Tìm kiếm bài viết theo id

Điển hay Tích lạ (sưu tầm)

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi phongthuythoinay, 8/5/09.

ID Topic : 907092
Ngày đăng:
8/5/09 lúc 11:56
  1. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Giang Thần Trảo Trảo



    Năm Nhâm Thân (1572), nhà Mạc sai tướng là quận công Lập Bạo đem quân đánh Thuận Quảng là đất chúa Nguyễn ở miền Nam. Lập Bạo huy động cả thủy lục quân tiến vào. Thủy quân gồm có 60 chiếc thuyền do cửa Việt đổ và sông; lục quân độ 1000 người khởi hành từ Khang Lộc (giữa Quảng Bình) theo con đường Hồ Xá (con đười đại lộ số 1 bây giờ) tiến đến chùa Thanh Tường thuộc làng La Nguyễn hạ trại. Chỉ còn cách xã Ái Tử, nơi Nguyễn Hoàng đóng binh chừng vài chục dặm.

    Quân của Lập Bạo đi đến đâu là tàn phá nhà cửa ruộng vườn xơ xác đến đấy. Tài sản bị cướp đoạt, già trẻ trai gái bị giết chóc rất bi thảm. Thế lực của chúa Nguyễn bấy giờ còn yếu. Trước lực lượng quá hung bạo của địch, Nguyễn Hoàng rất lấy làm lo, chưa tìm được cách gì để phá địch.

    Tương truyền, một đêm, Nguyễn Hoàng đang ngủ, chợt nghe như có tiếng kêu "trảo trảo" ở trên sông. Giật mình thức dậy, chúa khấn rằng:
    - Nếu giang thần có quyền lực vô biên hãy xin giúp tôi kháng giặc.

    Ngay đêm đó, trong giấc mơ, chúa Nguyễn thấy một thiếu nữ mặc áo xanh hiện đến bảo rằng:
    - Nếu tướng công muốn giết giặc phải dùng mỹ nhân kế để dụ nó đến đồi Cát, kẻ tiện tỳ này xin giúp sức.
    Đoạn, nàng từ giã biến mất.

    Nguyễn Hoàng tỉnh dậy, nhớ lời dặn, chọn người đẹp thân tín để thực hành kế hoạch. Lúc bấy giờ ở làng Thế Lai, huyện Hương Trà có nàng thanh nữ diễm lệ tên Ngọc Lâm được Nguyễn Hoàng chọn giao cho công tác ấy. Vì muốn chống giặc, Ngọc Lâm đành phải hy sinh. Chúa Nguyễn liền đưa Ngọc Lâm cùng vàng bạc gấm lụa sang dinh Mạc xin cầu hòa, hẹn uống máu ăn thề, kết nghĩa đồng minh với nhau.

    Lập Bạo vốn người hiếu sắc, nghe giọng oanh thỏ thẻ của Ngọc Lâm rót vào tai nên rất tin lời Nguyễn Hoàng là thật. Hơn nữa, Bạo biết giữa Nguyễn và Trịnh vốn có mối thù bất cộng đái thiên, cho rằng Nguyễn muốn kết đồng minh với Mạc để đánh Trịnh nên Bạo mừng rỡ nhận lời chúa Nguyễn và đến ngay chỗ hẹn.

    Nhờ Ngọc Lâm báo trước nên chúa Nguyễn cho người thiết lập một cái gò ngay bên bờ sông, chờ nghe thấy tiếng nước để làm nơi tế lễ và ăn thề.

    Lập Bạo cùng đi với nàng Ngọc Lâm trên một chiếc thuyền nhỏ, bên cạnh có vài chiếc khác hộ vệ. Tuy vậy, Bạo vẫn còn ngờ, liếc mắt xem chừng đối phương có động tĩnh gì không. Nhưng chỉ thấy Nguyễn Hoàng cùng vài người tùy tùng không võ khí, đứng trên bờ đưa tay vẫy. Bạo yên lòng, dưới thuyền bước lên tiến thẳng đến chỗ đàn lễ. Nhưng vừa đến nơi thì hốt nhiên, quân Nguyễn đã núp sẵn dưới hố, đồng loạt nhảy lên xông vào bắt. Lập Bạo và bọn tùy tùng khiếp đảm vội chạy xuống thuyền.

    Nhưng thuyền đã xa bờ quá rồi, Bạo vội vàng nhảy xuống sông. Chưa kịp lặn trốn thì đã bị quân Nguyễn đổ đến, rồi cả hàng chục cây giáo đâm bổ xuống. Máu tuôn đỏ trên mặt sông. Xác Bạo chìm luôn dưới đáy nước. Không để mất cơ hội, Nguyễn huy động quân lính tiến đến chùa Thanh Tướng tiêu diệt cả toán quân Mạc đóng ở đấy.

    Những quân còn sống sót vội đổ xuống thuyền, tìm đường tẩu thoát. Bấy giờ vào tháng 10, gió bấc thổi mạnh. Thuyền bè không thể nào ra khơi cửa Việt khi có gió bấc nên chiến thuyền của Mạc bị vỡ tung. Những kẻ thoát chết đuối đều về hàng Nguyễn cả.

    Quân Nguyễn đại thắng. Chúa Nguyễn trọng thưởng Ngọc Lâm và chọn trong hàng quan lại, gả Ngọc Lâm cho một kẻ xứng đôi vừa lứa với nàng. Lại truyền lập đền thờ vị giang thần đã báo mộng giúp mình bên khúc sông đó, gọi là miếu "Giang thần Trảo Trảo".
     
  2. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Giảo Thố Tam Quật


    "Giảo thố tam quật" nghĩa là "con thỏ khôn có ba ngách hang". Ý nói: thỏ có ba ngách hang để tránh cho khỏi bị chết; cũng như con người phải có mưu trí tự tồn.

    Câu này do Phùng Huyên bày kế cho Mạnh Thường Quân.

    Sách cổ văn có chép:

    Phùng Huyên người nước Tề, đời Chiến Quốc (479-221 trước D.L.) làm thực khác ở cửa Mạnh Thường Quân là Tướng Quốc nước Tề. Một hôm, Mạnh Thường Quân đưa sổ bộ ra hỏi các thực khách xem có người nào biết việc kế toán, nhờ qua đất Tiết, là phong ấp của Thường Quân, để thu các mối nợ, thì xin ký tên vào sổ. Phùng Huyên nhận sổ ký tên. Thường Quân lấy làm lạ hỏi tên họ người ký là ai, kẻ tả hữu đáp:
    - Đó là người thường ca câu "trường hiệp quy lai".

    "Trường hiệp" là cán gươm dài, "quy lai" là đi về. Nguyên trước khi ấy, họ Phùng có ba lần ca. Lần thứ nhất ca:
    "Ở đây ăn không có cá, nên mang gươm dài đi về".
    Lần thứ hai ca:
    "Ở đây đi không có xe, nên mang gươm dài đi về".
    Lần thứ ba ca:
    "Ở đây không có nhà cho mẹ ở, nên mang gươm dài đi về".

    Họ Mạnh cười, ân hận lỗi mình đã bạc đãi họ Phùng, nên cho người mời đến tạ:
    - Văn (1) này chìm đắm trong công việc quốc gia rất mỏi mệt, lòng lo rối loạn mà tính lại ngu đần, không rảnh gặp mặt, xin tạ tội cùng tiên sinh. Tiên sinh đã không lấy làm hổ thẹn, nay lại có ý muốn vì tôi đi thu nợ ở đất Tiết phải chăng?
    Phùng thưa:
    - Huyên nguyện đi.
    Khi ra đi, họ Phùng hỏi:
    - Thu xong nợ rồi có cần mua vật gì không?
    Mạnh bảo:
    - Xem trong nhà còn thiếu vật gì thì cứ mua về.

    Phùng Huyên đến đất Tiết, cho người thuộc lại mời tất cả những người thiếu nợ đến đông đủ, rồi truyền rằng Mạnh Tướng Quốc ra lệnh xóa bỏ tất cả số nợ. Và, để cho mọi người tin tưởng, Phùng đem đốt hết nhưng văn khế nợ. Dân đất Tiết rất vui mừng, tung hô vạn tuế.

    Khi họ Phùng trở về, Thường Quân lấy làm lạ cho là đòi nợ cách gì mà mau chóng đến thế, mới hỏi:
    - Thu nợ xong phải không?
    - Thu xong cả.
    - Có mua gì về không?
    - Khi đi, tướng công có bảo: nên mua những vật gì trong nhà còn thiếu. Tôi trộm nghĩ trong cung tướng công chất chứa những đồ trân bảo, ngoài chuồng nuôi đầy chó ngựa, nhà sau la liệt những mỹ nhân, vậy vật mà tướng công còn thiếu, chưa có là điều "nghĩa", nên tôi trộm lệnh mua điều "nghĩa" đem về.
    Thường Quân ngạc nhiên hỏi:
    - Mua điều "nghĩa" thề nào?
    Họ Phùng đáp:
    - Tướng công nguyên trước được phong cho thực ấp ở đất Tiết là đất nhỏ mọn, mà không lo vỗ về thương yêu dân, lại còn mưu toan làm lợi. Vì vậy, tôi trộm lệnh xóa cho tất cả các con nợ, nhân đó thiêu hủy các văn khế, được dân vui mừng tung hô vạn tuế. Ấy là tôi vì tướng công mua được điều nghĩa vậy.
    Thường Quân nghe nói không bằng lòng, nhưng phải bỏ qua.

    Một năm sau, vua Tề không dùng Mạnh làm Tướng Quốc nữa, phải về đất Tiết ở. Bấy giờ bá tính đất Tiết, trai gái già trẻ đua nhau đến đón rước giữa đường, hoan hô nhiệt liệt. Khi ấy, Mạnh quay lại Phùng Huyên mà bảo rằng:
    - Tiên sinh vì Văn này mua điều nghĩa, ngày nay Văn mới trông thấy.
    Phùng thưa:
    - "Con thỏ khôn có ba cái ngách hang mới khỏi chết", nay tướng công mới có một ngách hang, chưa được dựa gối nằm yên, tôi xin vì tướng công đào thêm hai ngách nữa.
    Mạnh nghe nói, liên ban 50 cỗ xe và 50 cân vàng để họ Phùng hoạt động. Họ Phùng liền tây du nước Lương, bảo vua Huệ vương nước Lương rằng:
    - Được người hiền thì nước mạnh, bỏ người hiền thì nước yếu. Nước Tề nay bỏ Mạnh Thường Quân, nếu Lương dùng làm Tướng thì Mạnh Thường Quân sẽ đem những việc khả dĩ làm lợi cho Tề được mà làm lợi cho Lương. Như vậy, Lương sẽ hùng mạnh mà Tề nguy mất.

    Lương Huệ vương bằng lòng khiến sứ giả đem 1000 cân vàng và 100 cỗ xe qua mời Thường Quân. Giữa lúc ấy, Phùng lại sang Tề, vào yết kiến Tề Mân vương bảo:
    - Được người hiền thì nước mạnh, bỏ người hiền thì nước yếu. Nay Tề bỏ Mạnh Thường Quân, nếu nước Lương hay một nước nào khác dùng làm Tướng thì Mạnh Thường Quân sẽ đem những việc khả dĩ làm lợi cho Tề được mà làm lợi cho nước khác. Như vậy, nước khác sẽ hùng mạnh. Huống chi Mạnh trước kia ở Tề, những chuyện bí mật của Tề, Mạnh đều hiểu biết, như vậy dù muốn dù không, Mạnh cũng dựa theo đó mà làm nguy Tề.
    Mân vương ngoài miệng tuy khen phải nhưng lòng còn do dự. Bỗng có quân báo nước Lương đang cho xe ngựa đi rước Mạnh Thường Quân về làm Tướng Quốc, nên lập tức sai quan Thái Phó đem 1000 cân vàng và văn xa tứ mã (xe có vẽ vời và gác 4 ngựa) cùng một bảo kiếm, 1 phong thư đến xin lỗi Thường Quân và xin mời về làm Tướng Quốc như cũ.

    Sau khi vua Tề tái dụng Thường Quân, Phùng Huyên lại khuyên Mạnh nên thỉnh cầu cho đủ những đồ tế khí của tiên vương và xin lập nhà tôn miếu ở đất Tiết. Vì Mạnh vốn là dòng dõi của vua Uy vương nước Tề, xin lập tôn miếu ở đất Tiết để thờ tiên vương làm căn bản vững vàng, sau này nước Tề chẳng những không dám đoạt đất Tiết mà phải cứu trợ một khi đất Tiết bị nước khác xâm lăng.

    Vua Tề không hiểu được mẹo của Phùng Huyên nên bằng lòng cho Mạnh thiết lập tôn miếu ở đất Tiết. Khi ấy họ Phùng bảo Mạnh:
    - Ngày nay ba ngách hang đã đào xong, tướng công có thể dựa gối cao mà nằm được yên vậy.

    Mạnh Thường Quân làm tướng nước Tề hơn vài mươi năm, không xảy ra chút mảy may tai họa gì, đó là nhờ mưu kế "giảo thố tam quật" của Phùng Huyên. "Ba ngách hang" của Phùng Huyên là: mua nghĩa, lập kế cho vua Tề tái dụng làm Tướng, lập tôn miếu ở đất Tiết.

    Thành ngữ "giảo thố tam quật" chỉ con người cần phải có trí mưu để tạo nhiều điều kiện, nhiều phương diện mới tự tồn được.


    -------------------
    (1) Tên của Mạnh Thường Quân.
     
  3. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Giấc Nam Kha


    Trong "Nam Kha Ký Thuật" của Lý Công Tá đời nhà Đường có kể truyện Thuần Vu Phần nằm mộng thấy chàng đến trước Hòe An. Thuần được vua Hòe An cho vào bái yết. Thấy Thuần tướng mạo khôi vĩ nên gả con gái, cho làm phò mã và đưa ra quận Nam Kha làm quan Thái Thú, cai trị cả một vùng to lớn.

    Đang lúc vợ chồng Thuần sống một cuộc đời vương giả, cực kỳ sung sướng thì bỗng có giặc kéo đến vây quận Nam Kha. Thuần đem quân chống cự. Giặc đông mạnh, Thuần thua chạy. Quân giặc vây thành đánh phá. Công chúa nước Hòe An, vợ của Thuần bị chết trong loạn quân.

    Thuần Vu Phần đem tàn quân về kinh đô tâu lại vua cha. Nhà vua nghi kỵ Thuần đã đầu hàng giặc, nên tước hết phẩm hàm, đuổi về làm thường dân. Thuần vừa oan ức vừa tủi nhục, khóc lóc bi thương.....Vừa lúc ấy thì Thuần chợt tỉnh dậy, thấy mình nằm dưới gốc cây hòe, trên đầu một nhánh cây hòe chĩa về phía Nam. Cạnh Thuận lại có một ổ kiến lớn. Bầy kiến kéo hàng đàn hàng lũ trèo lên cây hòe.

    Cũng có sách chép:

    Đời Đường có một nho sinh họ Lữ đi thi không đỗ. Trở về, dọc đường, vừa buồn vừa đói nên ghé vào một ngôi chùa con bên cạnh khu rừng, xin đỡ lòng. Chùa nghèo, nhà sư nấu kê (1) thay gạo đãi khách.

    Vì mệt mỏi nên họ Lữ nằm một lúc thì ngủ khò. Chàng thấy mình đã thi đỗ, được quan chức cao, nhà vua lại còn gả công chúa, phong cho chàng làm phò mã và cho đi trấn mhậm một nơi. Thật là vinh quang phú quý, không ai bằng. Nhưng khi đi đến nửa đường thì bỗng gặp quân giặc đổ đến đánh. Lữ chống cự không lại. Lính hộ vệ bị giết. Xe kiệu bị đập phá tan tành. Chúng thộp cả vợ chồng Lữ, đưa gươm kề họng.........Lữ hoảng hốt, kêu lên một tiếng, giật mình thức dậy mới biết là chiêm bao. Mà giữa lúc ấy nồi kê cũng chưa chín.

    Trong tác phẩm "Cung Oán Ngâm Khúc" của Nguyễn Gia Thiều, có câu:
    "Giấc Nam Kha khéo bất bình,
    Bừng con mắt dậy, thấy mình tay không".

    Trong bài "Lạc Đường" của Tú Xương cũng có câu:
    "Giấc mộng Nam Kha khéo chập chờn".

    Trong tác phẩm "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ Nguyễn Du, có câu:
    "Tiếng sen khẽ động giấc hòe".

    Trong "Bích Câu Kỳ Ngộ" cũng có câu:
    "Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa an".

    Cổ thi có câu:
    "Trăm năm một giấc kê vàng"

    "Kê vàng" cũng gọi là gạo "hoàng lương", một thứ ngũ cốc nhỏ như cát, màu vàng. Nhà nghèo bên Trung Hoa ngày xưa dùng kê để ăn thay gạo.

    Trong "Đoạn Trường Tân Thanh" có câu:
    "Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai"

    "Giấc Nam Kha", "giấc hòe", "giấc mộng kê vàng" hay "giấc hoàng lương" đều do điển tích trên. Có nghĩa sự phú quý vinh hoa chẳng khác nào một giấc mộng.


    -------------------
    (1) Một thứ ngũ cốc, hột nhỏ như cát, sắc vàng. Việt Nam tân tự điển của Thanh Nghị dịch ra tiếng Pháp là "Millet".
     
  4. phongthuythoinay Thành Viên Cấp 3

    Giấc Vu Sơn


    Đất Cao Đường, bên cạnh đầm Vân Mộng có 2 ngọn núi là Vu Sơn và Vu Giáp thuộc tỉnh Hồ Bắc nước Trung Hoa. Đời Chiến Quốc, vua Sở Tương Vương thường đến du ngoạn. Một hôm, nhà vua đến đấy, say sưa ngắm cảnh, một lúc mệt mỏi mới nằm ngủ dưới chân núi Vu Sơn.

    Trong lúc mơ màng giấc điệp, vua Sở mộng thấy một thiếu nữ tuyệt sắc, mặt hoa da phấn, duyên dáng thướt tha đến bên mình, rồi cùng vua chung chăn chung gối vô cùng thỏa thích.

    Sau khi cùng giai nhân ân ái mặn nồng, vua Sở hỏi:
    - Chẳng hay ái khanh ở đâu đến đây để Quả nhân duyên may gặp gỡ?
    Giai nhân mỉm miệng cười duyên, thưa:
    - Muôn tâu thánh thượng! Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn qua chơi đất Cao Đường, vốn cùng nhà vua có tiền duyên, nay được gặp gỡ thật là phỉ nguyền mong ước. Ở thiên cung, thiếp có nhiệm vụ buổi sớm làm mây, buổi chiều làm mưa ở Dương Đài.
    Nói xong, đoạn biến mất. Nhà vua chợt tỉnh dậy, cảm thấy mùi hương như còn thoang thoảng đâu đây. Mộng đẹp vơ vẩn trong trí não, nhà vua luyến tiếc vô cùng. Sau sai người lập miếu thờ (tức miếu Vu Sơn thần nữ) gọi là miếu Triên Viên.

    Cảm nhớ người đẹp trong mộng, vua Sở thuật lại cho quan Đại Phu Tống Ngọc nghe. Vốn là một danh sĩ đương thời, Tống Ngọc bèn làm bài phú "Cao Đường" để ghi lại sự tích Sở Tương Vương giao hoan cùng thần nữ Vu Sơn:
    "Tiên vương du Cao Đường
    Đái nhi trú tầm.
    Mộng kiến nhất phu nhân viết
    Vi Cao Đường chi khách,
    Văn quân du Cao Đường
    Nguyện tiến chẩm tịch,
    Vương nhận hạnh chi
    Khứ nhi tử viết
    Thiếp tại Vu Sơn chi dương
    Cao Khâu chi trở
    Triệu vi hành vân
    Mộ vi hành vũ".
    Tạm dịch:
    "Tiên vương dạo Cao Đường
    Mỏi mệt ngủ ngày
    Mộng gặp một đàn bà nói:
    Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn,
    Đến Cao Đường làm khách
    Tin vua dạo Cao Đường,
    Nguyện dâng chăn gối.
    Vua nhận yêu nàng,
    Khi đi nàng nói:
    Thiếp ở đỉnh núi Vu Sơn
    Cao Khâu hiểm trở.
    Sớm đi làm mây,
    Chiều đi làm mưa".

    Trong bài "Thanh Bình Điệu" (1) của thi hào Lý Bạch đời nhà Đường, có câu:
    "Nhất chi nùng điếm lộ ngưng hương,
    Vân vũ Vu Sơn uổn đoạn trường".
    Tạm dịch:
    "Đầu cành sương đọng ngát hương đông,
    Mây mưa Vu Giáp nỗi đau lòng".

    Trong tác phẩm "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn diễn tả Kim Trọng tựa án thiu thiu ngủ, nửa tỉnh nửa mê thì Kiều lén song thân, băng lối vườn khuya sang thăm chàng Kim, có câu:
    "Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần
    Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng".
    Và, khi chàng Kim tỏ vẻ lả lơi, suồng sã, Kiều van lơn, lý luận để tránh cuộc tấn công của người yêu, có câu:
    "Mây mưa đánh đổ đá vàng,
    Quá chiều nên đã chán chường yên oanh".

    Trong "Cung Oán Ngâm Khúc" của Nguyễn Gia Thiều cũng có câu:
    "Bỗng gươm lấp loáng dưới mành,
    Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa".

    Tôn Thọ Tường làm quan về đời Tự Đức hàng Pháp, lúc về trí sĩ có làm bài thơ "Đĩ già đi tu", mượn tâm cảnh một người gái làng chơi hết duyên, chán trần về xuất gia đầu Phật mà tả tâm sự của mình. Trong bài có câu:
    "Chày Kình (2) gióng tỉnh giấc Vu San,
    Mái tóc kim sinh nửa trắng nửa vàng".

    Những chữa "mây mưa", "giấc Vu Sơn", "giấc Cao Đường", "đỉnh Giáp non Thần" hay "Vu Giáp", "giấc mộng Dương Đài", "đến Dương Đài" đều chỉ việc trai gái chung chạ chăn gối, ấp yêu với nhau.

    Dùng những tiếng này để tránh tiếng tục.


    -------------------
    (1) Một điệu nhạc dùng ở trong cung đời nhà Đường. Vua Đường Minh Hoàng cho mời Lý Bạch vào cung làm 3 bài Thanh Bình Điệu, giữa lúc họ Lý còn say rượu.
    (2) Chày đánh chuông ở các chùa, tượng hình con cá Kình.
     
  5. vivandi Thành Viên Mới

    Xin lỗi bác, mặc dù rất cố gắng nhưng e cũng chỉ đọc hết trang 3, đánh dấu hôm nào đọc nốt!
     
  6. poseidon0380 Thành Viên Cấp 2

    hết rồi! Hay quá! Thanks
     
  7. WILDHORSE TRAN Thành Viên Bạch Kim

    Khoái mấy cái truyện này... Đọc để biết thêm mấy cái điển xưa tích cũ cũng thú lắm.
     

Tình hình diễn đàn

Tổng: 228 (Thành viên: 0, Khách: 225, Robots: 3)