinh", nghĩa là ba kiếp luân chuyển: kiến này sang kiếp khác. Duyên nợ ba sinh là duyên nợ từ ba kiếp với nhau. Ý nói duyên nợ phải làm vợ chồng với nhau do số kiếp tiền định.

    Trong bài thơ "Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường" của Hồ Xuân Hương có câu:
    'Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi,
    Cái nợ ba sinh đã trả rồi!"

    Trong "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ Nguyễn Du cũng có câu:
    'Ví chăng duyên nợ ba sinh,
    Thì chi đem giống khuynh thành trêu ngươi".

    Sách "Truyền Đăng Lục" và sách "Quần Ngọc Chú" có chép:

    Xưa có chàng Tỉnh Lang, một hôm đến chùa Nam Huệ Tự, nằm chơi, bỗng ngủ quên, chiêm bao thấy mình đi chơi non bồng. Tỉnh Lang nhìn thấy có một nhà sư ngồi niệm kinh, trước mặt có một cây nhang đang cháy. Tỉnh Lang thấy lạ, hỏi. Nhà sư nói:
    - Khi trước có một người đi cúng chùa, thắp cây nhang này, khấn nguyện. Nhang hãy còn cháy mà người ấy đã sinh ba kiếp rồi. Kiếp đầu nhà Đường, đời vua Huyền Tông, làm quan Phủ Sứ ở đất Kiến Nam. Kiếp thứ hai cũng đời Đường, đời vua Hiến Tông, làm quan đất Tây Thục. Kiếp thứ ba, sinh ra tên Tỉnh Lang.

    Tỉnh Lang nghe đến tên mình bỗng giật mình thức dậy, nhưng lòng nửa tin nửa ngờ.

    Lại có một điển tích khác.

    Đời nhà Đường (618-907), có nhà sư tên Viên Trạch, một hôm cùng bạn là Lý Nguyên Thiện đi chơi. Gặp một người đàn bà gánh nước, Viên Trạch nói:
    - Người đàn bà này đã có mang 3 năm đợi tôi vào làm con. Nay đã gặp đây, không thể nào trốn được. Hẹn 3 ngày nữa, bạn đến, ta lấy nụ cười làm tin. Mười ba năm sau, ta lại sẽ gặp nhau tại chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu, vào đêm Trung Thu trăng sáng.

    Chiều đó, sư Viên Trạch mất.

    Người đàn bà nọ sinh con trai. Ba hôm sau, Lý đến thăm. Quả nhiên đứa bé thấy Lý thì cười, đúng như lời hẹn. Mười ba năm sau, Lý đến chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu, thấy một cậu chăn trâu hát rằng:
    "Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn,
    Thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân,
    Tàm quy tình nhân viễn tương phỏng
    Thử thân tuy dị, tính thường đồng".
    Nghĩa:
    "Là linh hồn cũ đã ba sinh,
    Trăng gió làm chi để bận mình.
    Thẹn với người quen xa viếng hỏi,
    Thân này tuy khác, tính nguyên lành".

    "Ba sinh" có nghĩa là số kiếp tiền định. "Nợ ba sinh" là nợ số kiếp tiền định, duyên số với nhau từ kiếp trước.
     
  3. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Đào Yêu


    Trong "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn thuật cảnh Thúy Kiều sang thư phòng người yêu là Kim Trọng, khi chàng này sắp sửa không còn giữ vẻ đứng đắn, Kiều mới khuyên ý trung nhân, có câu:
    "Thưa rằng: "Đừng lấy làm chơi,
    Rẽ cho thưa hết mội lời đã nao!
    Vẻ chi một đóa yêu đào!
    Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
    Đã cho vào bực bố kinh,
    Đạo tùng phu lấy chữ trinh làm đầu".

    "Yêu đào" nguyên lấy chữ "Đào yêu" trong kinh Thi. Thơ "Đào Yêu" gồm ba chương:

    I
    "Đào chi yêu yêu,
    Thước thước kỳ hoa.
    Chi tử vu quy
    Nghi kỳ thất gia.

    II
    Đào chi yêu yêu
    Hữu phần kỳ thật
    Chi tử vu quy,
    Nghi kỳ gia thất

    III
    Đào chi yêu yêu
    Kỳ diệp trăn trăn
    Chi tử vu quy,
    Nghi kỳ gia nhân."

    Tạm dịch:

    I
    "Mơn mởn đào non,
    Rực rỡ nở hoa.
    Cô ấy lấy chồng
    Êm ấm cửa nhà.

    II
    Mơn mởn đào non
    Lúc lỉu quả sai.
    Cô ấy lấy chồng
    Êm ấm nhà ai.

    III
    Mơn mởn đào non,
    Lá xanh rườm rà.
    Cô ấy lấy chồng
    Thuận với người nhà." (1)

    "Yêu đào" tức là cây đào non mơn mởn. Người ta ví một người con gái dậy thì đến tuổi lấy chồng với "Yêu đào".

    Trong "Đoạn Trường Tân Thanh", đoạn Kim Trọng và Thúy Kiều tái hợp, Thúy Vân khuyên chị kết duyên lại cùng Kim Trọng, cũng có câu:
    "Đào non, sớm liệu, xe tơ kịp thì".


    -------------------
    (1) Bản dịch của Vân Hạc Lê Văn Hòe.
     
  4. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Ăn Trộm Của Trời


    Người họ Hướng ở nước Tống rất nghèo, nghe nói họ Quốc ở nước Tề rất giàu liền tìm đến, xin được chỉ bảo cách làm giàu. Họ Quốc nói:
    - Ta chỉ lấy việc ăn trộm mà thành giàu có. Trước tiên ta ăn trộm một năm thì bắt đầu thừa thãi, ba năm sau thì giàu ớn. Tiếp tục như thế gia sản của ta có đến hang muôn hang vạn.
    Họ Hướng nghe vậy hết sức mừng rỡ, vốn là người ngu độn nên không hỏi cách thức ăn trộm ra sao, vội vã trở về thi hành việc trèo tường khoét vách, lấy không từ một thứ gì. Quả nhiên sau một thời gian họ Hướng tích luỹ được một số tài sản nhưng một lần bị bắt tại trận, bao nhiêu của cải đều bị tịch thu hết mà than mình suýt nữa cũng khaông thoát khỏi tù tội. Họ Hướng cho là họ Quốc gạt mình, tức giận đi đến nơi trách móc. Họ Quốc nghe xong giật mình nói:
    - Chết nỗi! Sao anh lại hiểu việc ăn trợm sai lạc như thế? Tôi theo thời tiết của trời, hoa lợi của đất, lợi dụng mưa gió thuận hoà mà ăn trộm lấy các sản vật của đất đai, cây cối. Dưới nước tôi trộm giống tôm cá, trên bờ tôi trộm giống chim muông. Tất cả những vật đó đều của trời đất, tôi chỉ khéo ăm trộm mà làm nên sự nghiệp, chứ đâu có phải làm việc trèo tường khoét vách, lấy trộm của cải của người ta làm ra thì đâu có bị tai vạ như anh?
    Họ Hướng nghe nói rất nghi hoặc, đem việc này đến hỏi Đông Quách tiên sinh. Tiên sinh cả cười nói:
    - Chính con người anh cũng là do cha mẹ trộm khí âm dương của trời đất mà sinh ra, tất cả đều là ăn trộm cả.

    Lời bàn:

    Con người đã có cái tâm tham lam, trí óc ngu độn thì nhìn sự việc nào cũng lệch lạc. Họ Hướng vừa nghe nói đến việc ăn trộm thì đã trúng ngay vào tâm lý tham lam của mình, còn thời giờ đâu để hỏi lại ăn trộm cái gì, như thế nào. Đến khi đã được họ Quốc giải thich mà vẫn chưa tin hẳn, lai càng chúng tỏ cái tâm lý tham lam cố hữu của con người hắn. Phải nhờ tới Đông Quách tiên sinh nói thẳng ra là chính thân mình cũng do cha mẹ ăn trộm của trời đất thì mới hiểu được thế nào là ăn trộm hợp đạo lý, thế nào là trái đạo lý.
    Trong trời đất có biết bao nhiêu thứ để cho chúng ta trộm lấy, nếu cố gắng vài ba năm như họ Quốc thì lo gì chẳng được giàu có. Vậy mà đa số người đời không hiểu được đạo lý này, đua chen nhau giở thủ đoạn ra để trôm cướp của nhau, đánh giết nhau để cướp ấy những cái người khác đã trộm của trời đất thì thật là lầm lẫn và ngu dại vô cùng.
     
  5. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Khoan Dung Cho Người Dưới


    Đời nhà Tống, một hôm Thái Tông mời hai vị đại thần đến uống rượu mua vui với mình. Hai vị đại thần này là Khổng Thủ Chính, người đang giữ chức Điện Tiền Đô Ngu Hầu, còn người kia là Vương Vinh, một đại thần trong triều. Sau mấy tuần rượu, Khổng Thủ Chính va Vương Vinh có việc tranh luận rất gay gắt, người nào cũng đỏ mặt cãi nhau rất hăng, không ai chịu nhường ai. Rốt cuộc hai người quên bẵng là có nhà vua ngồi ở đó, bắt đầu khoa chân múa tay hết sức vô lễ.
    Bọn thị vệ thấy vậy liền tiến lại bắt giữ hai người rồi xin với Tống Thái Tông hạ lệnh giải sang Lại bộ đình nghị tội danh. Nhà vua không hề thay đổi sắc mặt, cũng không nói rõ ý định của mình ra sao, khoát tay cho bọn thị vệ đưa hai người về dinh phủ như bình thường. Ngày hôm sau, Khổng Thủ Chính và Vương Vinh tỉnh rượu, nhớ đến việc hôm qua thì đều thất kinh hồn vía, cùng nhau vào cung điện quì xuống xin nhận tội bất kính. Thái Tông giả vờ ngơ ngẩn nói:
    - Hôm qua hai khanh đã bất kính với Trẫm như thế nào? Trẫm cũng đã quá say đâu có nhớ gì nữa. Thôi cứ về nhà nghĩ ngơi đi.
    Hai người nghe vậy hết sức mừng rỡ, bái tạ xong kéo nhau về, và cùng nhau thề sẽ không bao giờ tái phạm việc cãi cọ nữa, và từ đó về sau làm việc rất cần mẫn, trung thành với triều đình suốt đời.

    Lời bàn:

    Đã biết uống rươu nhiều có thể làm loạn cả tính nết con người, vậy mà Tống Thái Tông vẫn cho họ uống thì cũng có một phần lỗi lầm trong đó. Hai người bị men rượi àm cho hăng máu, mãi lo cãi cọ không còn nhớ tơi ngoại vật chung quanh, kể cả lễ nghi tôi thần thì cũng là điều bình thường, khó có thể cấm đoán được.
    Cái lý thì như vậy, tức là hai bên đều góp phần vào việc náo loạn ở cung điện, nhưng cái lỗi bất kính thực tế đã xảy ra, không trị cũng không được. May sao Tống Thái Tông nhận ra sai lầm của mình, biết quyền biến trong cách xử thế, nên mới nghĩ ra kế sách giả vờ như say rượu chung với hai người, không biết những gì đã xảy ra, vừa tránh lộ khuyết điểm của mình, vừa không mất sĩ diện quân vương, vừa không phải bắt tội hai đại thần, lại là bài học để cho họ tự hối hận mà răn mình. Kế sách của Tống Thái Tông ngoài việc phải có trí óc mau lẹ, học thức sâu xa, mà còn phải lấy đạo lý bao dung làm căn bản thì mới có tác dụng tuyẽt diệu như thế.
     
  6. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Đằng Vương Các Tự


    Vương Bột tự Tử An, người đất Long Môn. Sáu tuổi đã biết làm văn. Mười sáu, mười bảy tuổi nổi danh hạ bút nên vần.

    Vương có thói quen, mỗi khi làm văn, mài mực sửa soạn nghiên bút rồi nằm đắp chăn ngủ. Khi tỉnh dậy, cầm ngay bút viết. Vương nổi tiếng là một thi sĩ cao danh đời Sơ Đường (618-713).

    Con của vua Cao Tông nhà Đường bấy giờ làm Thái Sử ở Hồng Châu, được phong là Đằng Vương, có dựng một cái gác bên sông Tầm Dương gọi là "Đằng Vương Các". Lúc Diêm Bá Dư ra giữ chức Đô Đốc Hàng Châu, đặt tiệc tại gác Đằng Vương để thiết tân khách. Muốn khoe tài chàng rể, bảo làm trước một bài tự, rồi mời tất cả các nhà quyền quý, các mặc khách tao nhân xa gần đến dự; và yêu cầu mỗi người làm cho một bài tự ngay giữa tiệc.

    Vương Bột lúc bấy giờ, tuổi vừa 15, 16. Hay tin ấy, nhưng vì đường xá xa xôi có mấy trăm dặm, không đến hợp được, lấy làm tiếc. Một ông già khuyên chàng cứ sửa soạn thuyền buồm, tự nhiên sẽ có gió thổi. Quả nhiên đêm đó có gió lớn. Vương cho thuyền khởi hành, và hôm sau tới Đằng Vương Các vừa kịp lúc vào tiệc. (1)

    Thấy Vương Bột, viên đô đốc họ Diêm khinh là con nít, miễn cưỡng cấp giấy bút. Nhưng cho người đứng bên cạnh Vương, hễ Vương viết được câu nào thì chép lại cho ông xem.

    Mới đọc hàng đầu, họ Diêm đã ngạc nhiên vì lời già giặn. Đến câu:
    "Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
    Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc"
    Nghĩa:
    "Ráng chiều với cò lẻ cùng bay,
    Nước thu cùng trời dài mt sắc."
    thì ông vô cùng khâm phục.

    Bài của họ Vương đặc sắc hơn tất cả. Từ đó, danh càng vang dậy khắp nơi.

    Bài phú "Đằng Vương Các" viết theo thể biền ngẫu, dùng nhiều chữ cầu kỳ, nhiều điển khó hiểu nhưng lời thì cực đẹp nên rất khó dịch. Trong bài, Vương Bột nhắc qua địa lý và nhân vật ở quận, nơi xây gác Đằng Vương, rồi tả chủ khách trong tiệc, phong cảnh chung quanh khi ngồi trong gác trông ra, sau cùng kể cảm tưởng của chính mình.

    Cuối bài thơ có 8 câu thơ tuyệt diệu, nhất là 4 câu cuối:
    "...........................
    "Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
    Vật hoán tinh di, không đ thu?
    Các trung đế tử kim hà tại?
    Hạm ngoại trường giang không tự lưu."
    Nghĩa:
    "...........................
    "Đầm chiếu mây bay, trời lửng lơ,
    Sao dời vật đổi, mấy thu rồi.
    Con vua trong gác nào đâu nhỉ?
    Dòng nước ngoài hiên vẫn tự trôi."

    Nhưng người có tài như thế mà mạng yểu. Nhân khi đi thăm cha làm quan ở Giao Chỉ, Vương bị đắm thuyền, chết ở giữa biển lúc 29 xuân xanh.

    Tương truyền rằng hai câu thơ:
    "Lạc hà dữ cô vụ tề phi
    Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc"
    tuyệt diệu như thế mà có người cho Vương Bột còn dốt, nhưng không chỉ dốt chỗ nào. Vì thế khi chết, hồn còn uất ức nên trong đêm khuya thanh vắng thường hiện hình trên bãi bể, níu áo những văn nhân sĩ tử qua đường, miệng ngâm nga 2 câu thơ trên và hỏi dốt chỗ nào, xin chỉ giúp. Nhưng ai nấy đều khen hay. Hồn Vương không bằng lòng, cho rằng sĩ tử kia còn dốt, thi khoa nầy không thể đậu. Quả thật như vậy.

    Rồi cũng từ đó, giọng ngâm 2 câu thơ kia vẫn còn văng vẳng bi ai theo hình bóng họ Vương thơ than, dật dờ trên bãi biển.

    Nhưng một hôm có một văn nhân đi ngang qua đấy, hồn Vương hiện hình níu lại hỏi, thì chàng văn nhân ấy cười bảo:
    - Hai câu thơ ấy không phải sai nhưng nhà ngươi còn dốt thật. Đã bao năm có tiếng là tứ kiệt Sơ Đường mà không nhận biết được cái dốt của mình trong 2 câu thơ ấy ư?
    Nói xong dứt áo ra đi. Vương tha thiết yêu cầu giải thích. Khách không nỡ phụ lòng nên bảo:
    - Hai câu thừa chữ "dữ" và chữ "cộng". Nếu bỏ hai chữ ấy thì thật tuyệt, vừa gọn vừa thanh thoát, lại nhất khí:
    "Lạc hà cô vụ tề phi,
    Thu thủy tràng thiên nhất sắc".
    Vương Bột nhận ra, quả còn dốt thật, mới bái tạ lãnh lời chỉ giáo.

    Từ đó, trong đêm khuya thanh vắng, trên bãi biển không còn hình bóng của nhà thơ tài danh trẻ tuổi hiện ra nữa. Và giọng ngâm 2 câu thơ bất hủ bi ai, não nùng kia cũng chìm mất trong không gian cao rộng, mịt mờ. Đây là một câu chuyện hoang đường.

    Do câu chuyện gió đưa thuyền Vương Bột đến Đằng Vương Các làm cho Vương nổi tiếng tài danh, nên cổ thi có câu: "Thời lai, phong tống Đằng Vương Các" (thời tới thì gió đưa đến gác Đằng Vương) để chỉ sự may mắn của kẻ gặp thời. Những từ ngữ: "duyên Đằng", "gió đưa Đằng Các" đều có ý nghĩa như thế.

    Trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du có câu:
    "Duyên Đằng thuận nẻo giáo đưa" là do điển tích trên.


    -------------------
    (1) Có điển chép: Vương Bột đi thăm cha làm Thứ Sử ở Giao Châu, nửa đường bị một trận gió thổi lạc đến Đằng Vương Các và được mời dự tiệc làm thơ.
     
  7. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Quên Thù Riêng


    Triệu Vương từ Manh Trì trở về an toàn nên phong cho Lạn Tương Như làm Thượng Khanh, địa vị cao hơn lão tướnh Liêm Pha. Thấy vậy Liêm Pha rất uất ức, cho rằng có nhiều công lao hiển hách mà không bằng Lạn Tương Như chỉ nhờ có mấy lời nói khoác lác, tranh đoạt được địa vị cao sang hơn mình. Gặp ai, Liêm Pha đều nói:
    - Nếu ta gặp hắn bất cứ nơi đâu cũng sẽ bêu xấu một phen, thậm chí giết đi cũng chẳng sao.
    Lạn Tương Như nghe được câu nói này thì hết sức tránh né, mỗi khi có liêm Pha vào chầu thì cáo bệnh ở nhà. Một lần Lạn Tương Như đang đi, thấy Liêm Pha đi ngược chiều, lập tức sai người phu xe rẻ qua ngã nhỏ. Bọn xá nhân thấy vậy không sao chịu nổi nhục nhã, kéo đến chất vấn:
    - Chúng tôi liều mình bỏ nhà cửa vợ con đến đây hầu ngài, mong được hưởng chút vinh hiển. Thế mà Liêm tướng quân mới dọa mấy câu ngái đã tránh mặt thì thật là hổ thẹn. Chúng tôi không thể ở lại hầu hạ ngài được nữa!
    Lạn Tương Như bình tĩnh hỏi:
    - Các người thấy Liêm tướng quân có oai dũng, dữ dội bằng Tần Vương không?
    Bọn xá nhân đồng thanh cho rằng Liêm Pha không thể so sánh với Tần Vương về mặt oai dũng. Lạn Tương Như liền nói:
    - Tần Vương oai trấn thiên hạ, không ai dám chống cự, thế mà ta dám đứng giữa triều đình mở lời trách móc, xỉ nhục cả triều thần. Dù ta có bất tài đến đâu chẳng lẽ lại đi sợ Liêm Pha! Theo ta nghĩ sở dĩ Tấn chưa dám đánh Triệu là vì rất sợ ta và Liêm tướng quân đồng long chung sức. Nay nếu vì một chút danh dự mà kình chống nhau thì Tần ắt lợi dụng tiến đánh nước Triệu vậy. Ta coi trọng đại nghĩa nước nhà nên mới chịu nhục tránh mặt, gác bỏ thù oán riêng tư một bên.
    Bọn xá nhân nghe vậy đều quì xuống xin lỗi, hết sức kính phục Lạn Tương Như là người biết xử sự theo đại nghĩa. Liêm Pha nghe được câu này, hổ thẹn nói với thuộc hạ:
    - Ta thật còn kém xa Tương Như:
    Nói xong Liêm Pha trần vai áo, tự đi bộ đến phủ Tương Như tạ lỗi, từ đó hai người trở thành bạn chí thiết.

    Lời bàn:

    Cái dũng của thánh nhân thật khác với cái oai phong dữ tợn mà người ta thường hay nghĩ đến.
    Đa số người tầm thường hay lẫn lộn chữ Dũng với cường lực nên cho rằng Lạn Tương Như yếu kém, chỉ giỏi dung lời nói để khuất phục người khác. Những người hiểu biết thiển cận như thế thì hiểu sao được chí lớn của đại bang, bay tree trời cao chẳng them để ý đến loài sâu bọ nhỏ nhặt.
    Đối với quan niệm của người xưa thì sự bình tĩnh, điềm đạm biết suy xét lợi hại, biết bỏ việc nhỏ, lấy việc lớn mới là cái Dũng chân thực, mạnh mẽ hơn gươm giáo rất nhiều. Người đã có Dũng như thế chẳng cần tới võ khí cũng khuất phục được người khác, nhưng muốn biểu hiện ra cái Dũng của mình không phải đơn thuần là bình tĩnh điềm đạm. Người có dũng khí không những tự tin nơi ban thân, rộng lượng khi suy xét mọi việc mà còn bao hàm cả tài trí cao siêu, tự biết mình hơn hẳn người khác thì mới là cái Dũng có sưc mạnh kinh người, chuyển đổi được sự việc.
     
  8. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Để Thiếp Theo Chồng Mấy Dặm Khơi


    Nàng tên là Mỵ Ê, người Chiêm Thành, không biết họ gì, vốn là vương phi của vua Chiêm Xạ Đẩu.

    Triều Vua Lý Thái Tông (1028-1054) nước Đại Việt, Xạ Đẩu không theo lệ cống, thất lễ phiên thần, vua tự đem binh Nam chinh.

    Xạ Đẩu bày trận ở sông Bồ Chính nhưng bị quân nhà Lý đánh bại. Xạ Đẩu chết tại trận (1). Vua nhà Lý tiến binh vào thành Phật Thệ là quốc đô của Chiêm Thành, bắt được vương phi Mỵ Ê cùng một số cung nhân nhạc nữ, đem về nước.

    Khi thuyền đến sông Lý Nhân, giữa đêm vua nghe Mỵ Ê có sắc đẹp, bèn sai quan Trung sứ đưa đến chầu thuyền ngự. Mỵ Ê không giấu nỗi phẫn uất, từ chối rằng:
    - Vợ phường man rợ quê mùa, y phục xấu xí, ngôn ngữ thô lỗ, không giống các phi tần Trung Hoa. Nay nước tan, chồng mất, chỉ mong một chết là thỏa lòng; nếu cưỡng bách hợp hoan, ngại nỗi dơ mình rồng vậy.
    Đoạn nàng lén lấy chăn lông chiên quấn kín lấy thân mình định phó tính mạng cho dòng nước chảy. Thế là, đánh ầm một tiếng, mất tăm hình bóng người xinh.
    Nhà vua kinh hoảng tự hối, muốn cứu nhưng không sao kịp nữa.

    Tương truyền từ đó, nơi nầy, mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, người ta thường nghe văng vẳng có tiếng phụ nữ khóc kể bi ai. Dân trong vùng cho việc linh dị, xin lập đền thờ, bấy giờ mới dứt tiếng khóc.

    Một hôm có dịp, vua Lý Thái Tông đến sông Lý Nhân. Thuyền thả giữa dòng, đến đấy, nhà vua thấy trên bờ có ngôi đền thờ, lấy làm lạ hỏi. Hầu thần đem chuyện Mỵ Ê kể lại. Vua lặng yên hồi lâu, phán rằng:
    - Không ngờ gái rợ lại có kẻ u trinh đến thế, quả là một gái phi thường. Thế nào cũng có sự báo thù.
    Đêm ấy đã canh ba, chợt nghe một trận gió thơm thổi đến, khí lạnh tê người. Nhà vua thấy một người đàn bà dáng cách yểu điệu, dung nhan đẹp đẽ, uy nghi bước đến, cúi lạy và khóc rằng:
    - Thiếp nghe đạo của kẻ phụ nhân là tòng nhất nhi chung. Quốc Vương trước của thiếp tuy chẳng dám so sánh cùng bệ hạ nhưng cũng là bậc nam tử kỳ tài riêng cõi. Thiếp từng được lạm dự phần khăn lược, chẳng may gặp phải cảnh nước tan chồng mất, thiếp đêm ngày sầu thương, rầu rĩ, chỉ lo báo bổ. Nhưng quần thoa yếu ớt chẳng biết tính sao. May nhờ hồng ân của bệ hạ sai Trung sứ tiễn thiếp xuống tuyền đài hội ngộ cùng chồng. Sở nguyện của thiếp thỏa rồi, thế còn có linh gì mà dám đến đây đường đột.
    Nói xong, không thấy đâu nữa. Vua kinh hãi tỉnh giấc, mới hay là chiêm bao. Đoạn truyền đem lễ vật đến miếu cúng tạ, sắc phong làm Hiệp Chính Nương. Từ đó về sau, dân chúng xa gần cầu đảo đều thấy linh ứng.

    Cảm nỗi chua xót của nàng Mỵ Ê phải tuẫn tiết trong cảnh nước mất nhà tan, thi sĩ Tản Đà có làm bài thơ từ khúc để tả nỗi lòng của người vương phi bạc mạng:
    "Châu giang một giải sông dài,
    Thuyền ai than thở, một người cung phi!
    Đồ Bàn thành phá hủy,
    Ngọa Phật tháp thiên di.
    Thành tan, tháp đổ
    Chàng tử biệt,
    Thiếp sinh ly.
    Sinh ký đau lòng kẻ tử quy!
    Sóng bạc ngàn trùng
    Âm dương cách trở
    Chiên hồng một tấm,
    Phu thê xướng tùy.

    Ơi mây! Ơi nước! Ơi trời!
    Đũa ngọc, mâm vàng, giọt lụy rơi.
    Nước sông trong đục,
    Lệ thiếp đầy vơi
    Bể bể, dâu dâu, khóc nỗi đời!
    Trời ơi! nước hỡi! mây hời!
    Nước chảy, mây bay, trời ở lại,
    Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi!..."


    -------------------
    (1) Sử chép: Xạ Đẩu bị tướng là Quách Gia Gi phản, chém lấy thủ cấp sang hàng nhà Lý. Câu chuyện nầy chép theo "Thiên Nam Ngữ Lục".
     
  9. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Hiền Sĩ Bình Thơ


    Một hiền sĩ có rất nhiều đệ tử. Trong số đó có hai đệ tử thường hay tự phụ về tài làm thơ của mình.

    Hai người bèn làm mỗi người một bài để so sánh, nhung người này chê bai thơ của người kia, gân cổ tía tai cãi nhau ầm ĩ, nhất định không ai chịu ai. Hai người cãi nhau chán chê liền mang hai bài thơ đến cho sư phụ phán xử.

    Hiền sĩ đọc bài thơ thứ nhất khen hay nức nở, đến bài thứ hai cũng vậy, khiến cả hai tức tối nói:

    - Sư phụ đã khen thì chúng con không dám cãi, nhưng sư phụ phải phán quyết ai làm thơ hay hơn mới được, không thể người này hay người kia cũng giỏi như thế được.

    Hiền giả tươi cười đáp:

    - Bài này có nhiều câu hay, bài kia cũng có nhiều ý tốt nên thầy mới khen ngợi. Sở dĩ người này chê thơ của người kia là vì hiểu biết chỉ hạn chế đến đó mà thôi, không thể hiểu được cái hay của người khác. Vì thế ta thấy không ai đúng ai sai cả, đều là thơ hay vậy.


    Lời bàn:

    Lấy sự hiểu biết của mình, xem xét sự hiểu biết của người khác cộng thêm với tâm tự phụ, tất xử sự mọi việc sẽ lu mờ không ngay chính, chứ đừng nói gì đến phê bình. Nếu ai ai cũng học theo cách xử thế đầy nhân nghĩa rộng lượng của vị hiền giả này, thì bất cứ việc gì cũng sáng tỏ hơn người, rất dễ thành công trong xã hội, chẳng cần phải khoa trương, cũng khiến cho mọi người thấm hiểu được đạo lý, sinh lòng kính phục.
     
  10. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Điêu Thuyền Với Kế Liên Hoàn



    Điêu Thuyền là một giai nhân tuyệt sắc đời mạt Hán. Cũng như Tây Thi, Chiêu Quân, Dương Ngọc Hoàn, Điêu Thuyền có tiếng là "bế nguyệt" (1) trong "Tứ đại mỹ nhân" của cổ Trung Hoa.

    Nàng bị loạn Đổng Trác, gia cảnh tan tành, cha mẹ bị giết chết mất cả, nàng phải phiêu bạt lênh đênh, xin vào làm người ở cho quan Tư Đồ Vương Doãn. Thấy nàng đẹp, có tài hát hay đàn giỏi nên Vương Doãn nhận làm con nuôi.

    Đổng Trác trước làm thứ sử đất Tây Lương. Khi dẹp giặc Hoàng Cân (giặc khăn vàng, dùng khăn vàng bịt đầu làm biểu hiệu) bị thua nhiều trận, triều đình muốn làm tội. Đổng Trác lo sợ, đem của hối lộ bọn hoạn quan là Thập thường thị (1) nên mới thoát khỏi. Hắn lại khéo léo kết giao với các nhà quyền quý, thường đem lễ vật làm nhân tình, do đó nên được thăng chức cao và được thống lãnh đại binh xứ Hiệp Tây hơn 20 vạn. Vì lòng tham không đáy, hắn thấy cần phải trèo lên ngai vàng mới thỏa chí nguyện nên rắp tâm chờ đợi thời cơ, cử đồ đại sự.

    Nhân dịp triều đình bị loạn Thập thường thị, hắn lấy cớ bảo giá, kéo quân về triều. Hắn chuyên quyền, khống chế các quan, giết cả vua Thiếu Đế, Hà hậu, và Đường phi. Hắn vào cung gian dâm cùng cung nữ rồi ngủ luôn tại long sàng. Có lần hắn dẫn lính đi dạo đồn một địa phương, gặp tiết tháng hai có mở hội, trai gái các xã thôn tụ họp vui chơi. Hắn sai quân sĩ bổ vòng vây, giết hết đàn ông con trai, bắt hết phụ nữ và lấy hết của cải chở lên xe, treo hơn ngàn đầu người ở dước xe đem về thành, phao lên rằng: "Tướng quốc dánh giặc, đại thắng trở về".

    Đổng Trác có một đứa con nuôi tên Lữ Bố, sức đánh trăm người, nên Trác càng kiêu ngạo, hống hách coi mạng người như cỏ rác. Các quan trong triều có ai biểu lộ sự phẫn nộ, chống đối thì lập tức, sau một tiếng quát hoặc một cái vẩy tay của hắn là đầu lìa khỏi cổ. Trước sự tàn bạo của hắn, lòng dân căm phẫn, tất cả 17 chư hầu nổi lên quyết tiêu diệt hắn, nhưng đều bị đứa con nuôi của hắn đánh bại.

    Đại thắng, hắn càng kiêu căng, và càng thẳng tay giết chóc kinh khủng.

    Quan tư đồ Vương Doãn nghĩ đến hành vi lộng quyền sát nhân của Trác, lòng xốn xang phiền muộn, ngồi đứng không yên. Nhân đêm khuya trăng sáng, Doãn chống gậy thơ thẩn ra vườn. Từng bước một, lão thỉnh thoảng ngửa mặt nhìn trời sa nước mắt.

    Bỗng ở phía Mẫu Đơn Đình có tiếng thở than. Doãn lấy làm lạ, lần bước đến lén nghe. Thì ra tiếng than đó là tiếng của Điêu Thuyền. Doãn tức giận hỏi:
    - Thế mi có tư tình với ai chăng?
    Điêu Thuyền thưa:
    - Con đâu dám!
    - Vậy tại sao đêm khuya canh vắng như thế này, mi lại còn ra đây than thở?
    Điêu Thuyền buồn bã thưa:
    - Con nhờ cha nuôi dưỡng từ tấm bé, dù cho thịt nát xương tan, con cũng đền bồi chưa đủ; lẽ nào con đành làm bại hoại gia phong để phải tủi nhục cho cha. Vì mấy hôm nay, con thấy cha vẻ mặt luôn luôn tư lự, thế tất trong nước có điều đại sự nhưng con không dám hỏi thăm. Đêm nay, con thấy cha buồn rầu thái quá, đến nỗi ngồi đứng không yên, con rất lấy làm khổ tâm nên lén thở than, không ngờ cha bắt gặp. Vậy con xin cha nếu có việc gì phải dùng đến con được, thì con nguyện dù muôn thác cũng chẳng từ.
    Vương Doãn nghe thế cả mừng, nói:
    - Cha ngờ đâu sự nghiệp cơ đồ còn ở trong tay con trẻ.
    Đoạn, lão bảo Điêu Thuyền theo lão lên nhà trên. Lão truyền cho bọn gia đinh đi ngủ cả, rồi bảo Điêu Thuyền:
    - Con ngồi lên cho cha lạy rồi cha sẽ nói chuyện cho con nghe.
    Điêu Thuyền kinh hãi quỳ xuống, thưa:
    - Lòng con đã nhất quyết, nếu cha còn lo ngại mà buông những lời như thế thì con rất đắc tội với cha!
    Doãn buồn rầu bảo:
    - Đổng Trác hiện nay dọc ngang tàn bạo, thêm có người con rể tên Lý Nhu bày mưu hại chúng, và có người con nuôi tên Lữ Bố kiêu dũng khác thường làm cho trên thì triều đình khốn khổ như bị đá dằn, dưới thì bá tánh nguy nan như mắc dây treo ngược. Đổng Trác lại ôm lòng toan soán vị mà các quan đều thúc thủ vô kế khả thi, riêng cha cũng thê. Nhưng cha chỉ thấy có một điều này, nói ra rất ngại, không biết con có bằng lòng không?
    Điêu Thuyền sa nước mắt:
    - Cha không tin lòng con sao?
    Doãn ngậm ngùi nói:
    - Cha tin lòng của con, nhưng ngại con không thực hành được. Nguyên cha con Đổng Trác là phường hiếu sắc, bây giờ cha muốn dùng "liên hoàn kế", trước đem con hứa tiếng gả cho Lữ Bố, rồi sau lại hiến cho Trác. Con ở giữa tùy cơ ứng biến làm cho cha con chúng trở lại giết hại nhau. Nếu làm được vậy là con liều thân giúp nước, công lao vô cùng to lớn.
    Điêu Thuyền cúi đầu sa nước mắt, nghẹn ngào:
    - Con xin vâng lời cha. Cha cứ tin tưởng nơi con.

    Hôm sau, Vương Doãn đem hai hạt minh chau, bảo thợ khéo khảm một cái mão vàng tuyệt đẹp, rồi sai người đem tặng cho Lữ Bố. Bố mừng rỡ liền qua dinh tạ ơn.

    Vương Doãn rước Lữ Bố vào nhà, thỉnh lên ngồi trên. Lữ Bố không dám, Doãn ân cần nói:
    - Ngày nay, cả thiên hạ chỉ có tướng quân mới đáng mặt anh hùng. Lão kính tài tướng quân chớ không phải kính chức phận.
    Nghe thế, Lữ Bố vui lòng đẹp ý lắm.

    Vương Doãn lại bày yến tiêc, khuyên mời Lữ Bố rất ân cần. Trong tiệc, Doãn không ngớt lời ca tụng oai thế cha, tài lực con, làm cho Bố càng hứng chí, uống rượu thật nhiều. Độ một lúc, Doãn truyền quân hầu đi nghỉ, chỉ để vài thị nữ ở lại châm rượu. Thấy Bố hơi men đã thấm, Doãn truyền thị nữ phò Điêu Thuyền ra.

    Mặt hoa mơn mởn lại trang điểm vô cùng diễm lệ, mình liễu uyển chuyển lại y phục lộng lẫy huy hoàng, Bố vừa trông thấy đã giật nẩy mình, tưởng là tiên nữ hạ phàm, nhìn không chớp mắt. Doãn tươi cười giới thiệu:
    - Con gái lão là Điêu Thuyền. Nay lão với tướng quân cũng như tình nghĩa một nhà, nên cho nó ra chào mừng tướng quân và thay mặt lão bồi rượu. Kẻo lão già yếu e có điều sơ xuất.
    Đoạn bảo Điêu Thuyền đến bên Lữ Bố mời rượu. Nàng uốn tay ngọc nâng ly rượu ghé lại mời, rồi đôi mắt long lanh nhìn thẳng vào đối mắt chàng. Bốn mắt đưa lên rồi hai cặp mày lại rủ xuống, rồi lại nhìn nhau nữa, khiến cho kẻ ngẩn ngơ, người ngơ ngẩn.

    Vương Doãn giả say.

    Lữ Bố mời Điêu Thuyền ngồi. Nàng tỏ vẻ e lệ ngần ngừ rồi muốn bỏ vào trong. Doãn vui vẻ bảo:
    - Tướng quân đây vốn người thiết nghĩa với cha. Con cứ ngồi, không phải ngại.

    Nàng vân lời, rón rén ngồi xuống cạnh Vương Doãn.

    Bấy giờ, Bố cứ ngồi ngây người ra như tượng gỗ. Hai mắt đăm đăm nhìn nàng không rời, y như bị thu hồn. Rồi đưa tay lên miệng như cái máy mà uống cạn luôn mấy ly rượu nữa.

    Doãn rất đắc ý, nói:
    - Lão muốn đưa con gái lão sang làm tiểu thiếp tướng quân để hầu hạ trang anh hùng duy nhất đời nay. Chẳng hay tướng quân có lòng thương yêu dung nạp chẳng?
    Lữ Bố vội đứng ngay dậy, chắp tay cúi đầu tạ rằng:
    - Nếu tướng công thương cho được thế, tiểu tướng thề đem hết sức khuyển mã báo đáp ân tình.
    Doãn nói với giọng cương quyết:
    - Vậy nay mai lão chọn được giờ tốt thì sẽ cho người đưa tiện nữ sang ngay quý phủ.

    Bố mừng rỡ khôn xiết, hân hoan đưa mắt nhìn Điêu Thuyền. Nàng cũng đảo đôi mắt long lanh, như sóng nước hồ thu đưa tình....tiếp theo một nụ cười nở nhẹ trên làn môi thắm.

    Tiêc tan, Bố quyến luyến không muốn đứng dậy. Doãn nhỏ nhẹ bảo:
    - Ý lão muốn lưu tướng quân nghỉ lại đây một đêm, nhưng sợ Thái sư nghi hoặc đấy thôi.
    Bố dùng dằng lưu luyến mãi nhưng rồi sau hai ba lần tạ ơn Vương Doãn, chàng mới đành ra về, thần trí vẫn mơ màng đến người đẹp và mong mỏi, đợi chờ...

    Sau, Vương Doãn lại kính cẩn mời Đổng Trác đến nhà. Trác bằng lòng đến. Doãn tiếp rước trọng thể và bày yến tiệc. Doãn luôn miệng ca tụng:
    - Thái sư là cành vàng lá ngọc, phước lộc song toàn, không nhường Y Doãn (2), Chu Công (3) đời trước.
    Trác lấy làm đắc ý. Doãn lại nói:
    - Tôi có học chút thiên văn biết chắc vận số Hán triều đã hết, bốn phương thiên hạ đều nghe tiếng Thái sư. Căn cứ vào ý trời và lòng người chắc không bao lâu, thiên tử cũng nhượng vị cho Thái sư chớ chẳng không.
    Trác rất khoái trá, nâng ly rượu, cười khà khà:
    - Ta đâu dám trong chuyện ấy. Nếu may gặp hoặc thời vận có đến cho ta, thì ta hứa với Tư đồ là sẽ phong cho Tư đồ làm cống mạng đại thần.
    Doãn tỏ vẻ mừng rỡ, vâng vâng dạ dạ, lại truyền cho nữ nhạc dâng ca múa hát cho Đổng Trác xem.

    Bấy giờ đuốc hoa càng đốt lên sáng rực cả nhà.
    Rèm châu vừa cuốn lên, thì Điêu Thuyền nhè nhẹ gót hài bước ra, xiêm y thướt tha, mình liễu uyển chuyển múa trước rèm châu như tiên nữ nhập động.

    Trác nhìn đắm đuối đờ đẫn như kẻ mất hồn. Điêu Thuyền lại hát. Nàng vừa cầm phách gõ nhịp cất giọng ca. Giọng trong như oanh kêu, cao như hạc gọi, khi trầm khi bổng thánh thót như rót vào tai, mà huyền huyền ảo ảo làm mê hồn tục kháck. Trác tặc lưỡi, nức nở khen mãi. Sắc đẹp, hát hay, vũ giỏi, thật là không phải một kẻ phàm tục. Doãn giới thiệu với Trác: nàng là con nuôi. Trác lại hỏi tuổi. Nàng thỏ thẻ:
    - Thiếp vừa đôi tám.
    Trác nức nở khen:
    - Trông qua, ta ngỡ là tiên.
    Doãn đứng dậy thưa:
    - Ý tôi muốn dâng nó cho Thái sư, không biết Thái sư có bằng lòng dung nạp không?
    Trác gật gù, khoan khoái lập bập nói:
    - Tư đồ hậu tình thương ta, thật ta không biết lấy chi đáp tạ cho xứng.
    Doãn khiêm nhượng nói:
    - Con tôi được hầu gần Thái sư là có phần phước lắm. Tôi còn mong ước gì hơn nữa.

    Tiệc rượu xong, Đổng Trác từ giã ra về. Doãn cho người đem xe đưa Điêu Thuyền theo Trác về Tướng phủ.

    Bấy giờ vừa lúc canh một. Sau khi đưa Điêu Thuyền về Tướng phủ, Vương Doãn quày ngựa trở về. Vừa đến nửa đường, bỗng gặp Lữ Bố cầm kích cưỡi ngựa đi đến. Bố gò cương lại, đưa tay nắm lấy áo Doãn, gay gắt hỏi:
    - Ngai bày trò chi lắm vậy! Tại sao ngài đã hứa gả con cho tôi mà còn đem cho Thài sư?
    Vương Doãn điềm nhiêm đáp:
    - Tướng quân chớ nóng nảy, xin mời về một thể rồi lão sẽ tường trình cho tướng quân nghe.
    Đến nhà, Doãn hỏi:
    - Tướng quân cớ gì trách lão?
    - Người ta cho biết là ngài cho xe đưa Điêu Thuyền qua Tướng phủ.
    Doãn tỏ vẻ ngạc nhiên:
    - Thế tướng quân không hay gì sao? Nguyên hôm nọ, Thái sư ở triều đường có nói với lão là sẽ đến viếng nhà lão. Do đó lão phải sửa soạn tiếp rước. Trong tiệc rượu, người dạy lão rằng: "Ta nghe ngươi co một đứa con gái là Điêu Thuyền đã hứa gả cho con ta, sợ ngươi nói không chắc nên ta phải đến đây mà cầu. Vậy ngươi bảo nó ra đây cho ta xem". Lúc ấy lão không dám nghịch mạng, lập tức đem nó ra mừng cha chồng. Người lại bảo rằng: "Nay cũng nhằm ngày tốt, vậy để ta rước nó về phối hợp cùng Lữ Bố". Lệnh của Thái sư, lão đâu dám cải. Xin tướng quân xét lại.
    Bố suy nghĩ một lúc rồi nói:
    - Tại tôi nghe lầm, xin ngài miễn chấp.
    Vương Doãn nói:
    - Đồ tư trang của con lão đem theo chưa hết. Khi nào đưa nó về dinh tướng quân rồi, lão sẽ sai người đem qua cho nó.
    Bố tin thực, lòng mừng khấp khởi, đợi chờ......

    Nhưng.........
    Đợi chờ trông ngóng mãi, từng giờ, từng phút, từng giây, nhưng nào thấy bóng hồng được ai đưa đến. Lữ Bố lòng xốn xang nên lần mò qua Tướng phủ hỏi thăm mấy người thị nữ. Chúng đáp:
    - Quan Thái sư còn ngủ với tân giai nhân đến bây giờ chưa thức.
    Nghe thế, Bố chết điếng cả người.
    Vừa đau đớn, vừa tức giận, Bố lén vô cửa sau phòng nom xem. Vừa lúc ấy Điêu Thuyền đã thức, đứng trước gương chải tóc, thấy Bố thì quay ra nhìn, mặt mày buồn nghiến. Nàng đưa khăn chậm mắt.
    Lữ Bố ruột lòng đứt đoạn.

    Đổng Trác thức dậy nhìn qua nhà giữa thấy Bố bước vào thì hỏi:
    - Có việc chi không?
    Bố đáp "không" rồi vòng tay đứng hầu. Thấy Điêu Thuyền đứng thập thò bên bức rèm châu ở cửa phòng, nhìn chàng đăm đăm, vẻ mặt đầy đau đớn tủi cực thì lòng Lữ Bố càng tan nát. Trông người Lữ Bố đờ đẫn như kẻ mất hồn, Đổng Trác sinh nghi nên truyền cho Lữ Bố lui đi nghỉ. Bố trong lòng ấm ức, tiu nghỉu bước ra về.

    Từ khi dung nạp Điêu Thuyền, hơn một tháng, Đổng Trác không ra khách. Một hôm lão cảm thương hàn. Điêu Thuyền tận tụy chầu chực, thuốc men, cơm cháo. Trác lấy làm vui lòng lắm. Bố nghe tin vào phòng vấn an. Vừa lúc Đổng Trác còn ngủ, Điêu Thuyền đứng sau giường nhìn Lữ Bố, lấy tay chỉ lòng mình rồi lại chỉ Đổng Trác và hai hàng lệ chảy ròng trên má.

    Bố đau đớn vô cùng.
    Trác giật mình thức giấc, mở mắt thấy Lữ Bố đứng nhìn sau giường mãi thì nổi giận trở mình qua, lại thấy Điêu Thuyền, nên nạt Lữ Bố:
    - Sao mi dám giễu cợt ái cơ ta?
    Lão lại truyền đuổi Bố ra. Lại cấm Bố không được bén mảng đến nữa. Bố gặp Lý Nhu, tỏ bày tự sự, Nhu vào bẩm với Trác:
    - Thái sư muốn tung hoành thiên hạ sao lại lấy chút hờn nhỏ quở trách Ôn Hầu (4), nếu y biến tâm ắt hư đại sự.
    Trác hỏi:
    - Bây giờ liệu làm sao?
    Nhu nói:
    - Thái sư cho kêu y vào ban thưởng bạc vàng và lấy lời an ủi.
    Trác nghe theo. Bố tạ ơn nhưng lòng tan nát của Bố làm sao hàn gắn được.

    Đổng Trác lành bệnh, xe giá vào chầu vua. Bố cầm kích theo hầu. Thấy Trác đang nói chuyện với vua, Lữ Bố lén cầm kích lên ngựa chạy phăng về Tướng phủ, vào kiếm Điêu Thuyền. Điêu Thuyền tỏ vẻ vui tươi nói:
    - Lang quân ra sau vườn đến Phụng Nghi Đình mà chờ thiếp.
    Điêu Thuyền trang điểm xong, vội vàng bơớc ra sau, chấp tay bái Lữ Bố mà rưng rưng nước mắt, nói:
    - Thiếp tuy là con nuôi của quan Tư đồ, song người coi như con đẻ. Người gả thiếp cho lang quân là chọn chỗ xứng đáng cho thiếp trao thân gởi phận. Mừng chưa kịp thì không ngờ Thái sư lòng trâu dạ chó, bắt thiếp cưỡng bức như thế này. Sở dĩ thiếp chưa chịu chết vì chưa gặp mặt chồng. Nghĩ lại thiếp ngày nay chẳng khác hoa tàn nhị rữa còn phụng sự bậc anh hùng sao đặng. Vậy thiếp xin tự tử trước mặt lang quân để lang quân hiểu rõ nổi lòng của thiếp.
    Nói xong, Điêu Thuyền nhắm ngay ao sen toan nhảy xuống. Lữ Bố lật đật ôm lại, cảm động nói:
    - Ta biết rõ lòng nàng lắm rồi.
    Điêu Thuyền níu lấy Lữ Bố, nức nở:
    - Đôi ta bây giờ sống ở dương gian chẳng được kết duyên thì xin nguyện chết xuống tuyền đài sẽ kết duyên tơ tóc.
    Bố an ủi nói:
    - Kiếp này nếu ta không lấy được nàng làm vợ thì thề không phải là một kẻ anh hùng.
    Điêu Thuyền đưa khăn chậm mắt, nghẹn ngào:
    - Thiếp tin tưởng lời hứa của lang quân. Xin lang quân thương mà cứu thiếp.
    Bố nói:
    - Ta đi nãy giờ cũng lâu, sợ lão tặc sinh nghi thì khổ.
    Điêu Thuyền níu lấy vạt chiến bào của Lữ Bố, khóc dầm nói:
    - Nếu lang quân sợ lão tặc như thế thì chắc thân thiếp khó thoát được rồi!
    Bố an ủi:
    - Nàng đừng lo mà hao tổn mình vàng, để thủng thẳng ta liệu.
    Nói rồi xách kích muốn đi, Điêu Thuyền nói:
    - Thiếp ở chốn khuê phòng nghe danh tiếng lang quân anh hùng trên đời có một, không ngờ lại bị người kềm chế như thế.
    Nói rồi lại khóc òa lên như mưa như gió một cách bi thảm. Bố lấy làm thẹn thùng, xấu hổ để kích xuống, ôm lấy Điêu Thuyền, đưa khăn chậm nước mắt cho nàng, tìm lời an ủi vỗ về.
    Hai người bịn rịn âu yếm, không nỡ buông nhau.
     
  11. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Tiếp.....


    Đổng Trác ngồi tại triều, chợt quay lại nhìn không thấy Lữ Bố thì hối hả từ tạ vua, lên xe về. Thấy ngựa của Bố buộc trước phủ thì vội hỏi:
    - Lữ Bố đi đâu mà để ngựa đây?
    Môn nhân thưa:
    - Lữ Ôn Hầu đi ra nhà sau.
    Trác vào phủ kiếm không thấy. Cả Điêu Thuyền cũng vắng. Trác hoảng hốt hỏi thị nữ. Chúng thưa Điêu Thuyền ra vườn xem hoa. Trác hỏa tốc đi thẳng ra sau thấy Điêu Thuyền và Lữ Bố đang nói chuyện. Lão hoa cả mắt. Máu ghen sôi sùng sục, lão quát lên một tiếng. Lữ Bố hoảng hốt bỏ chạy, để cây kích lại dựa lan can ở bao lơn.

    Đổng Trác cúi xuống cầm lấy kích, phóng ngay người Lữ Bố, nhưng không trúng. Lão đuổi theo nhưng gần đến cửa vườn, thốt nhiên một người ở ngoài chạy vào va nhằm cái bụng phệ của Đổng Trác làm lão té nằm một đống như cây thịt to nặng nề đổ.

    Đó là Lý Nhu, con rể của Trác. Trác mặt hầm hừ nói:
    - Thằng nghịch tặc đó dám giỡn với ái cơ ta. Ta quyết không dung.
    Nhu thưa:
    - Thái sư chớ vội nóng nảy mà lầm. Xưa, Sở Trang Vương trong "Tuyệt anh hội" (5) không trách phạt Tưởng Hùng về tội ghẹo ái cơ, mà về sau Trang Vương được Tưởng Hùng liều chết cứu khỏi vòng vây nguy khốn của quân Tần. Nay Điêu Thuyền bất quá chỉ là một ả con gái thường mà Lữ Bố là mãnh tướng tâm phúc của Thái sư. Nếu nhân cơ hội này, Thái sư đem Điêu Thuyền tặng cho Lữ Bố, ắt Bố phải cảm kích vô cùng, và sẽ liều chết báo ơn. Xin Thái sư nghĩ lại cho kỹ.
    Trác trầm ngâm một lúc, rồi nói:
    - Ngươi nói vậy cũng phải, để ta nghĩ lại đã.
    Nhu từ tạ lui ra. Trác vào hậu đường hỏi Điêu Thuyền:
    - Sao mi dám tư thông với Lữ Bố?
    Điêu Thuyền khóc nấc lên rồi kể lể:
    - Thiếp đang xem hoa nơi sau vườn, thình lình Lữ Bố bước vào, thiếp hoảng sợ toan chạy trốn. Hắn nói hắn là con của Thái sư, không hề chi, rồi cầm kích rượt thiếp đến Phụng Nghi Đình. Thấy hắn sinh tâm, xấu xa như vậy, thiệp định liều mình nhảy xuống ao sen. Hắn lại ôm cứng lấy thiếp. Đang cơn bối rối, vừa may ngài vào kịp nên thiếp mới toàn tính mạng. Vậy mà Thái sư không thương lại còn nói oan, nói xấu cho thiếp.
    Đổng Trác nói:
    - Ý ta muốn gả mi cho Lữ Bố, vậy mi có bằng lòng không?
    Điêu Thuyền thất sắc, nức nở:
    - Thiếp đã thất thân với Thái sư, bây giờ Thái sư lại nỡ lòng đem thiếp đưa cho con là một tên thất phu, như thế thật trái đạo quá. Vậy thiếp thà chết, còn hơn sống mà chịu nhơ danh.
    Nói xong, Điêu Thuyền bước lại rút lấy gươm treo trên vách toan đâm vào cổ. Trác hốt hoảng vội đứng dậy giật lấy gươm, ôm Điêu Thuyền vào lòng, đặt môi vào má nàng hôn lấy hôn để, nói:
    - Ta nói đùa nàng vậy mà.
    Điêu Thuyền nằm ngã ngang trên mình Đổng Trác, tay đập, chân giẫy, khó kể:
    - Thiếp biết mưu này là của Lý Nhu. Nhu với Bố thân nhau nên muốn được lòng nhau mới bày điều phi đạo lý, vô liêm sĩ như thế.
    Trác nâng lấy má của Điêu Thuyền, nói:
    - Nàng có lòng như thế, ta phụ rẫy sao đành.
    Điêu Thuyền nói:
    - Thiếp e ở lâu nơi này thì Lữ Bố có ngày hãm hại.
    Đổng Trác nói:
    - Thôi, nàng chớ buồn rầu mà hao mòn sắc đẹp. Sáng mai, ta sẽ đưa nàng về My Ô để chúng ta cộng hưởng khoái lạc.
    Điêu Thuyền vui vẻ lau nước mắt bái tạ.

    Hôm sau, Lý Nhu vào thưa với Trác:
    - Nay cũng tốt ngày, vậy xin Thái sư cho đưa Điêu Thuyền về với Lữ Bố.
    Trác bảo:
    - Ta với Lữ Bố có tình cha con, nếu làm như thế ta e can danh phạm nghĩa, để thiên hạ sỉ nhục ta chăng?
    Nhu nói:
    - Xin Thái sư cương quyết, không nên nghe lời phụ nữ.
    Trác nổi giận quát to:
    - Mi đành đưa vợ mi cho Lữ Bố không? Này, tự hậu còn nói chuyện về Điêu Thuyền nữa thì toi mạng đấy.
    Nhu buồn bã bước ra, than thở:
    - Chúng ta đều phải chết về tay đàn bà!

    Ngay ngày hôm sau, Đổng Trác hạ lệnh xe giá về My Ô, là quê hương. Các quan đều lạy đưa. Điêu Thuyền ngồi trên xe thấy Lữ Bố nhìn nàng mãi thì giả bộ che mặt rồi lấy khăn chậm mắt.

    Xe đã đi rồi nhưng Lữ Bố cầm cương ngựa cho đi từng bước một trên gò, đăm đăm nhìn theo xe cuốn sau một làn bụi mịt mờ mà lòng đứt đoạn.

    Vương Doãn giục ngựa trờ tới hỏi:
    - Sao tướng quân không cùng đi với Thái sư, lại ở đây mà buồn bã như vậy?
    Lữ Bố ngậm ngùi, thở dài:
    - Cũng vì chuyện con gái của ngài mà tôi mới buồn!
    Vương Doãn cũng thở dài, nói:
    - Lão tưởng lâu nay đã đưa con về cho tướng quân rồi, không ngờ Thái sư hành sự như cầm thú. Lão nghĩ lại con lão thật vô phước lắm!
    Vương Doãn lại mời Bố về tư dinh và dọn tiệc thết đãi. Bố càng buồn, đem chuyện Điêu Thuyền khóc kể tại Phụng Nghi Đình cho Vương Doãn nghe. Doãn nói:
    - Thái sư cưỡng bức con lão, đoạt vợ tướng quân thiên hạ sĩ tiếu lão và tướng quân nhiều lắm. Nhưng lão già rồi cũng không còn gì đáng tiếc; chỉ tiếc cho tướng quân có danh cái thế anh hùng mà lại phải chịu nhục nhã như vậy.
    Lữ Bố nghe nói nổi giận vỗ bàn quát to. Vương Doãn can:
    - Lão chẳng may nói lỡ lời, xin tướng quân bớt giận.
    Lữ Bố nói:
    - Tôi quyết giết lão tặc ấy thì mới rửa được sự xấu hổ này.
    Vương Doãn ra vẻ sợ sệt nói:
    - Tướng quân giận dữ nói như vậy e họa lây đến lão.
    Lữ Bố nói:
    - Làm người đứng giữa càn khôn lẽ đâu lại chịu người câu thúc như vậy. Tôi muốn giết lão tặc ấy lắm nhưng còn ngại tiếng cha con.
    Vương Doãn mỉm cười nói:
    - Thái sư họ Đổng, tướng quân họ Lữ có liên hệ gì đâu. Khi Thái sư phóng kích tại Phụng Nghi Đình thì còn tình nghĩa cha con gì nữa. Vả lại tài ba của tướng quân nếu giúp Hán thì được chữ trung thần, danh lưu thiên cổ; theo phò Đổng Trác thì mang tiếng phản nghịch di xú vạn niên.
    Lữ Bố đứng lên bái tạ Doãn và nói:
    - Lòng tôi đã quyết, thượng quan chớ nghi ngại.
    Nói xong, cắt tay chảy máu mà thề.

    *
    * *

    Vâng theo mưu của Vương Doãn và Lữ Bố, Lý Túc đem 20 quân mã đến My Ô, thưa với Đổng Trác:
    - Vua đau mới nhẹ, ý muốn nhượng cho Thái sư nên sai tôi đem chiếu ra đây mà tuyên triệu.
    Đổng Trác hỏi:
    - Vương Doãn có bằng lòng không?
    Túc đáp:
    - Quan Tư đồ đã sai người đắp nền ba tầng xây Thọ Thiên Đài, chuẩn bị đón rước Thái sư.
    Trác mừng rỡ nói:
    - Hèn chi đêm qua, ta nằm mộng thấy rồng phủ trên mình, quả nhiên bây giờ được hỉ báo.
    Rồi ngay hôm ấy, Trác truyền bày xe giá để trở về kinh. Lại nói với Điêu Thuyền:
    - Ta lên làm vua thì sẽ lập nàng làm hoàng hậu.
    Điêu Thuyền đã biết mưu kế rồi nhưng cũng giả bộ vui vẻ lạy đưa.

    Trác về kinh vào Tướng phủ, Bố đến bái yết. Trác nói:
    - Cha lên làm hoàng đế thì sẽ phong cho con làm Đại đô đốc tổng quản quyền hành.
    Lữ Bố tạ ơn.

    Sáng hôm sau, Đổng Trác vào triều. Các quan mặc phẩm phục chực rước bên đường. Lý Túc cầm gươm hầu theo xe Trác. Vào đến cửa Bắc dịch, quân sĩ của Trác phải đứng lại bên ngoài. Chỉ còn Trác ngồi xe cùng vài chục người được vào. Đến bên trong thấy Vương Doãn và các quan đều cầm gươm lăm lăm trong tay, đứng đợi sẵn, bấy giờ Trác có hơi hoảng sợ mới hỏi Túc:
    - Ai cũng đều cầm gươm thế kia là ý thế nào?
    Túc không đáp, cứ đẩy xe thẳng vào.
    Bỗng Vương Doãn hô to lên:
    - Phản tặc đã tới! Vũ sĩ đâu?
    Tức thì có hơn 100 vũ sĩ phục sẵn hai bên đổ ra cầm kích, cầm giáo đâm như mưa vào người Đổng Trác. Vì Trác mặc áo giáp sắt nên giáo kích không đâm thấu, chỉ bị thương nơi cánh tay và ngã quay xuống đất. Trác vội kêu lên:
    - Phụng Tiên con đâu? Cứu ta!
    Lữ Bố chạy ra sau xe, quát to lên rằng:
    - Có chiếu chỉ giết giặc đây.
    Đoạn đâm ngay một kích trúng giữa yết hầu Trác.

    Vương Doãn lại sai Lữ Bố, Hoàng Phủ Tung và Lý Túc dẫn quân kéo ra My Ô, tịch biên tài sản của Đổng Trác. Bố đến My Ô, giao tất cả công việc cho Hoàng Phủ Tung và Lý Túc, còn mình thì vào phòng tìm kiếm Điêu Thuyền.

    Về việc làm của Điêu Thuyền, "Thánh Thán ngoại thư" có đoạn phê bình:

    "Mười tám lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác, mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nổi Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nổi Lữ Bố, mà chỉ một nàng Điêu Thuyền lại thắng nổi. Ôi, lấy chăn chiếu làm chiến trường, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy sóng mắt nụ cười làm gươm sắc giáo nhọn, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nước mắt nũng nịu làm tên đạn, lấy lời tình tứ ngọt ngào làm chiến lược mưu cơ. Xem thế thì cái bản lãnh của "Nữ tướng quân" quả là tuyệt cao cường, đáng sợ lắm thay!

    Tây Thi với Điêu Thuyền cùng lấy sắc khuynh thành. Nhưng việc làm của Tây Thi còn dễ, việc của Điêu Thuyền khó hơn. Tây Thi chỉ phải đánh ngã một mình Ngô Vương Phù Sai. Điêu Thuyền phải đồng thời đánh ngã cả Lữ Bố lẫn Đổng Trác. Phải luôn luôn nghĩ mưu kế trong lòng, thay đổi bộ mặt để đối phó với cả hai bên. Ta nghĩ rằng cái công của Điêu Thuyền đáng ghi vào sử xanh. Nếu như, khi Đổng Trác bị giết rồi, Vương Doãn không vụng về mà gây ra cái loạn Lý Thôi, Quách Dĩ thì cơ đồ nhà Hán đã phục hưng ngay từ đó. Và như thế thì một cô gái Điêu Thuyền há lại không đáng ghi tên vào nơi Phượng Các, không được tô tượng ở chỗ Lân Đài hay sao?
    Cái tuyệt diệu của kế "Liên hoàn" không phải là làm cho Lữ Bố giết Đổng Trác đâu! Nếu Trác cầm kích lao trúng, giết chết Lữ Bố lúc bấy giờ, tức là Trác tự chặt một cánh tay, và Trác sẽ bị tiêu diệt dễ dàng ngay. Đó mời là chủ ý. Điều này đã nằm trong bụng Vương Doãn và có lẽ Điêu Thuyền cũng muốn thế. Vương Doãn lẽ nào lại yêu Lữ Bố? Mà Điêu Thuyền cũng không yêu Lữ Bố đâu?

    Riêng ta, ta yêu nàng Tây tử thật lòng trở về với Phạm Lãi; và yêu nàng Điêu Thuyền giả vờ sống thác với Lữ Bố. Bởi vì tuy thân đứng trước Lữ Bố, nhưng lòng Điêu Thuyền bao giờ cũng chỉ nghĩ đến một mình Vương Doãn mà thôi.

    Sau khi thành Hạ Bì thất thủ, Lữ Bố bị chết, đâu còn thấy bóng dáng nàng ở chỗ nào? (6) Nàng chính là con rồng thiêng, chỉ lộ cái đầu, cái mình với đời, mà không cho đời sau biết cái đuôi mình ẩn đi đâu hết! Có thế danh tiếng mới khỏi bị tổn thương."

    Trên đây là lời phê bình của Thánh Thán.


    -------------------
    (1) 10 tên hoạn quan như Trương Nhượng, Triệu Tung, Phong Tư, Đoàn Khê, Tào Tiết, Hầu Lãm, Kiển Thạc, Trình Khoáng, Hạ Huy, Quách Thắng hợp bè đảng với nhau làm nhiều điều gian ác, tán bạo.
    (2) Y Doãn xưa cày ruộng ở đất Hữu Sần. Vua Thang biết là bậc hiền, sai đem lễ vật đến mời ba lần mới chịu ra giúp. Vua Thang tôn làm A-hành (thầy học) được trọng hơn cả vua và cha mẹ. Sau Y Doãn làm tuớng giúp vua Thành Thang giết vua Kiệt, dựng cơ nghiệp nhà Thương.
    Khi vua Thang mất, cháu là Thái Giáp nối ngôi, bỏ bê cả điển hình của tổ phụ. Y Doãn bèn phóng (đuổi) ra ở đông cung (mộ vua Thang), rồi soạn thiên Y Huân để dạy bảo. Sau 3 năm Thái Giáp hối lỗi, trở nên bậc vua hiền, bấy giờ ông lại đón về trả lại quyền chính (sách Thượng thư chép: Thái Giáp lên ngôi năm 1754 trước D.L. rồi bị phóng tới năm 1751 trước D.L. thì được phục vị).
    Nhà Thương cả thảy 3 đời vua chịu ơn giáo dục của Y Doãn, nên ông làm việc đuổi vua mà không xảy ra chuyện gì.
    (3) Xem bài "Chu Công thổ bộ".
    (4) Tên chữ của Lữ Bố.
    (5) Xem bài "Tuyệt anh hội".
    (6) Nguyên Lữ Bố có hai thê, một thiếp. Trước lấy Nghiêm thị làm chính thê. Sau lấy Điêu Thuyền làm thiếp. Cho đến khi ở Tiểu Bái lại lấy con gái của Tào Báo làm thứ thê. Tào thị mất sớm không con. Điêu Thuyền cũng không sinh nở. Chỉ có Nghiêm thị sinh được một gái.
    Sau, Lữ Bố thất bại ở thành Hạ Bì, bị Tào Tháo giết, người ta không biết Điêu Thuyền về đâu.
     
  12. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Điểu Tận Cung Tàng


    "Điểu tận cung tàng" nghĩa là: khi chim đã chết thì người ta vất cung đi một nơi mà không dùng đến nữa. Nguyên câu Hán văn: "Giảo thổ tử, tẩu cẩu phanh; cao điểu tận, lương cung tàng; địch quốc phá, mưu thần vong". Nghĩa là: "Thỏ khôn chết, chó săn bị mổ thịt; chim bay cao chết, cung tốt vất bỏ; nước địch phá xong, mưu thần bị giết".

    Nguyên đời Xuân Thu (722-479 trước D.L.), nước Việt và nước Ngô giao tranh. Vua Ngô là Phù Sai thất bại. Thế cùng lực tận và bị bao vây bức bách quá, định xin hàng. Phù Sai biết có hai bề tôi có uy quyền của Việt vương Câu Tiễn là Tướng quốc Phạm Lãi và Đại phu Văn Chủng, nên viết một bức thư, buộc vào mũi tên, bắn vào thành Việt, mong hai người tâu giúp vua Việt cho hàng. Quân Việt lượm được đệ trình lên Phạm Lãi và Văn Chủng. Thư ấy nói:
    "Tôi nghe giảo thỏ chết thì chó săn tất bị mổ, địch quốc đã diệt thì mưu thần cũng chẳng còn. Sao quan Đại phu không lưu ch nước Ngô tôi còn lại một chút để làm cái dư địa sau này".

    Nhưng Phạm Lãi và Văn Chủng không cho hàng. Cuối cùng Phù Sai tự tử.

    Việt vương Câu Tiễn chiếm được nước Ngô, bày tiệc rượu trên Văn đài nước Ngô. Các quan vui say đánh chén nhưng Câu Tiễn lại có vẻ không vui. Phạm Lãi biết ý nhà vua không muốn nói đến công của kẻ hầu hạ đã diệt được Ngô mà lòng vua lại mang mối nghi kỵ, nên xin từ quan trí sĩ.

    Nhưng trước khi bỏ nước du ngũ hồ (1), Phạm Lãi có viết thư gửi cho bạn là Văn Chủng. Thư nói:
    "Vua Ngô có nói: "Giảo thỏ đã chết thì chó săn tất bị mổ, địch quốc đã diệt thì mưu thần cũng chẳng còn". Ngài không nhớ hay sao! Vua Việt môi dài mỏ quạ là người nhẫn nhục mà ghét kẻ có công. Cùng ở lúc hoạn nạn thì được, chớ cùng ở lúc an lạc thì không toàn, nay ngài không đi ắt có tai vạ".

    Văn Chủng xem thư phàn nàn Phạm Lãi, cho họ Phạm xử như thế thì khí quá!

    Quả thực như lời Phạm Lãi nói. Câu Tiễn không chia cho các quan một thước đất nào, lại có ý khinh dể công thần. Văn Chủng buồn bã, cáo ốm không vào triều. Câu Tiễn vốn biết tài của Văn Chủng, nghĩ thầm: "Ngô đã diệt, còn dùng hắn chi nữa, một khi hắn làm loạn thì làm sao trị nổi?". Do vậy, Câu Tiễn rấp tâm muốn trừ đi Văn Chủng.

    Một hôm, Câu Tiễn đến thăm bệnh Văn Chủng, bảo:
    - Ta nghe người chí sĩ không lo cái thân mình chết mà lo cái đạo mình không được thực hành. Nhà ngươi có 7 thuật, ta mới thi hành có 3 mà Ngô đã bị diệt, còn thừa 4 thuật, nhà ngươi định dùng làm gì?
    Văn Chủng đáp:
    - Tôi cũng không biết dùng làm gì cho được!
    Câu Tiễn nói:
    - Hay nhà ngươi đem 4 thuật ấy mà mưu hộ cho tiền nhân nước Ngô ở dưới âm phủ, phỏng có nên chăng?
    Nói xong, lên xe đi về; bỏ thanh kiếm đeo lại chỗ ngồi. Văn Chủng cầm lấy xem thấy vỏ kiếm có đề chữ Chúc Lâu, là thanh kiếm của Phù Sai đưa cho Ngũ Viên tự tử khi trước. Văn Chủng ngửa mặt lên trời than:
    "Cổ nhân có nói "Ơn to thì không báo nữa", ta không nghe lời Thiếu Bá (2) đến nỗi bị giết, chẳng cũng ngu lắm ru!".

    Văn Chủng nói xong, cầm kiếm tự tử.

    Lời nói: "Giảo thổ tử, tẩu cẩu phanh; cao điểu tận, lương cung tàng...." được nhiều người về sau nhắc lại.

    Đời Tây Hán (206 trước 23 sau D.L), Hàn Tín, người đất Hoài Âm phò Hán Lưu Bang, có tài cầm quân nên diệt Triệu, phá Ngụy, thắng Sở, làm cho Sở Bá Vương Hạng Võ phải bức tử ở Ô Giang. Hán Lưu Bang thấy tài của Hàn Tín quán thế thiên hạ và Tín có ý cậy công nên nghi Tín làm phản, lòng toan mưu mẹo chờ dịp giết Tín.

    Khoái Triệt là tướng tâm phúc của Hàn Tín có khuyên Tín: "Tôi lo thầm cho túc hạ, vì thấy túc hạ chắc rằng Hán vương (3) chẳng hại thì là lầm lắm. Hễ thú rừng hết thì ắt làm thịt chó săn, túc hạ phải lo cho xa mới được. Vả lại, dũng lược mà rúng chúa, thì mình khốn, công trùm thiên hạ lại chẳng được thưởng. Nay túc hạ mang cái oai rúng chúa, cầm cái công chẳng thưởng mà muốn cho được an thân sao?".

    Hàn Tín cho là phải nhưng không nghe theo để đề phòng. Sau Hàn Tín bị vua lừa bắt tại Vân Mộng, kết án mưu phản, toan đem xử tử. Hàn Tín thở dài, than:
    - Chim rừng hết thì cung ná quăng, chồn thỏ chết thì chó săn chết, nước giặc phá thì mưu thần mất. Nay thiên hạ định thì tôi phải chết!

    May nhờ trung thần là quan Đại phu Điển Khẳn can gián nhà vua nên Tín được tha, nhưng bị tước hết binh quyền. Tuy vậy, cuối cùng, Tín bị vợ của Hán vương là Lữ hậu tên Lữ Trỉ âm mưu dụ bắt Hàn Tín và xử tử tại Vị Ương Cung.

    Người sau có làm 2 bài thơ tứ tuyệt than tiếc Hàn Tín. Trong đó có những câu:
    "Mười năm chinh chiến công lao nặng,
    Một phút phủi rồi uổng xiết chi".
    và:
    "Chim hết ná quăng đà chẳng biết,
    Hoài Âm sao chẳng sớm lo âu".

    Ở nước Việt Nam đời nhà Nguyễn (1802-1945), vua Gia Long Nguyễn Ánh sau khi thống nhất đất nước lại có ý nghi kỵ các công thần có tài cán lật đổ ngai vàng của mình, nên tìm dịp để giết hại. Nguyễn Văn Thành có tài thao lược đã theo phò Gia Long từ lúc còn nhỏ, lận đận lao đao với nhà vua, cũng như Đặng Trần Thường có tài văn học, trốn Tây Sơn vào Gia Định giúp vua, thế mà cả hai ông đều bị xử tử vì những lỗi lầm tầm thường.

    Tương truyền Đặng Trần Thường khi còn bị giam trong ngục, có làm bài "Hàn vương tôn phú" bằng quốc âm để ví mình như Hàn Tín đời Hán.

    Sử gia Việt Nam, Trần Trọng Kim, soạn giả quyển "Việt Nam sử lược", chép về đoạn này có viết: "....chỉ hiềm có một điều là khi công việc xong rồi, ngài không bảo toàn cho những công thần, mà lại vì những chuyện nhỏ nhặt đem giết hại những người có công với ngài, khếin cho hậu thế ai xem đến những chuyện ấy, cũng nhớ đến vua Hán Cao Tổ, và lại thở dài mà thương tiếc cho những người ham mê hai chữ công danh về đời áp chế ngày xưa."

    Ngày xưa, phần đông nhà vua nào cũng thế, chớ riêng gì vua Gia Long. Ngày nay cũng vậy, mới có câu thành ngữ:
    "Được chim bẻ ná, được cá quăng nôm"
    để chỉ sự phản bội của nhà vua mà cũng là sự phản bội của những người đối với kẻ giúp mình được lập nên thân thế, địa vị.


    -------------------
    (1) Năm hồ lớn bên Trung Hoa:
    1 - Tây Hồ
    2 - Thái Hồ (Tây Hồ và Thái Hồ ở giữa hai tỉnh Chiết Giang và Giang Tô)
    3 - Động Đình Hồ
    4 - Phan Dương Hồ
    5 - Sào Hồ
    (2) Tên tự của Phạm Lãi.
    (3) Tên Lưu Bang là Quí, cũng gọi là Hán Bái Công, lập ra nhà Hán và xưng là Hán Cao Tổ.
     
  13. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Đổi Mỹ Nhân Lấy Ngựa


    Tô Đông Pha là một thi hào danh tiếng đời nhà Tống (950-1275). Ông có mộ cô hầu tuyệt đẹp tên Xuân Nương. Vì bất đồng ý kiến với Tể Tướng Vương An Thạch nên bị nhà vua trích đi Hoàng Châu.

    Lúc sắp lên đường, có người bạn làm chức quan Vận Sứ họ Tưởng đến nhà Tô chơi để tiễn biệt.

    Tô Đông Pha bảo Xuân Nương ra mời khách uống vài chén rượu, cảm khái biệt ly. Thấy Xuân Nương đẹp như tiên nga, họ Tưởng giật mình hỏi:
    - Cô bé này có đi theo bác không?
    Tô bảo là Xuân Nương không muốn đi theo vì đường sá xa xôi khó nhọc nên xin trở về nhà nàng. Nhân đó, họ Tưởng nói:
    - Vậy thì bác cho phép tôi đem con ngựa bạch tuyệt hay để đổi lấy cô Xuân có được không?
    Đông Pha ưng chịu.
    Họ Tưởng lấy làm khoan khoái vô cùng, liền ứng khẩu làm bài thơ tứ tuyệt:
    "Tiếc gì con ngựa đẹp như mây,
    Ơn bác cho tôi đổi gái này,
    Giờ mất nhạc vàng rung bóng nguyệt,
    Nhưng thêm má phấn bạn làng say".
    Nguyên văn:
    "Bất tích sương mao võ tuyết đề,
    Đẳng nhân phân phó tặng nga mi.
    Tuy vô kim nặc tê minh nguyệt,
    Khước hữu giai nhân bỗng ngọc bì".

    Tô Đông Pha cũng ứng khẩu đáp lại:
    "Cô Xuân đi vậy cũng xa xăm,
    Dầu chẳng kêu ca chớ giận ngầm.
    Vì nỗi non sông nhiều hiểm trở,
    Đổi người lấy ngựa phải đành tâm".
    Nguyên văn:
    "Xuân Nương thử khứ thái thông thông,
    Bất cảm đề thanh tại hận trung.
    Chỉ vị sơn hành đa hiểm trở,
    Cố tương hồng phấn hoán truy phong".

    Xuân Nương nghe hai người đối đáp nhau và có một hành động khinh thường nàng như thế nên bực tức, đỉnh đạc nói:
    - Tôi nghe nói ngày xưa vua Tề Cảnh Công muốn chém tên giữ chuồng ngựa mà Yến Tử cản ngăn. Chuồn ngựa nhà mình cháy, Khổng Phu Tử chỉ hỏi thăm có ai chết không, chớ không hỏi ngựa sống chết mất còn. Ấy là người ta quý người khinh vật. Nay học sĩ đem người đổi lấy ngựa, thì ra quý vật mà khinh người.
    Đoạn, Xuân Nương cũng ứng khẩu làm một bài thơ:
    "Chém cha cái kiếp của đàn bà,
    Khổ sướng trăm bề há bởi ta.
    Giờ mới biết người thua giống vật,
    Sống làm chi nữa trách ai mà".
    Nguyên văn:
    "Vi nhân mạc tác vị nhân thân,
    Bá ban khổ lạc do tha nhân.
    Kim nhật thùy tri nhân tiện súc,
    Thử sinh cẩn hoạt oán thùy sân".

    Đọc xong, nàng vội lao mình ra sân đập đầu vào cây mà chết.

    Thấy thân xác nàng quằn quại trên vũng máu đào bên cội cây, cả hai vô cùng hối hận, nhìn nhau ngậm ngùi nhỏ lệ.

    Nhưng đã muộn rồi.
     
  14. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Đông Sàng Với Thiếp Lan Đình


    Đời nhà Tấn (265-419) có quan Thái Úy tên Khước Giám muốn chọn một người rể hiền, mới cho người đến trường của Vương Đạo xem trong đám học sinh, có người nào xứng đáng không.

    Lúc người nhà trở về, Khước Giám hỏi thì người ấy đáp:
    - Học sinh giỏi thì đông, người nào nghe việc kén rể cũng sửa soạn áo quần bảnh bao, ganh đua nhau, ra dáng nề nếp; chỉ có một người không để ý đến, trật áo, tréo chân nằm ở giường phía Đông.
    Khước Giám bảo:
    - Người ấy mới thật đáng rể ta.
    Đoạn, chọn làm rể. Người đó là Vương Hy Chi, sau làm quan đến chức Hữu Quân, có tài viết chữ đẹp hơn cả thiên hạ.

    "Đông Sàng" là giường phía Đông, chỉ người rể quý, "rể đông sàng".

    Trong "Nhị Độ Mai" có câu:
    "Có Tây Tử đó, thiếu đông sàng nào?" là do điển tích trên.

    Vương Hy Chi, tự Dật Thiếu. Vì làm quan đến chức Hữu Quân nên thường gọi là Vương Hữu Quân. Tương truyền Vương tập viết chữ bên bờ ao, sau nước ao đen ngòm những mực.

    Lối chữ "Khải" (1) của Vương được người đời cho là tốt đẹp nhất từ xưa đến nay.

    Người đời thường khen bút thế của Vương "lướt như mây bay, mạnh như rắn lộn". Trong các bản bút thiếp của Vương để lại có bản "Lan Đình tập tự" viết ngày 3 tháng 3 năm Vĩnh Hòa thứ 9 đời nhà Tấn (337) được hậu thế quý trọng, cho làm mẫu mực để tập theo. Những bản "Lan Đình tập tự" có lưu hành nhưng có lẽ đó là những bản phỏng theo. Bản chính đã thất lạc từ sau đời nhà Đường (618-907).

    Ngày nay, trong các lối chữ Hán có lối chữ "Lan Đình"; đó tức là lối chữ phỏng theo chữ viết của Vương Hy Chi trong "Lan Đình tập tự".

    Trong "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn nói về Kiều bị Hoạn Thư cho ra tu ở Quan Âm Các để chép kinh, Hoạn Thư khen chữ viết của Kiều có cấu:
    "Khen rằng: "Bút pháp đã tinh,
    So vào với thiếp Lanh Đình nào thua!"
    Ý nói chữ viết tốt ngang với chữ của Vương Hy Chi.


    -------------------
    (1) Chữ Hán trải qua nhiều sự thay đổi từ lối "Khoa Đẩu" đến "Đại Triện", "Tiểu Triện", rồi đến lối chữ "Lệ". Lối này theo lối Tiểu Triện nhưng giản dị hơn: thường đầu to đuôi nhọn. Chữ "Chân" xuất hiện, gốc chữ "Lệ" viết theo lối chân phương (lối thật): nét chấm trước nhẹ sau nặng, nét ngang phải ngay và đầu nhọn đuôi tròn, nét sổ thẳng......Lối chữ "Khải" là do chữ Chân, viết cầm bút hợp pháp, gân xương và tinh thần đầy đủ (theo Kiều Thanh Quế).
     
  15. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Đồng Tước Đài


    Tào Tháo đời Tam Quốc (220-264) có xây một cái đài bên sông Chương Hà (tỉnh Hà Nam), đặt tên là "Đồng Tước". Đài nầy cực kỳ tráng lệ, Tháo sai người trang hoàng tô điểm lộng lẫy, rồi tuyển gái đẹp khắp vùng đem chứa vào trong.

    Tào Tháo có đứa con nhỏ tên là Tào Thực, tự Tử Kiến có tài hạ bút thành văn. Khi xây xong đài Đồng Tước, Tháo sai con làm bài phú "Đồng Tước Đài" để ca tụng công nghiệp của Tháo. Bài phú rất đặc sắc:
    "Noi đức sáng thánh quân rực rỡ,
    Lên lầu đài hớn hở lòng xuân.
    Xem công Thái thú chăn dân,
    Đức cao vời đã thấm nhuần nơi nơi.
    Dựng lên giữa lừng trời xanh ngắt,
    Đài nguy nga bát ngát không trung.
    Mỹ quan nào kém non Bồng,
    Gác cao, tây vực nhìn thông nẻo đoàn.
    Dòng Chương Thủy chảy dài trong suốt,
    Tưới nhuần vườn cây tốt quả tươi...
    Hai bên tả hữu hai đài:
    Ngọc Long, Kim Phượng sáng ngời ánh dương.
    Bắc hai cầu tây đống nối lại
    Như cầu vồng sáng chói không gian.
    Đế đô mây ráng xoay vần nổi trôi...
    Mừng rỡ thấy anh tài qui tụ,
    Ứng mộng hùng chuyện cũ Văn Vương.
    Gió Xuân đầm ấm đưa hương,
    Muôn chim đua hót du dương hòa hài.
    Cao đẹp tựa trời mây muôn thuở,
    Phúc nhà may chất chứa dài lâu.
    Khắp cùng vũ trụ nhiệm mầu,
    Đề cao nhàn hóa, kính chầu thượng kinh.
    Noi Tề, Tấn nghĩ mình hưng thịnh,
    Phò thánh minh cùng sánh công lao.
    Xinh tươi bền vững biết bao!
    Ơn sâu nước ngấm, đức cao xa đồn.
    Phò tá đấng Chí Tôn gìn giữ
    Xây thái bình thịnh trị bốn phương.
    Phép trời khuôn đất đo lường.
    Ánh trăng cùng với ánh dương điều hòa.
    Tôn quỳ ấy truyền xa mãi mãi,
    Thọ vô cùng, thọ với chúa Xuân!
    Ngự long kỳ buổi an nhàn,
    Hoặc khi vội vã, xe loan trở về.
    Ơn giáo hóa tràn trề bốn biển
    Vui mừng thay vật kiện dân khang!
    Đài nầy đứng mãi hiên ngang,
    Điểm tô kim cổ, son vàng thắm tươi." (1)

    Nguyên Văn:
    Tòng minh hậu dĩ hì du hề,
    Đăng tầng đài dĩ ngu tình.
    Kiến Thái thú chi quảng khi hề.
    Quan thánh đức chi tha nga hề,
    Phù song Khuyết hồ Thái thanh.
    Lập trung thiên chi hoa quan hề,
    Liên phi các hồ Tây vực.
    Lâm Chương Thủy chi trường lưu hề,
    Vọng niên quả chi tư vinh.
    Lập song đài ư tả hữu hề,
    Hữu Ngọc Long dữ Kim Phượng.
    Liên nhị kiều vu đông tây hề,
    Nhược trường không chi đế đống.
    Phủ hoàng đô chi hoành lệ hề,
    Khám vân hà chi phù động.
    Hân quần tài chi lai tụy hề.
    Hiệp phi hùng chi cát mộng.
    Ngưỡng xuân phong chi hòa mục hề.
    Thính bách điểu chi bi minh.
    Vân thiên tuyên kỳ ký lập hề,
    Gia nguyện đắc hồ song sinh.
    Dương nhân hóa vu vũ trụ hề,
    Tận túc cung vu thượng kinh.
    Duy hoàn, văn chi duy thịnh hề,
    Khởi túc phương hồ thánh minh.
    Hưu hỷ! Mỹ hỷ!
    Huệ trạch viễn dương.
    Dực tá ngã hoàng gia hề.
    Ninh bỉ tứ phương.
    Đồng thiên địa chi qui lượng hề.
    Tề nhật nguyệt chi huy quan.
    Vĩnh quý tôn nhi vô cực hề,
    Đẳng quân thọ ư đông hoàng.
    Ngự long kỳ dĩ ngao du hề,
    Đẳng quân thọ ư đông hoàng.
    Ngự long kỳ dĩ ngao du hề,
    Gia vật phụ nhi dân khang.
    Nguyện tư đài chi vĩnh cố hề,
    Lạc chung cổ nhi vị ương!"

    Bài phú "Đồng Tước Đài" được truyền tụng. Tào Thực đáng là đệ nhất thi nhân trong hai đời Tần, Hán và đã mở đường cho lối thơ diễm lệ đời Lục Triều.

    Trong một dịp du thuyền trên sông Trường Giang, rượu ngà say. Tháo cao hứng nói:
    - Ta năm nay đã 54 tuổi. Nếu chiếm xong Giang Nam, ta cũng có chút vui mừng riêng. Số là trước kia ta có quen thân cụ Kiều công, được biết cụ có 2 cô con gái đều là trang quốc sắc thiên hương. Không ngờ về sau Tôn Sách và Chu Du cưới mất. Nay ta đã xây đài Đồng Tước trên sông Chương, nếu hạ được Giang Nam, ta sẽ đem hai nàng họ Kiều về đấy ở, để vui thú năm tháng về già. Thế là ta mãn nguyện!

    Để khích Chu Du là đô đốc Đông Ngô đánh Tào Tháo, Khổng Minh sửa đổi câu thứ 7 của bài phú "Đồng Tước Đài" của Tào Thực. Nguyên Văn là:
    "Liên nhị kiều vu đông tây hề,
    Nhược trường không chi đế đống."
    Nghĩa là:
    "Bắc hai cầu tây đông nối lại,
    Như cầu vồng sáng chói không gian".....

    Đó là nói: hai bên đài Đồng Tước còn có hai đài phụ là Ngọc Long, Kim Phượng, và có hai cái cầu bắc nối vào đài giữa như hai cầu vồng trên lưng trời. Tào Thực dùng hai chữ "đế đống" (hay "chuế đống") là có ý so sánh đài Đồng Tước với cung A phòng nhà Tần. Trong bài "A phòng cung phú" của Đỗ Mục đời nhà Đường, có câu: "Trường kiều ngọa ba, vị vân hà long? Phức đạo hành không: bất lễ hà hồng?" (Cầu dài vắt ngang sông: chưa có mây sao có rồng? Hai đường bắc trên không: không phải mưa tạnh, sao có cầu vồng?)
    Nhưng Khổng Minh lại đổi ra:
    "Lãm nhị Kiều ư đông nam hề,
    Lạc triêu tịch chi dữ cng".
    Nghĩa là:
    "Tìm hai Kiều Nam phương về sống,
    Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân..."

    Khổng Minh đem chữ "Kiều" (cầu) đổi ra chữ "Kiều" (nàng họ Kiều), đổi chữ "Tây" ra chữ "Nam", đổi chữ "liên" ra chữ "lãm"; còn câu sau thì đổi hoàn toàn khác hẳn, để cố ý trỏ vào hai nàng Kiều.

    Đem chữ "kiều" đổi ra chữ "Kiều", Khổng Minh chủ ý lừa và chọc tức Chu Du.

    Sau, Đông Ngô liên minh cùng Tây Thục, nhờ Khổng Minh cầu đông phong, nên Chu Du dùng hỏa công đốt phá binh Tào tại trận Xích Bích. Tháo thua to, mộng chiếm đất Giang Nam để đoạt lấy hai nàng Kiều xinh đẹp hoàn toàn tan vỡ.

    Thi Sĩ Đỗ Mục cũng có bài "Xích Bích hoài cổ" rằng:
    "Kích gãy, cát chìm, sắt chửa tiêu,
    Rửa mài, nhận thấy dấu tiền triều.
    Gió đông chẳng giúp chàng Chu thắng,
    Đồng Tước đài xuân nhốt hai Kiều".
    Nguyên Văn:
    "Chiết kích trầm sa, thiết vị tiêu
    Tự tương ma tẩy nhận tiền triều.
    Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
    Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều".

    Trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du có câu:
    "Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều" là do điển tích đó.


    -------------------
    (1) Bản dịch của Tử Vi Lang.
     
  16. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Động Bích Đào


    Ở xã Trị Nội, huyện Nga Sơn, phía hữu núi Thần Phù có "Bích Đào Động" cũng gọi là "Từ Thức Động", trong trải rộng rãi mà là thanh hư, cây cối xinh tốt. Trong động có bàn đá, có những viên đá nhỏ la liệt hình như con cờ. Những thạch nhũ rủ xuống hình như trống chuông, khẽ đánh có tiếng kêu. Lại có những thứ như mà trướng, lọng dù trông rất kỳ xảo, cảnh trí rất xinh đẹp.

    Muốn vào trong hang động, phải nối đuốc mà đi. Nhưng cũng chưa ai đi cùng đến đáy.

    Tương truyền trong niên hiệu Quang Thái (1388-1398) đời nhà Trần nước ta có ông Từ Thức là quan Tri huyện Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh). Bên cạnh huyện có một ngôi chùa có trồng một cây mẫu đơn. Mỗi khi nở hoa thì người người các nơi đổ đến, xe ngựa dập dìu làm thắng hội thưởng hoa.

    Trong khi mọi người nhìn ngắm hoa đẹp thì bỗng có một thiếu nữ tuổi độ mười lăm, mười sáu, dung nhan diễm lệ bước đến đưa tay ve vuốt lấy hoa. Nhưng chẳng may khi vịn lấy một cành thì cành giòn bị gãy. Người giữ hoa giữ lại, bắt đền. Nàng không có gì để đền mà mãi đến tối cũng không có người quen thân đến nhận. Từ Thức thấy vậy động lòng thương xót, bèn cởi áo bạch cẩm cừu đưa cho nàng chuộc tội để được tha về.

    Một thời gian sau, vì không muốn ràng buộc bởi lợi danh, Từ Thức bỏ ấn từ quan về ở huyện Tống Sơn. Rồi ngày ngày, Từ với một bầu rượu, túi thơ, chu du khắp chốn danh lam thắng cảnh. Một hôm nhìn thấy cửa biển Thần Phù có đám mây ngũ sắc kết lại hình như hoa sen, Từ vội chèo thuyền đến thấy một hòn núi rất đẹp, Từ sinh cảm khái, nhân đề một bài thơ:
    "Thiên chương bích thụ quải triêu đôn,
    Hoa thảo nghinh nhân nhập động môn.
    Bạng giản dĩ vô tăng thái dược,
    Lâm lưu thặng hữu khách tầm nguyên.
    Lữ du tư vị cầm tam lộng,
    Điếu đỉnh sinh nhai nhất tửu tôn.
    Nghĩ hướng Vũ Lăng ngư phủ vấn,
    Tiền lai viễn cận thực đào thôn."
    Bản nôm:
    "Đầu cành thấp thoáng bóng kim ô,
    Hoa động vui mừng đón khách vô.
    Cạnh suối nào là người hái thuốc?
    Quanh nguồn chỉ có gã bơi đò.
    Xênh sang ghế mát đàn ba khúc,
    Đủng đỉnh thuyền câu rượu một vò.
    Ướm hỏi Vũ Lăng chàng đánh cá,
    Làng Đào đâu đó cách chừng mô."

    Từ đề xong nhưng bỡ ngỡ chưa biết đường nào đi, thoạt thấy vách đá tách mở ra một chỗ tròn độ một thước. Từ chui vào chưa được vài bước thì vách đá khép kín lại. Đi được vài dặm, thấy sườn đá đứng cao như vách tường. Lần leo lên, mỗi bước lại thấy càng rộng. Đến chót núi thì có ánh mặt trời chiếu sáng, nhìn quanh bốn phía thấy một dãy lầu đài thiên nhiên cực kỳ xinh tốt như tranh vẽ.

    Từ đang lấy làm ngạc nhiên, bỗng thấy có thanh y đồng nữ đến bảo:
    - Phu nhân tôi xin mời tướng công vào.
    Từ vâng lời. Thẳng vào thì thấy một tiên nga đang ngồi trên giường chạm thất bảo, bên cạnh có đặt một chiếc tháp nhỏ bằng đàn hương. Tiên nga mời Từ ngồi, đoạn ung dung bảo:
    - Đây là hang động thứ 6 trong số 36 động ở Phù Lai. Ta đây là Ngụy phu nhân địa tiên Nam Nhạc, nghe nhà ngươi có cao nghĩa hay cứu trợ người khốn đốn, nên mới phiền bước đến đây.
    Đoạn, phu nhân gọi A Nương đến.
    Từ liếc nhìn, nhận ra là cô gái làm gãy hoa ngày trước. Phu nhân chỉ A Nương mà bảo Từ:
    - Đó là con ta, tên Giáng Hương, khi trước nhờ ngươi cứu việc làm gãy hoa, ơn ấy không quên nên ta muốn kết làm giai ngẫu để trả.
    Lẽ cố nhiên, Từ rất vui lòng.

    Ngay trong đêm ấy, phu nhân truyền thắp đèn mỡ phụng, trải chiếu vũ rồng, làm lễ giao bôi.

    Thấm thoát đã được một năm.

    Nhưng cảnh tiên không khuây khỏa được lòng trần. Từ bỗng động lòng nhớ cố hương nên ngỏ ý với Giáng Hương. Biết không giữ được, nàng đành thưa với mẹ. Phu nhân biết Từ còn nặng lòng trần tục nên bằng lòng cho chàng một chiếc cẩm vân xa để đi về. Riêng Giáng Hương thì giao cho chàng một phong thư, dặn về đến nhà hãy mở ra xem.

    Đến nhà, cảnh cũ không còn như xưa, vật đổi sao dời, thành quách, nhân dân toàn khác trơớc; duy cảnh núi sông là còn như thuở nào. Từ đem tên họ mình mà hỏi thăm người già cả, thì có người nói:
    - Thuở trước, tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất biệt đến nay đã hơn 60 năm.

    Từ bấy giờ mới hậm hực bùi ngùi, muốn lên xe mây để về lối cũ, nhưng xe đã hóa ra con tường loan bay mất rồi. Buồn tủi, Từ mở thư của Giáng Hương xem thì thấy có câu: "Kết loan lữ ư vân trung, tiền duyên dĩ đoạn; phỏng tiên sơn ư hải thượng, hậu hội vô nhân" (Kết bạn loan ở trong mây, duyên trước đã dứt; tìm núi tiên ở trên biển, hội sau không cầu). Ý nói: duyên trước kết đôi loan phụng cùng nhau nay đã đoạn tuyệt rồi; ngày sau muốn tìm lại núi tiên cũng không được.

    Về sau, Từ Thức mặc áo khinh cừu, đội nón lá, vào núi Hoàng Sơn ở huyện Nông Cống (Thanh Hóa) rồi đi mất.

    Lê Quý Đôn, đời Hậu Lê, có vịnh bài thơ:
    "Câu chuyện thần tiên rất khó lường,
    Bích Đào động nọ đã hoang lương.
    Áo bông gió bụi: thân Từ Thức,
    Mày liễu xuân tàn: sắc Giáng Hương.
    Trống đá ngày qua nghe tiếng động,
    Nhủ diêm sương nhuộm mất mùi thường.
    Thiên thai mộng tưởng cho thêm khổ,
    Ai biết thiên thai cũng hí trường".
    Nguyên văn:
    "Hải thượng quần tiên sự diếu mang,
    Bích Đào động khẩu thái hoang lương.
    Kiền không nhất cát cùng Từ Thức
    Vân thủy song nga lão Giáng Hương.
    Thạch cổ hữu thanh xao hiểu nhật,
    Sa diêm vô vị niết thu xương.
    Thế nhân khổ tác Thiên thai mộng.
    Thùy thức Thiên Thai diệc hí trường."
     
  17. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Đuốc Hoa, Hoa Đèn



    Đuốc hoa do chữ "hoa chúc" là đèn cầy, nến đốt trong phòng của vợ chồng đêm tân hôn. Tiếng "chúc" thời cổ là "đuốc" tức bó đóm to. Ngày nay gọi là "hỏa bả".

    Bó đuốc chưa đốt gọi là "tiêu". Đuốc châm lửa cầm tay gọi là "chúc". Đuốc lớn đóng cọc xuống đất mà đốt gọi là "đình liệu". Lệ xưa bên Trung Hoa đời nhà Chu, khi đầu canh năm, vua sắp ra thị triều, thì ở trước điện đình, bày hai hàng hoặc sáp, hoặc đuốc để thắp sáng đường cho bá quan vào triều.

    Từ đời Lục Triều (1), Đường, Tống có tục đố hoa chúc trong lễ kết hôn. Về sau này, để nói việc chính thức kết hôn, người ta thường dùng hai chữ "Hoa chúc".

    Hoa chúc đời Lục Triều và đời Đường không biết phải là bó đuốc có kết hoa ở ngoài cho đẹp không, riêng về đời Tống thì "Hoa chúc" vừa là đuốc hoa, lại vừa là nến sáp hoa. Sách "Mộng Lương Tục" đời Tống có chép: "Cô dâu xuống xe, mấy con hát cầm đuốc làm bằng cuống hoa sen đi trước đưa đường". Sách "Quý Điển Lục" của Âu Dương Tu đời Tống có chép rằng: ở Đằng Châu có thứ hoa lạp chúc (thứ nến làm bằng sáp hoa) nổi tiếng nhất, ở Kinh Đô cũng không chế nổi.

    Điều chắc chắn là từ thời cận kim, người Trung Hoa đều hiểu "chúc" là nến, chớ không hiểu là đuốc như thời cổ.

    Và, từ nghĩa đuốc hoa, hoa chúc dần dần biến nghĩa thành nến hoa, đèn hoa.

    Ta có câu:
    "Động phòng hoa chúc dạ,
    Kim bảng quải danh thì."

    "Động phòng hoa chúc" là những chữ thường được dùng để chỉ đêm động phòng đầu tiên của cô dâu chú rể. Trong phòng kín có đèn nến đốt trong đêm tân hôn. Dũ Tín, một thì hào đời Nam Bắc triều cũng có câu:
    "Động phòng hoa chúc minh".
    Nghĩa là:
    "Phòng kín đuốc hoa sáng".

    Trong tác phẩm "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn diễn tả hành động cục xúc lỗ mãng, ghẻ lạnh của tên Mã Giám Sinh đối với Kiều, sau cuộc truy hoan; có câu:
    "Tiếc thay một đóa trà mi,
    Con ong đã mở đường đi lối về!
    Một cơn mưa gió nặng nề,
    Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương.
    Đêm xuân một giấc mơ màng,
    Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ".

    Mặc dù họ Mã không dám nhận Kiều làm vợ vì sợ Tú Bà, nhưng Kiều là gái mới lớn lên, đêm này là đêm đầu tiên, để thay đổi con người của nàng sang một giai đoạn khác, mà nàng coi đó là đêm bắt đầu làm công việc vợ chồng với người đã bỏ tiền ra mua nàng. Có lẽ do đó mới có tiếng "đuốc hoa".

    Cũng như Kiều được đoàn tụ gia đình sau 15 năm lưu lạc, Kim Trọng xin Kiều cùng chàng xe tơ kết tóc, Kiều từ chối bằng những câu:
    "Chữ trinh đáng giá nghìn vàng,
    Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa!".
    Vì:
    "Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
    Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa.
    Bấy chầy gió táp mưa sa,
    Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn!
    Còn chi là cái hồng nhan,
    Đã xong thân thế, còn loan nỗi nào?"
    Cho nên nàng:
    "Nghĩ mình chẳng hổ mình sao?
    Dám đem trân cấu dự vào bố kinh!
    Đã hay chàng nặng vì tình,
    Trong hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru?
    Từ nay khép cửa phòng thu,
    Chẳng tu thì cũng như tu mới là!"

    "Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa" và "Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru?", ý Kiều đã cho rằng dù Kim Trọng còn nặng lòng yêu nàng, nhưng nếu nàng bằng lòng lấy chàng, thì rồi đây trong đêm động phòng, nhìn đuốc hoa hay hoa đèn kia chẳng là hổ thẹn lắm sao? Vì nàng đã cùng ai ở dưới hoa đèn........; cũng như hoa đèn đã chứng kiến........thì khi nàng nhìn hoa đèn làm sao lại khỏi thẹn với lòng mình.


    -------------------
    (1) Sáu triều (420-588) là nước Trung Hoa sau nhà Đông Tấn mất chia làm 6 triều: Tống, Tề, Lương, Trần, Đông Ngô, Đông Tấn.
     
  18. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Gấm Nàng Ban



    Nàng họ Ban, không biết tên, vốn là một cung phi của vua Thành đế nhà Hán (32 - 8 trước D.L.). Nàng làm nữ quan, chức Tiệp Dư, nên thường gọi nàng Ban Tiệp Dư.

    Nàng đẹp, duyên dáng được nhà vua sủng ái. Nhưng sau, nhà vua say mê Triệu Phi Yến. Bị nàng nầy gièm pha, nàng Ban sợ nguy cho thân nên xin vua cho hầu bà Thái hậu ở cung Trường Tín. Từ đó, sự sủng hạnh của vua đối với nàng ngày càng phai lần.

    Tủi cho thân phận lâm cảnh phũ phàng, nàng buồn bã, lấy một thứ lụa bát tơ trắng gọi là Tề hoàn (lụa nước Tề) do nàng tự dệt lấy và làm thành một cây quạt tròn. Trên quạt, nàng đề một bài thơ để tự ví thân phận mình:
    "Mới chế lụa Tề trắng.
    Trong sạch như sương tuyết.
    Đem làm quạt Hợp hoan,
    Tròn hin giống mặt nguyệt.
    Ra vào trong tay vua,
    Lay động sinh gió mát.
    Thường sợ tiết thu đến,
    Gió mát cướp nồng nhiệt,
    Nửa đường ân ái tuyệt."

    Nguyên Văn:
    "Tân chế Tề hoàn tố,
    Hạo khiết như sương tuyết
    Tài thành Hợp hoan phiến,
    Đoàn đoàn tu minh nguyệt
    Xuất nhập quân hoài tụ,
    Động đạo vi phong phát.
    Thường khủng thu tiết chí
    Lương viêm đoạt viêm nhiệt.
    Khí nguyên giáp tư trung,
    Ân tình trung đạo tuyệt."

    Nàng cung nữ họ Ban ấy tự ví mình như cây quạt Hợp hoan đã từng được vua nâng niu yêu chuộng. Nhưng rồi lại ném cất nó vào xó rương, vì gió thu mát đã cướp mất gió mát của quạt rồi. Thế là mối tình nửa đường đoạn tuyệt. Nhà vua nỡ say đắm kẻ khác, nghe lời gièm pha để nàng chịu nỗi duyên phận bẽ bàng.

    Vương Xương Linh, một thi hào danh tiếng đời Đường (618-907) cảm xúc nỗi duyên phận ghẻ lạnh của nàng cung phi họ Ban, mà đây cũng là số kiếp chung của khách hồng nhan vô phúc sa vào cung cấm, nên có làm 3 bài, đề là "Trường Tín thu từ" để vịnh nàng:

    I
    "Giếng ngọc cành ngô rụng lá vàng,
    Buông rèm đêm đã lạnh hơi sương.
    Lò hương, gối ngọc vô duyên quá,
    Lắng giọt đồng rơi xiết đoạn trường"
    Nguyên văn:
    "Kim tỉnh ngô đồng lạc diệp hoàng,
    Chu liêm bất quyển dạ lai sương.
    Huân lung ngọc chẩm vô nhan sắc,
    Ngọa thích Nam cung xuân lậu trường" (1)

    II
    Ban mai quét tước mở đền vàng,
    Nâng quạt nhìn thôi luống thở than.
    Mặt ngọc không bằng con quạ rét,
    Nó còn sưởi nắng điện Chiêu dương".
    Nguyên văn:
    "Phụng chửu bình minh kim điện khai,
    Thả tương đoàn phiến tạm bồi hồi.
    Ngọc nhan bất cập hàn nhan sắc,
    Do đái Chiêu dương nhật ảnh lai".

    III
    "Đã đành bạc phận, ôi đau đớn,
    Thấy vua trong mộng, tỉnh nhớ nhung.
    Tây cung rn rực đêm yến tiệc,
    Mơ màng nhớ lúc được vua ban".
    Nguyên văn:
    "Chân thành bạc mệnh cửu tầm tư,
    Mộng kiến quân vương giác hậu nghi.
    Họa chiếu Tây cung tri dạ ấm,
    Phân minh phức đạo phụng ân thì."

    Ba bài thơ theo điệu nhạc phủ. Tác giả tả tâm trạng u hoài của Ban Tiệp Dư: nỗi buồn đêm thu, mối buồn sáng thu lại mối sầu đêm thu.

    Đêm trước u buồn, sáng dậy bâng khuâng, đêm đến sầu não, cả 3 bài thơ đều cực tả một nỗi buồn tha thiết. Mà nỗi buồn ấy mãi vương vấn, không bao giờ chịu buông tha người bạc mệnh ở lãnh cung.

    Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, đoạn thuật lời thán oán của nàng cung phi trong cung cấm, có câu:
    "Nụ hoa chưa mỉm miệng cười,
    Gấm nàng Ban đã nhạt mùi thu dung."

    "Gấm nàng Ban" lấy ở điển đó.


    -------------------
    (1) Bản dịch của Lam Giang.
     
  19. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Gậy Rút Đất


    Ở núi Xuân Đài, xã Thọ Vực, huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) có động Hồ Công. Phía trước động ngoảnh về sông Mã.

    Trong động có hai tượng đá. Tục truyền khi xưa, có một ông già và một thằng bé đi bán thuốc ngồi nghỉ ở đó, rồi tự nhiên biến mất. Người ta cho là hậu thân của Hô Công và Phí Trường Phòng. Bởi vậy tạc tượng để thờ.

    Câu chuyện Viện Nam lại liên quan chuyện của Trung Hoa. Vì truyện Hồ Công và Phí Trường Phòng là truyện Trung Hoa.

    "Liệt Tiên Truyện" chép:

    Khoảng đời Tây Hán (206 trước D.L. - 8 sau D.L) có ông Hồ Công hằng ngày bán thuốc ở chợ Trường An. Ông thường đeo một cái bầu bên hông. Tối đến thì chui vào bầu ấy mà ngủ. Phí Trường Phòng là người hằng ngày dâng bánh cho Hồ Công ăn, thấy thế lấy làm lạ kỳ. Một hôm, yêu cầu Hồ Công cho mình vào bầu thử một lần xem sao. Hồ Công bằng lòng, đưa Phí vào bầu.

    Trong bầu có những lầu đài tráng lệ, có những kẻ hầu hạ rất lịch sự trông như cảnh thần tiên. Phí Trường Phòng cực kỳ kinh ngạc nói:
    - Không ngờ đây lại chiếm riêng một cõi càn khôn.
    Hồ Công nói:
    - Ta vốn là tiên bị trích xuống trần nên tạm ngụ ở đây.

    Trường Phòng yêu cầu, xin theo Hồ Công học đạo tiên. Hồ Công bèn dẫn vào núi dạy phép tu luyện. Khi từ biệt, Hồ Công trao cho Trường Phòng một cây gậy tre rút đất, có phép thâu ngắn đường đi.

    Từ đấy, Trường Phòng xách gậy, rày đây mai đó, công danh phú quý gác bỏ ngoài tai. Hằng ngày, Phí thường la cà nơi quán rượu; nhân đó quen biết một anh lính tại biên thùy. Anh này kính trọng Phí; và thường trút túi đãi rượu thẳng tay.

    Một hôm trên đường về chỗ trọ, Phí thấy anh lính vẻ mặt buồn bã, thỉnh thoảng lại thở dài thườn thượt, mới hỏi cớ sự. Anh lính thú thực là ba năm rồi, chẳng được phép về quê thăm vợ con. Anh nhớ lắm. Phí vui vẻ nói:
    - Tưởng là việc gì khó, chớ muốn thăm vợ con thì ta giúp cho. Đêm nay về chung vui với vợ con, sáng đến có mặt cho khỏi bị quan quở.
    Cho là lời bỡn cợt vô duyên, anh lính bực tức bảo:
    - Trông ông có vẻ tiên phong đạo cốt, tôi kính trọng ông, không ngờ ông lại tàn nhẫn chế giễu cười cợt trước sự đau khổ của tôi. Từ đây về quê tôi, đường trải hàng vạn dặm lại gay go hiểm trở, phải đi có trót tháng mới về đến nơi. Thế mà ông bảo đêm nay về, sáng đến!
    Phí Trường Phòng không hờn giận, vẫn vui vẻ, cười bảo:
    - Ta nói thật đấy. Ta có phép tiên. Từ trước đến nay, ta vốn thọ ơn hậu đãi, nay ta làm phép mọn để gọi là trả ơn chút ít đó.

    Đoạn, bảo anh lính ngồi lên cây gậy và nhắm mắt lại, chừng nào nghe hết hơi gió sẽ mở mắt ra. Và, khi sáng sớm cũng ngồi trên gậy trở lại, thực hành như lúc về. Anh lính mừng rỡ, vâng lời.

    Vừa trèo ngồi lên gậy xong thì gió ù ù thổi đến, anh lính nhắm chặt mắt lại. Rồi cảm thấy thân mình nhẹ bổng như bay giữa thinh không. Thoáng chốc, gió lặng, anh mở bừng mắt ra thì trước mắt anh quả thực đây là nhà của mình.

    Vợ chồng nhìn nhau mừng mừng tủi tủi, tưởng chừng như sống trong mộng. Thế là trong đêm đó, vợ chồng mặc tình trút nỗi tâm sự những ngày xa vắng nhớ nhau.

    Rồi sáng sớm, anh lại lên gậy trở về biên thùy.

    Phí Trường Phòng còn giúp anh lính nhiều lần như thế nữa.

    Một thời gian sau, Phí Trường Phòng ném cây gậy tre ấy ở xứ Cát Bi, hóa ra rồng mà bay đi mất. Từ đó, người ta không tìm thấy hình bóng của Phí đâu nữa.
     
  20. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Giảm Bếp, Tăng Bếp


    Đời Chiến Quốc, nước Ngụy (1) và nước Tề (2) giao tranh. Tướng Tề là Tôn Tẩn nói với Điền Kỵ:
    - Quân của Bàng Quyên vốn dũng mãnh, hung hãn mà khinh thường Tề, chi bằng nay ta gia ra thế yếu dụ nó.
    Điền Kỵ hỏi:
    - Dụ cách nào?
    - Ngày nay nên làm 10 vạn bếp, ngày hôm sau nên dần dần bớt đi. Nó thấy bếp của quân ta bỗng bớt mất, tất cho quân ta nhát sợ mà trốn đi, sẽ gấp đường tiến đánh. Như thế khí nó tất kiêu và sức nó tất kiệt, ta sẽ dùng kế mà đánh tất thế nào cũng thắng.

    Tướng của Ngụy là Bàng Quyên khi thấy quân Tề rút lui để lại địa điểm cũ rộng rãi, cho người đến quan sát, xem chỗ bếp đun thấy có 10 vạn bếp. Quân về báo cáo, Bàng Quyên lấy làm sợ hãi, cho rằng quân Tề quá nhiều, không thể khinh địch. Hôm sau, đến một chỗ dinh trại bỏ lại thì thấy có hơn 5 vạn bếp. Lại hôm sau nữa, chỉ còn thấy có 3 vạn bếp. Bàng Quyên mừng rỡ nói với thái tử Thân:
    - Tôi vốn biết người Tề hèn nhát, nay vào đất Ngụy mới có 3 ngày mà quân lính bỏ trốn quá nửa rồi, còn dám đánh nhau nữa ư!
    Đoạn truyền lệnh tấn binh.

    Khi đi đến Mã Lăng thì mặt trời đã lặn. Đường Mã Lăng là một nơi hiểm yếu, ở giữa 2 quả núi, hang khe sâu hẹp. Bấy giờ vào lúc hạ tuần tháng 10, trời không trăng.....Tiền quân của Bàng Quyên báo cho Quyên hay là có nhiều cây bị chặt chặn ngang đường, khó tiến lên được. Quyên bảo: đó là quân Tề sợ đuổi theo nên lập kế ấy.

    Nhưng Quyên vừa ra lệnh cho quân lính khuân gỗ mở đường, bỗng ngẩng đầu thấy chỗ thân cây đẽo trắng, thấp thoáng có dấu chữ; nhưng vì đêm tối không nhận rõ mới sai tên lính đánh lửa soi xem, nhận thấy hai câu: "Bàng Quyên chết dưới cây này" và "Quân sư Tôn Bảo". Bàng Quyên bấy giờ hốt hoảng, biết là mắc mưu, vội vàng hạ lệnh cho quân lui mau. Nhưng chưa kịp lui, thì hai toán phục binh cung nỏ của Tề trông thấy lửa sáng, liền bắn ra như mưa. Quân Ngụy rối loạn hàng ngũ. Bàng Quyên bị tên trọng thương, liệu không thoát được nên rút kiếm đâm cổ tự tử.

    Đó là kế "Giảm bếp" của Tôn Tẩn.

    Ngược lại kế của Tôn Tẩn, Khổng Minh dùng kế "Tăng bếp".

    Đời Tam Quốc, nhà Ngụy (3) và Thục (3) giao tranh.
    Thừa tướng nhà Thục là Gia Cát Lượng tự Khổng Minh cầm quân phạt Ngụy. Đô Đốc nhà Ngụy là Tư Mã Ý cầm quân chống cự. Hậu chúa nhà Thục vì nghe lời gièm pha nên nghi kỵ Khổng Minh làm phản, liền giáng chiếu triệu Khổng Minh rút quân ngay về để tước hết binh quyền. Vì sợ trái lệnh vua mà bị nghi kỵ thêm, nên Khổng Minh phải đành rút quân. Tướng là Khương Duy hỏi:
    - Đại quân rút lui, Tư Mã Ý thừa thế đuổi đánh thì làm thế nào?
    - Nay ta lui quân, phải chia làm 5 tốp mà rút dần. Như hôm nay rút khỏi một trại, nếu trong trại còn lại một ngàn quân thì phải đào 2 ngàn cái bếp. Ngày hôm trước đào 3 ngàn bếp thì hôm sau đào thêm 4 ngàn. Cứ ngày ngày rút bớt quân, đào thêm bếp mà về.
    Đoạn ra lệnh nhổ trại lui quân.

    Tư Mã Ý nghe tin sợ Khổng Minh đa mưu, chưa dám khinh tiến. Trước hết đem hơn trăm kỵ binh đến trại Thục quan sát. Đến nơi, sai quân sĩ đếm số bếp, rồi quay về trại nghỉ. Hôm sau, lại sai quân đến chỗ nền trại mới mà đếm. Quân về báo: "Số bếp trại này nhiều hơn số bếp ở trại hôm qua một phần ba". Ý bảo các tướng:
    - Ta đoán Gia Cát Lượng lập mẹo giả lui dụ địch, nay quả nhiên hắn vừa lui vừa gọi thêm quân! Nếu ta đuổi đánh, ắt đã mắc mẹo phục binh. Thôi, giờ ta hãy rút về, rồi sẽ hay.
    Đoạn rút quân về.

    Thế là Khổng Minh không hao một tên lính, vẫn yên ổn kéo quân về Thành Đô.

    Sau, có người ở cửa ngõ Tây Xuyên đến báo cho Tư Mã Ý hay việc ấy. Ý mới ngửa mặt than:
    - Thì ra Lượng dùng phép của Ngu Hủ (4) mà đánh lừa được ta.


    -------------------
    (1) Cũng gọi là Lương, một nước chư hầu mạnh đời Chiến Quốc, ở vào địa phận Hà Nam và Sơn Tây ngày nay.
    (2) Một nước chư hầu lớn đời Chiến Quốc, ở vào địa phận tỉnh Sơn Đông ngày nay.
    (3) Nước Trung Hoa chia làm ba: Ngô ở phía Đông, thuộc Tôn Quyền; Thục ở phía Tây, thuộc Lưu Bị; Ngụy ở phía Bắc, thuộc Tào Tháo. Ba nước làm thành thế chân vạc.
    (4) Phép của Ngu Hủ là "bớt quân đào thêm bếp", tức là trái hẳn lại phép của Tôn Tẩn "tăng quân bớt bếp".
     

Tình hình diễn đàn

Tổng: 310 (Thành viên: 0, Khách: 306, Robots: 4)