Tìm kiếm bài viết theo id

Lên Đồng

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi tran_phuong, 27/6/09.

ID Topic : 1018930
Ngày đăng:
27/6/09 lúc 15:53
  1. tran_phuong Thành Viên Cấp 5

    Tham gia ngày:
    23/4/07
    Tuổi tham gia:
    18
    Bài viết:
    2,435
    Chú Châu tôi là con út của ông trẻ tôi. Ông trẻ và các chú lớn đi làm ăn xa, tận trên mạn ngược, đâu như Hà Giang, Bắc Mục. Những địa danh xa tít, đầy lam sơn trướng khí, mịt mù huyền hoặc. Lâu lâu gia đình ông trẻ tôi mới về. Lúc nhỏ chú Châu có theo gia đình lên trên đó. Sau chú bị báng, bụng cứ to ra, da bủng và vàng ệch. Người ta bảo là chú ngã nước. Có người lại bảo tại chú nghịch ngợm sao đó bị ma nó ốp, bị người Thổ họ thư. Vì thế chú về lại làng uống thuốc. Khi khỏi bệnh chú không lên mạn ngược nữa, sợ ma nó nhớ, nó bắt. Tuy theo vai vế chú gọi thầy tôi là anh, nhưng chú chỉ nhỉnh hơn anh hai tôi đâu có một hay hai tuổi gì đó, nên chú xưng với thầy tôi là "em" và gọi thầy tôi là "bác". Chú nhập bọn với các anh lớn của tôi và các con của cô tôi. Tất cả năm, sáu người ở tuổi mười lăm, mười sáu, cười đùa rinh rích, nhưng mỗi khi thầy tôi lại gần, cả bọn lại im như không, như là ngoan lắm vậy. Nhưng cả bọn không dấu được tài ăn của họ. Họ ăn nhanh và ăn nhiều quá. Nhà có giỗ chạp gì, mâm của họ, thức ăn không bày ra đĩa, mà xúc vào bát lớn. Mới bày ra, loáng cái đã nhẵn bóng. Các bàn trên, các cụ vừa ăn vừa nhâm nhi câu chuyện, thức ăn còn lại "thôi đưa xuống cho bọn trẻ", ngoảnh đi ngoảnh lại đã hết veo. Thầy tôi bảo "Quái. Tụi này ăn nó không nhai chắc.". Đấy là vừa ăn vừa nói. Họ nói với nhau bằng những tiếng lóng, chả ai hiểu họ nói gì, chỉ thấy chốc chốc lại phá lên cười. Tôi đoán là có nhiều điều "láo lếu" lắm đây. Mà thật. Một điều láo lếu mà tôi biết, biết mà phải giữ kín, nín thinh trong bao nhiêu năm. Đến khi có thể nói ra được thì tôi đã ở xa quê quá đỗi. Các người trong cuộc kẻ mất người còn mà vai chính là chú Châu. Câu chuyện thế này...


    Giỗ chị Hân đã xong. Lễ hoá vàng cũng đã xong. Tro cũng đã được hốt đổ xuống ao, nhưng bác gái tôi vẫn bồi hồi nhớ chị Hân. Chị chết oan uổng, đau đớn. Bác gái tôi cho gọi ông thầy cúng đến để phụ đồng chị Hân lên. Bác tôi mong rằng sống khôn thác thiêng, bác muốn hỏi cho ra lẽ về cái chết của chị. Trời đã tối. Mảnh sân hoá vàng còn nóng hôi hôi hổi. Bác gái tôi cho bày một bàn thờ riêng ở gian bên, có hình chị Hân trên bàn thờ. Hình chị Hân tô mầu cu-lơ, chị mặc áo nhung, đeo kiềng vàng, vấn tóc trần. Quanh ảnh chị có hoa tươi, trà, một đĩa xôi đậu, một con gà luộc. Mỏ gà cắp một đoá hoa hồng, ngắt ở ngoài vườn. Hai cây nến trắng lung linh, bát hương nghi ngút khói. Đặc biệt có một mâm bồng cam Bố-Hạ. Thứ cam to, mỏng vỏ, ngọt mát mà ngày xưa chị Hân rất thích ăn. Ông cung văn và cô đồng đón đâu từ xa đến, được bác tôi đãi ăn rất hậu. Bác tôi còn hứa "nếu hồn về trót lọt, trả lời xuông sẻ, tôi sẽ còn thướng thêm".



    Cơm nước xong, trước bàn thờ, ông cung văn ngậm cái tăm trên miệng, nhẹ nhàng ngồi vào góc chiếu lên giây đàn: phừng phừng. Phừng phứng phưng... Những ngón tay dài khẳng khiu nắn buông trên các phím, phô cái khuỷu tay áo the đã rách. Mọi người đã tề tựu. Bác gái tôi đã có mặt. Cô đồng được mời vào. Cô đồng trạc độ trên dưới 40, là vợ của ông cung văn, nổi tiếng là người có căn, hồn dễ nhập. Cô được mời ngồi vào giữa chiếu. Đèn măng-xông thắp sáng. Cô e dè ngồi lê dần vào vị trí trước bàn thờ. Ông cung văn phủ lên đầu cô một cái khăn đỏ rộng chùm đầu, che kín cả vai và lưng. Trên đầu cô, một bát nhang được nhẹ nhàng đặt lên. Cô đồng từ từ dơ hai bàn tay lên, run run, úp vào mặt. Cung văn bắt đầu hát: "Ơ cô. Cô đẹp cô xinh... Ấy a hồn rằng hồn thác ban ngày. Thương cha nhớ mẹ (chứ) hồn dày thác đêm".


    Bác gái tôi bắt đầu tấm tức khóc. Không lễ, vì cha mẹ không phải lễ con, nhưng bác tôi nói nho nhỏ: "Sống khôn thác thiêng, con có điều gì oan khuất thì xin nhập vào đồng, nói cho mẹ biết". Ông cung văn vẫn cao giọng vừa đàn, vừa hát. Mắt ông không dời nhìn vào cô đồng. Vì theo kinh nghiệm thông thường, hát chưa xong một khúc, đồng đã đảo. Nhưng khúc hát đã chuyển mà đồng vẫn cứ lặng yên, chỉ thấy hơi run run như lo, như sợ. Hết khúc hát khen, ông cung văn chuyển sang khúc tán. Giọng ông lúc cao vút như gió gió cuốn trên ngàn, lúc lại chùng chùng xuống như thác đổ đầu gềnh. Cô đồng vẫn ngồi im như cũ. Bỗng cô đồng buông tay, đỡ bát nhang trên đầu xuống, để ở trước mặt. Tháo khăn phủ đầu xuống. Ông cung văn cũng bỡ ngỡ, bỏ dở tiếng đàn, tiếng hát. Cô đồng mặt mày nhợt nhạt, cúu đầu, chấp tay lễ hai lễ, rồi lễ phép thưa: "Xin cụ bỏ lỗi cho. Nhà cháu không hợp căn, hồn không nhập được". Mọi người ngơ ngác. Ông cung văn cũng hạ cây đàn xuống, để dài trên chiếu. Chiêu một ngụm nước lớn, lấy tay gãi nách, rồi thưa: "Hồn cô cao lắm, nhà cháu không hợp căn cơ, không đậu được hồn về. Ở đây có ai ngồi được xin mời vào ngồi hộ cho". Trên bàn thờ, nhang đã cháy hết một nửa. Hai ngọn nết vẫn lung linh, leo lét. Bỗng có ai tắt bớt ngọn đèn măng-xông. Bàn thờ bỗng trở nên u linh, huyền hoặc. Hình chị Hân trên bàn thờ lúc sáng lúc mờ theo ánh nến. Ông cung văn lại nhắc: "Ai có căn xin ngồi hộ. Ông cung văn chiêu một nhụm chè mạn đặc, nhưng nét mặt ông lo lắng thấy rõ. Như thế là tiếng tăm của cô đồng mất, việc làm của vợ chồng ông sẽ xa sút chăng. Đợi một lúc, ông cung văn lại hỏi: "Ở đây ai có căn cơ hầu đồng được thì xin ngồi hộ đi". Ngoảnh đi ngoảnh lại không thấy ai. Sau một tuần trà nước nữa, cuộc hầu-đồng tưởng đã bỏ ngang, thì cửa phòng bỗng mở. Một luồng gió tạt vào, lạnh toát. Chú Châu tôi xuất hiện, khẽ nói: "Nếu không có ai thì để tôi ngồi thử xen sao". Có ai đáp "phải đấy". Cô đồng lê ra cạnh chiếu, nhường chỗ cho chú Châu tôi ngồi vào giữa chiếu. Đầu chú phủ khăn đỏ, và không quên để bát hương lên đầu. Hai tay chú bưng mặt. Tiếng đàn lại nổi. Tiếng hát của ông cung-văn lại cất. Lúc đầu đầu đồng quay nhè nhẹ, rồi theo nhịp đàn, theo tiếng hát, đầu đồng quay rộng vòng hơn, ngả ra phía trước, ngả ra phía sau. Tiếng đàn hát mỗi lúc mỗi thêm hưng phấn. Mọi người trố mắt dõi theo vòng đảo chao chát của đồng. Bỗng tiếng đàn như chùng, tiếng hát nhẹ như ru, như dỗ: "Chẳng mấy khi xa loan giá ngự về đ.. ồ..n.. g.".


    Bây giờ đồng đảo mạnh, mềm như không có xương, rạp xuống phía trước, ngả ra phía sau, vậy mà bát hương trên đầu đồng không đổ. Mọi người ngồi xung quang im phăng phắc, nét mặt ai nấy đăm chiêu, sợ hãi. Bác gái tôi thì xuýt xoa. Đồng đảo một vòng rất sâu rồi từ từ ngưng lại. Tiếng đàn thưa thớt theo lời như khấn, như dỗ dành: "Đêm có khuya, ngày có rạng. Xin đồng ngả tay đồng xuống để ăn trầu uống nước...". Đồng chìa bàn tay run run ra phía trước. Mọi người nín thở. Hai tay đồng đón bát hương trên đầu xuống, trịnh trọng để ngay trước mặt, rồi nhẹ nhàng vén mảnh vải đỏ ra. Mọi người nín thở. Chú Châu bây giờ khác hẳn. Mặt mày đỏ ửng, hai mắt khép hờ, rồi từ từ mở ra, thất thần như đang còn chìm vào một cõi huyền hoặc nào xa.


    Đồng đảo mắt một vòng rồi bỗng oà khóc. Khóc như mưa, chan hoà, nức nở. Bác gái tôi thì có vẻ sợ mà nước mắt cũng đầm đìa. Tiếng đàn lại nổi, và giọng ông cung văn như dục, như mời: "Xin hồn hãy bớt lo toan, đừng khóc nữa. Hồn có điều gì oan khuất thì có mẹ hồn đây, hồn có thể giãi bày vài lời cho thoả..."


    Hồn vẫn khóc, khóc lớn hơn. Bác gái tôi trong nước mắt nghẹn ngào: "Con ơi, con chết oan chết uổng, khổ sở thân con. Mà con có biết hôm nay là ngày gì của con không..." Hồn khẽ gật đầu, nói: "Biết. Ngày giỗ đầu của con." Thế là bác gái tôi oà khóc và hỏi: "Mẹ có thửa mã cho con đủ cả. Nhà Tây, xe cao-su, hài thêu, quần áo, người hầu, không thiếu một thứ gì. Con có nhận được không." Hồn lại khóc và khẽ đáp: "Con chỉ nghe được tiếng trống cúng xa xa thôi. Vì lũ quỷ nó cướp mất cả, con chả được gì." Thế là bác gái tôi lại khóc nấc lên não nuột: "Khốn khổ con tôi. Thế con đã ăn uống gì chưa." Hồn lắc đầu và ra chiều buồn bã quá. Hồn nhìn lên bàn thờ mình, trong lúc tiếng đàn của ông cung văn lại nổi lên rộn rã, reo vui: "Hồn đói, hồn khát, thương quá hồn ơi..." Thế là bác gái tôi bảo đem con gà luộc trên bàn thờ xuống, xé cái đùi gà ra chặt vội vã bày trước mặt hồn. Hồn ăn một miếng thịt gà rồi lại khóc. Bác gái tôi lại hỏi: "Thế con làm gì ở dưới âm ty". Hồn đáp: "Con nghèo khổ quá, phải đi buôn rau buôn chè". Đó là nghề ít vốn mà những người cùng quẫn của làng tôi mới làm. Nghe thế bác gái tôi lại khóc và nói: "Khốn khổ quá con tôi...". Ông cung văn vẫn hát, hồn khen "hát hay" và bảo "hồn cần tiền để thưởng cho ông cung văn." Bác gái tôi liền móc túi lấy mấy đồng bạc đưa cho hồn. Hồn cầm tiền bỏ cả vào túi, chỉ lấy ra có mấy xu thưởng cho ông cung văn. Ông cung văn đón lấy tiền thưởng và cao giọng hát tiếp, ý chừng sẽ còn nhận được thêm tiền thưởng:

    Âm dương cách trở đôi đàng

    Khuất oan hồn cứ thực lòng kể ra

    Này anh, này mẹ, này cha

    Này là chú bác toàn là người thân.

    Tiếng đàn càng trở nên quấn quýt, rộn rã như thục dục, như tươi vui:

    Á à a hồn ơi, hồn chớ ngại ngần...

    Có ai đó lấy từ trên bàn thờ xuống một quả cam Bố-Hạ đỏ au, vỏ mỏng như giấy, bóc ra đưa cho hồn. Hồn nhận và cho vào miệng một lần 4 múi. Quả cam vừa hết, mọi người hy vọng hồn sẽ thổ lộ thêm về cái chết oan khuất của hồn thì hồn bỗng lăn ra và... thăng. Ông cung văn hốt hoảng ngưng đàn hát. Bác gái tôi thì xững sờ, hai tay quơ quơ như muốn bám víu, muốn giữ hồn ở lại. Chú Châu tôi lồm cồm ngồi dậy, mắt nháo nhác như vừa tỉnh một cơn mê. Chú vái vội vàng mấy vái trước bàn thờ rồi nhanh chân lui ra. Mọi người còn ngơ ngác. Bác gái tôi mếu máo: "Thế là nó đi. Mẹ con âm dương cách trở, mới gọi được hồn lên, chưa hỏi đươc ngọn ngành nó đã thăng....".

    Trong cái không khí bàng hoàng đó, chú Châu đã nhanh chân lẻn ra ngoài. Anh cả tôi chạy theo. Tôi cũng chạy theo xem sao. Trời đêm tối như mực. Đom đóm đâu đó kéo về bay nháo nhác đầy sân. Chú Châu vỗ vào túi áo, nói nhỏ với anh cả tôi: "Đi. Đi ăn phở". Chú cho tôi đi theo và nhắc khẽ, lời nói sắc, gọn như chỉ lọt qua kẽ răng: "Câm. Phải câm nghe không". Vâng, lúc ấy vì sợ chú, vì bỗng dưng được đi ăn phở, tôi đã "câm", không dám hở cho ai hay.

    Hình ảnh chú Châu bao giờ cũng vẫn thế, như lời thầy tôi nói: "bao giờ cho đứng đắn đây". Rồi cái tuổi "láo lếu" ấy cũng qua đi, chú Châu lấy vợ. Vì cụ Trẻ Ba đi làm ăn xa, không có mặt ở nhà, nên thầy tôi phải "quyền huynh thế phụ", thay mặt cụ Trẻ Ba, đại diện nhà trai lo liệu. Hôm đi "đánh tiếng" chú sang nhà tôi khi thầy tôi vừa ăn cơm xong, chú nói: "Bác mặc cái áo dài vào đi lại nhà gái cho em...". Thầy tôi bảo: "Để anh uống ngụm nước cái đã". Chú dục: "Thế nào nhà gái cũng mời mình uống nước mà".

    Đám cưới chú Châu như tất cả các đám cưới khác trong làng, tôi chỉ nhớ được mấy điều. Khi nhà trai mang lễ vật đến nhà gái, có cụ Từ Vang mặc áo thụng xanh cầm hương đi đầu. Sau là mấy người trai trẻ bưng các mâm cau, trầu và những chai rượu Văn Điển. Kế đến là chú rể, phù rể và họ hàng nhà trai. Khi đám đón dâu rẽ vào xóm Ngõ Mắm, cái ngõ có lát gạch nhưng hẹp dí. Tụi trẻ con trong xóm đã căng mấy giây mùng tơi để cản đường đám đón dâu. Mùng tơi là một thứ dây leo mềm, rất dễ đứt, tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng, phải nương nhau mà gìn giữ. Cũng vì thế sợi giây căng ra cản đường mà không ai dám động vào, sợ đứt thì không nên, không tốt. Cũng chẳng ai dám bước qua. Trẻ con biết thế, cứ căng ra để mè nheo, đòi tiền chăng-giây. Kỳ kèo, nhì nhằng một lúc cho có lệ, tụi trẻ cũng mở giây để nhà trai tiếp tục đi.

    Đến cổng nhà gái, thì cổng đã đóng chặt. Tụi trẻ con nhà gái giữ cổng lại đòi tiền mở-cổng. Lại nhì nhằng mà cả mãi, cổng mới được mở ra. Đám đón dâu ùn lại trễ đến nửa giờ. Khi cánh cổng nhà gái vừa được mở ra, một bánh pháo Điện Quang buộc ở cành na, trước sân bắt đầu nổ vang đì đùng. Khói pháo mù mịt. Cụ cầm hương xêng sang bước tới. Chú rể và họ nhà trai quần áo chững chạc bước vào lòng sân gạch còn đầy xác pháo hồng và mù mịt khói thơm. Khi hai họ đã tề tựu, lễ vật đã được bày trước bàn thờ gia tiên, có một bà cô nào đó bên nhà gái đỏng đảnh ngỏ lời:

    "Thay mặt cho nhà gái, chúng tôi muốn được biết đồ dẫn cưới gồm những gì đây..." Áo dài, áo cánh, váy lụa, sà-tích bạc và một gói tiền được bày ra. Bà đại diện nhà gái lại nói: "Nói trên có các cụ bỏ lỗi cho, chứ cháu gái tôi đáng giá có ngần ấy thôi sao?" Tuy biết đây chỉ là lời đối đáp theo thủ tục cho có lệ, nhưng cũng làm cho mọi người khựng lại. Chú Châu tôi đứng ở hàng sau, nóng mặt nói lớn: "Không nhận lễ thì con gái để đó mà làm mắm à..." Mọi người bỗng cười ồ. Nhà gái vội nhận lễ vật và đem vào buồng cho cô dâu thay áo mới.

    Cô dâu bước ra, áo dài tứ thân bên ngoài, áo cánh nâu non bên trong, yếm trắng tinh, thắt lưng hoa lý, giây xà-tịch bạc buông dài bên gối, đủng đỉnh, thẹn thùng. Nhờ có mấy người đẩy, cô dâu mới bước tới ra chào hai họ. Lúc ấy thì bà đại diện nhà gái lại tươi cười lên tiếng trước: "Dạ, trên có các cụ hai họ, dưới là tất cả gia đình hai bên. Cháu gái tôi được về làm dâu họ Phan là một điều sung sướng. Nhưng cháu nó có nhớn mà chả có khôn. Thôi thì khôn thì các cụ dạy ít, dại thì các cụ dạy nhiều...". Tiếp sau đó là các bà dì, bà cô, họ hàng sà vào, tíu tít: "Dì thì nghèo. Dì chả có gì nhiều cho cháu, gọi là có, dì cho cháu cái thoi... Cô tuy có tiếng mà chả có miếng, cô có tấm vải cô cho cháu đem về làm dấn làm vốn..." Sau mục họ hàng cho quà, cỗ bàn được bày ra. Ngoài những bát canh, bát om, đĩa thịt mỡ thái quân cờ như thường lệ ở làng, cỗ cưới bao giờ cũng có một gói nem. Nem là bì thịt lợn trộn với thính, được gói bằng lá chuối xanh vuông vức, buộc bằng hai cái lạt màu đỏ, để ở cạnh mâm như một thứ trang trí rất đẹp, rất vui mắt. Những tay xính rượu, trước khi đi dự đám cưới đã thủ sẵn một nhúm lá ổi non để nhắm với món mem này.

    ***

    Sau bao nhiêu năm xa cách, trước phút vợ chồng tôi lên đường ra phi trường từ Mỹ để về thăm Việt Nam, anh Hai tôi từ Úc gọi qua, anh dặn thêm: "...như thế là chu tất. Có điều em nhớ thăm chú Châu cho anh. Nhớ biếu chú một món quà cho anh..." Tôi vâng lời mà lưỡng lự. Anh tôi hiểu ra và tiếp: "Sở dĩ anh nhắc em điều ấy là vì anh em mình chịu chú một cái ơn..." Câu chuyện thế này. Lúc ấy là cuối năn 1954, hiệp định Geneve đã ký. Ai muốn đi Nam thì đi, ai ở lại cũng được. Anh Hai tôi lúc ấy là Trung Uý, thường gọi là Quan Hai. Sau mấy tuần nằm nhà thương vì bị trúng đạn ở chân trong một trận đụng độ khá ác liệt đâu như ở Thái Bình, Phủ Lý gì đó, nhờ có khả năng ngoại ngữ, anh Hai tôi được chỉ định ở lại Hà Nội, phụ trách việc liên lạc với Hải Quân Hoa Kỳ trong việc đưa đồng bào vào Nam. Trung Uý trẻ, được phát một cái xe jeep mui trần mới tinh, sau giờ làm việc, buổi chiều lái loanh quanh Hà Nội. Anh Cả tôi và hai cô em gái từ quê ra bảo: "Chú ở lại đi. Đi Nam làm gì. Hai năm nữa tuyển cử mà. Ở lại không sao đâu, họ bảo thế." Anh Hai tôi chỉ cười, nhưng lòng cũng hoang mang. Cho đến những ngày cuối phải giao Hà Nội cho Việt Minh, chú Châu tôi từ quê ra tìm gặp anh Hai tôi và hỏi: "Quan Hai, có xe ô tô riêng oai nhỉ. Thế vào Nam họ có cho lon Quan Hai nữa không ?". Anh Hai tôi cười và nói: " Vẫn thế và có thể còn từ từ lên cao hơn nữa chứ...". Nghe thế, chú Châu nói nhỏ bảo anh tôi: "Chú nói thật. Chạy đi. Ở lại không được đâu. Đi đi. Tin họ thế nào được..." Nhờ lời nhắn nhủ đó, anh em tôi đã có mặt ở trong Nam suốt 21 năm. Chúng tôi, như đa số đồng bào từ Bắc vào Nam, nhờ chịu khó, hầu như ai cũng có cuộc sống no đủ. Riêng anh em tôi, chúng tôi, ngoài nỗi nhớ quê nhà, nhớ Hà Nội, chúng tôi đã có cơ hội đi học lại, học thêm và thăng tiến. Ở Miền Nam, dù chúng tôi không thuộc đảng phái nào, cũng đã được xã hội đối đãi đầy thương mến. Chúng tôi có bằng hữu, có những chân tình giữa đồng đội, xóm giềng. Nhiều lần khi còn ở Việt Nam, anh em tôi thường nói với nhau: "Miền Nam hiền hoà, đơn giản. Miền Nam đã rộng lòng bao bọc chúng ta". Chúng tôi cũng đã hết lòng làm một công dân lương thiện. Chúng tôi cũng đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình. Tôi nghĩ rằng đại đa số người Bắc vào Nam năm 1954 đều có ý nghĩ như tôi. Nhưng xa hơn một chút, nếu không có chú Châu lặn lội từ quê ra Hà Nội nhắc "đi đi..." thì chưa chắc chúng tôi đã quyết liệt đi như thế. Bao nhiêu năm xa cách. Bao nhiêu chia lìa, tan tóc, giờ cuộc chiến đã tàn. Những gian lao cơ cực của người tỵ nạn lúc đầu với tôi đã tạm qua. Chúng tôi đã có cuộc sống ổn định. Các con, dù rất chật vật, chúng tôi cũng đã nuôi dạy, học hành coi như xong. Tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm, không còn tuỳ thuộc vào cha mẹ nữa. Tôi tạ ơn Miền Nam, và cũng xin tạ ơn miền đất mới xa lạ này. Tất nhiên tôi không thể quên lời nhắc nhở của chú Châu. 40 năm xa cách, khoảng thời gian quá dài. Tôi nhắm mắt lại để cố hình dung ra chú Châu. Chắc chú đã già, râu tóc đã bạc, nhưng chú có còn cười đùa, nghịch ngợm như xưa? Chịu. Hình ảnh chú Châu với tôi chỉ là một thanh niên ngoài 30 tuổi, đùa nghịch, nghịch tinh và như thầy tôi nói "biết đến bao giờ mới đứng đắn đây". Ở Hà Nội mấy ngày rồi chúng tôi về quê. Sau những gặp gỡ, lễ lạc chính, tôi bảo chú em "cho anh thăm chú Châu..." Chú em tôi như một thoáng ngỡ ngàng: "A, cụ Châu. Vâng thì mình hãy thư thả". Sợ quên, nhất là lời dặn của anh Hai tôi, tôi nhắc: "Cứ cho anh thăm cụ Châu trước, sợ rồi bề bộn công việc...". Chúng tôi đi theo con đường chính giữa làng. Xưa tôi thấy nó thêng thang đỏ au gạch chỉ, nay sao nó bé quá, hai bên nhà cửa chen chúc mọc đầy, khác hẳn quanh cảnh ngày cũ. Nhưng khi đi qua bờ ao Hậu thì tôi nhớ ra rồi. Con đường này, ngày đám cưới chú Châu, hai họ đã đi qua đây. Cụ cầm hương mặc áo thụng xanh đi đầu. Khói hương bay lượt thượt. Chú rể áo the, khăn lượt vừa đi vừa cười. Cô dâu nón thúng quai thao, bao xanh hoa lý, xà-tích bạc óng ả, thẹn thùng đi giữa các cô phù dâu. Cạnh ao là dinh cơ của bác Tham tôi. Một dinh cơ cất theo lối mới nhưng vẫn là "thượng gia hạ trì", nhà trên ao dưới, tường hoa phủ kín hoa tường vi vàng ối. Nay dinh cơ ấy vẫn còn mà sao bề bộn, cũ kỹ quá. Dọc theo chiều dài bên kia ao là nhà thờ Quan Bác. Những năm cụ Thiếu về quê ăn Tết, nhà Quan Bác sửa soạn nhà thờ từ trong năm. Dù, lọng óng ả. Bát bửu, y môn, câu đối được lau lại, treo lên thật rực rỡ, uy nghi. Giờ là một căn nhà tối đen, thấp tè ẩn hiện qua mấy khóm tre um tùm mọc ở mé ao. Tôi vừa đi vừa nhớ lại. Những vết tích cũ đều đã phai nhoà, tàn tạ, khiến lòng tôi buồn bã bâng khuâng. Đang miên man suy tưởng thì chú em tôi nói: "Dạ xin bác vào đây..." Tôi theo chú em rẽ vào một con ngõ nhỏ, tường gạch ong đen, hai bên cống rãnh dật dờ, mùi hôi phảng phất. Chúng tôi dừng lại trước một căn nhà nhỏ. Một bà cụ mặc áo cánh nâu bạch thếch, đầu vấn tóc trần nhìn ra. Chú em tôi lên tiếng trịnh trọng, to tát: "Thưa cụ, bác cháu từ Mỹ về lại thăm hai cụ".

    Tôi cúi đầu chàu "thím". Bà cụ ngỡ ngàng một chút, dơ hai tay lên trời và kêu lên: "Ấy cháu...". Tôi nắm lấy đôi tay bà cụ. Đôi cánh tay gầy bọc trong hai ống tay áo bạc màu, đã rách. Rồi bà thảng thốt nói lớn vào phía trong: "Ông ơi ! cháu nó từ bên Mỹ về...". Tôi cúi đầu bước vào nhà. Căn phòng ánh sáng mập mờ. Một cụ già từ trong góc chiếu đưa đôi tay quờ quạng ra phía trước: "A ờ, cháu về thật à..." Đôi mắt cụ kém, tay run run và cái đầu lúc lắc không yên. Tôi nắm bàn tay "chú", cố tưởng tượng ra hình ảnh ngày xưa, một ông chú trẻ luôn đùa nghịch mà đành chịu. Trước mặt tôi là một cụ già mà sức khoẻ cũng như tinh thần đã lụn, đã tàn. Trước chỗ ngồi là những ly nước chè đóng váng cáu đen. Cái điếu bát đầy tàn thuốc... Tôi ngồi xà xuống bên cạnh chú. Chú vòng tay qua ôm lưng tôi. Một chút hơi ấm pha mùi thuốc lào cay nồng. Thật là hết, hết hẳn hình ảnh chú Châu ngày cũ. Tôi nhắc lại chuyện cũ, nhắc lại lời anh Hai tôi nói cám ơn chú, chú chỉ "ờ ờ...". Đôi lúc chú lại nắm lấy cổ tay tôi và nói: "Cháu, cháu thật à...". Tôi nhẹ nhàng bỏ một phong thư vào túi áo chú. Chú cười cười. Tôi nói đùa: "Để chú ăn phở". Chú lại cười, khoe hai hàm răng chỉ còn có lợi.

    Trên đường về nhà trời chiều đã tối. Những căn nhà nhô ra, thụt vào lấp loáng ánh đèn. Người đi kẻ lại, nói cười, chào hỏi mà tôi không nhìn rõ mặt, chẳng nhận ra ai là ai, như bóng dáng của những người từ một thửơ nào đã mờ xa, không thật. Bước những bước chập choạng lạ lùng trên con đường cũ bao năm xa cách, tôi thấy mình như đang chìm ngợp giữa một cơn mê chập chờn qúa khứ và hiện tại mờ nhoà không phân định. Ở cuối tầm mắt, ẩn hiện sau một tàn cây đen sẫm, ngôi sao hôm xanh ngắt, lấp lánh như một ánh mắt của ai cũ e lệ, kín đáo dón dén đón mừng.


     
  2. tran_phuong Thành Viên Cấp 5

    Lên ĐồngNhắc đến chuyện "lên đồng" mà không nói tới Phủ Giầy thật là thiếu sót. Nếu ai đã từng đến với Hội Phủ Giầy chắc chắn sẽ có những ấn tượng khó quên với những đêm hội không ngủ tràn ngập ánh đèn và phách nhịp khúc hát văn. Thấp thoáng trong sương đêm là lập lòe ánh nến và một không gian quện chặt của tâm linh huyền hoặc.
    Cho đến ngày nay, Phủ Giầy vẫn là một trung tâm lễ hội của tục "lên đồng". Không những nó lưu truyền một nét văn hóa Việt đều đặn trong bước đi của lịch sử mà mỗi ngày lại thêm sôi nổi và muôn mặt.

    -----------------
    Phủ Giầy có tên cổ là Kẻ Giầy, từ sau khi Liễu Hạnh được sắc phong công chúa thì được gọi là Phủ. Thực ra ở phủ Giầy có một hệ thống kiến trúc liên quan tới Liễu Hạnh, đó là phủ chính, phủ Vân Cát và lăng Chúa Liễu.


    Phủ chính là một kiến trúc khá qui mô, gồm ba lớp điện thờ, mặt đều quay về hướng nam, trước điện là giếng tròn và cột cờ, trên sân rộng phía trước có xây các nhà bia, nhà trống, nhà chiêng, kiến trúc kiểu bốn mái hai lớp. Chúa Liễu và hệ thống Tứ Phủ được thờ ở tòa điện trong cùng, Mẫu Thượng Thiên hóa thân thành Liễu Hạnh thờ ở trung tâm, bên trái là Mẫu Thoải, bên phải là Mẫu Địa, phía trước là Mẫu Thượng Ngàn (Nhạc Phủ).

    Tại làng Vân Cát, cách không xa phủ Giầy có kiến trúc phủ Vân Cát. Phía trước đền có hồ bán nguyệt, nối với bờ bằng cầu đá, chạm trổ rất công phu. Phủ Vân có Ngũ Môn và bốn cung, trung tâm thờ Chúa Liễu, bên trái là chùa thờ Phật, bên phải thờ Lý Nam Đế.

    Lăng Chúa Liễu nằm gần phủ Chính, được dựng bằng đá, kiến trúc công phu và rất đẹp, độc đáo, xây dựng vào những thập kỷ của nửa đầu thế kỷ này. Trung tâm lăng là ngôi mộ hình bát giác, mộ ở thế đất cao, có bốn cửa và bậc thang lên xuống. Xung quanh mộ, còn có tường vây quanh theo kiểu lan can đá, lớp nào cũng có cửa vào ở bốn phía. Bốn góc của lớp tường vây quanh và hai trụ cửa ra vào đều chạm đá hình nụ sen (60 nụ sen) lô nhô như một hồ sen đá.

    Ngoài hai phủ chính và lăng kể trên, xung quanh phủ Giầy còn có nhiều đền miếu bao quanh, như đền Khâm Sai, đền Công Đồng, đền Thượng, đền Quan, đền Đức Vua, đền Giếng, đền Cây Đa, đình Ông Khổng… Tất cả quần thể kiến trúc ấy gần như tập trung trong phạm vi xã Kim Thái, xưa là xã An Thái, thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà, cách thành phố Nam Định khoảng 15 km. Đó là vùng đồng bằng với những cánh đồng lúa bát ngát, có những ngọn núi đá thấp nằm rải rác, làng mạc trù phú, có dòng sông hiền hòa uốn khúc quanh co, tạo nên cảnh sắc thiên nhiên và văn hóa rất nên thơ.

    Người ta tin rằng Bà Chúa Liễu vốn là con gái của Ngọc Hoàng, vì phạm lỗi nên bị đầy xuống trần gian, thác sinh vào nhà họ Lê. Khi cất tiếng khóc chào đời, bố mẹ đặt tên là Giáng Tiên, tới năm 18 tuổi thì gả chồng. Lấy chồng mới được ba năm thì hết hạn đầy bị gọi về trời. Nhưng vì nhớ chồng con, Ngọc Hoàng lại phải cho nàng trở về hạ giới. Lần này trở lại, nàng thích vân du khắp nơi, gặp danh sĩ Phùng Khắc Khoan và họa thơ với ông ở Lạng Sơn và Hồ Tây, sau lại kết duyên với một thư sinh ở xứ Nghệ và giúp cho chồng đỗ đạt làm quan. Vừa lúc đó nàng lại có lệnh về trời. Trái lệnh vua cha, một lần nữa nàng lại giáng sinh. Lần này nàng không ở một nơi mà cùng hai thị nữ chu du thiên hạ. Thấy vùng Phố Cát là nơi phong cảnh đẹp, nàng hiển linh thành cô gái bán nước ven đường để trêu ghẹo, trừng phạt những kẻ ác, gia ân cho người hiền. Triều đình nhà Trịnh lúc đó cho là yêu quái nên đem quân, dùng pháp thuật để trừ. Hai bên đã dàn quân đánh nhau, đó là “Sùng Sơn đại chiến”.

    Do lập mẹo quân triều đình có cơ thắng, nhưng vừa lúc đó đức Phật ra tay, giảng hòa, cứu Liễu Hạnh. Nàng được triều đình phong thần là Nữ Hoàng Công Chúa rồi Chế Thắng Đại Vương. Từ đó Liễu Hạnh công chúa không gây kinh sợ cho mọi người, mà luôn luôn ban phát ân đức, được nhân dân tôn thờ là Thánh Mẫu.
    “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”. Đó là câu nói cửa miệng của bất cứ người Việt nào dù họ sinh sống trên quê hương hay đã tha hương nơi đất khách quê người. Trong tâm thức dân gian, vui Hùng là ông Tổ, nên “Dù ai đi ngược về xuôi nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”, còn Liễu Hạnh là Mẫu (Mẹ), Trần Hưng Đạo là Cha, cả dân tộc coi cộng đồng mình như một gia tộc, có tổ tiên, cha mẹ.
    Tháng ba, vào cuối tiết xuân, những người nông dân đang buổi nông nhàn, rủ nhau mở mùa trảy hội. Từ muôn nơi người ta đổ về phủ Giầy, nơi có phong cảnh non nước tươi đẹp, công trình đền miếu nguy nga, nơi con người có thể cầu mong Mẫu mang lại những điều tốt lành, may mắn, tài lộc. Trong mười ngày hội phủ, người về dự tính tới hàng vạn, đứng trên non Gôi nhìn xuống, dòng người trảy hội rực rỡ áo quần, từ muôn ngả đổ về, trườn đi từ từ như con rồng uốn khúc trên thảm lúa xanh non đang thì con gái.

    Xưa kia, hội phủ kéo dài trong mười ngày bắt đầu từ 30 tháng hai. Ngày đầu hội là nghi thức cúng tế, ngày cuối hội rước Thánh Mẫu, ngoài ra còn có các trò vui chơi dân dã khúc. 30 tháng hai và mồng một tháng ba là ngày dành cho dân làng tế kỵ, từ ngày mồng ba trở đi là ngày quốc tế, ngày tế của các quan chức hàng tỉnh, hàng huyện. Xưa, quan tổng đốc hàng tỉnh vào làm chủ tế, rồi đến quan tri huyện cùng với chánh, phó tổng cũng vào chủ tế hàng huyện và hàng tổng. Nghi thức tế lễ cũng giống như nhiều cuộc khác, có các tuần dâng hương, dâng hoa, dâng rượu…
    Tiêu biểu nhất trong hội phủ Giầy là nghi lễ rước Thánh Mẫu từ phủ Chính lên chùa Gôi vào ngày mồng 6 và hội kéo chữ vào ngày mồng 7. Kiệu rước bát nhang Thánh Mẫu phần lớn do các bà, các cô đảm nhận, y phục rực rỡ, xúm xít dưới kiệu vàng, võng điều, cờ quạt, tán, lọng, phướn đủ màu rực rỡ tung bay trước gió lồng lộng vào tiết cuối xuân, đầu hè. Theo đoàn rước còn có đội nhã nhạc, bát âm. Các cô gái đồng trinh của đồng quê được cử vào khiêng long đình, rước võng, khiêng kiệu, che tán, che quạt, các bà trung niên thì cầm phướn, vác cờ, dẹp đường. Đoàn rước tiến bước giữa tiếng loa thét, rừng cờ phướn tung bay trong đoàn thiện nam tín nữ đi trẩy hội.

    Nghi thức rước Thánh Mẫu giữa phủ thờ và chùa không phải chỉ diễn ra ở phủ Giầy, nó phản ánh thực tế có sự giao kết giữa tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian và Phật giáo. Trong huyền thoại về Chúa Liễu, trận Sùng Sơn thể hiện sự xung đột giữa Chúa Liễu và triều đình phong kiến, sau đó phải cần tới sự cứu giúp và can thiệp của đức Phật. Tương truyền, chúa Liễu sau đó đã nhận mũ áo nhà Phật, noi theo Phật, chỉ làm việc thiện ban phát ân đức. Hiện nay, trong nhiều ngôi chùa thờ Phật Việt Nam đều có điện thờ Mẫu, theo kiểu tiền Phật hậu Mẫu. Sinh hoạt tín ngưỡng Mẫu trở thành một bộ phận của sinh hoạt nhà chùa.

    Ngày 7 tháng ba là ngày hội kéo chữ, nét độc đáo nhất của hội phủ Giầy. Theo lời kể của nhân dân địa phương thì sự tích hội kéo chữ như sau:
    Thời hậu Lê ở thôn Đông Khê, tổng Đồng Nội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định có một người kỹ nữ tài sắc tuyệt vời, đó là Phùng Thị Ngọc Đài. Sau khi lấy lẽ hết ông Quận Công Ngà, đến quận Công Hiển, Ngọc Đài trở về ở xã Bảo Ngũ, huyện Vụ Bản là nguyên quán của ông Quận Công Hiển. Năm 1623 vua Lê Thần Tông phong chức Thành Đông Vương cho chúa Trịnh Tráng, chúa ra lệnh mở tiệc ăn mừng, cho tuyển nhiều ả đào đẹp ở các địa phương tiến dẫn về Thăng Long để múa hát mua vui trong bữa tiệc.
    Ngọc Đài tuy đã góa chồng, nhưng nhan sắc xinh đẹp, kiều diễm, nên lần đó nàng cũng xin đi ứng tuyển. Trước khi lên đường, nàng đến phủ Giầy quì trước bàn thờ Thánh Mẫu và cầu khẩn: “nếu lần này đi mà được vua yêu, chúa dùng thì không bao giờ quên Mẫu, xin hứa làm cái gì để ghi nhớ Mẫu mãi mãi về sau”. Quả nhiên, lời cầu xin của Ngọc Đài được ứng nghiệm. Trong bữa tiệc, biết bao ca kỹ dung nhan tuyệt vời, giọng hát hay mà chúa Trịnh Tráng chỉ say đắm một mình Ngọc Đài. Sau bữa tiệc, nàng được vời vào dinh, được chúa sủng ái và phong cho chức Vương Phi. Thời kỳ Ngọc Đài làm Vương Phi trong phủ chúa thì cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn nổ ra dữ dội hơn, chúa Trịnh ra lệnh bắt phu về Thăng Long xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố, phòng chúa Nguyễn tấn công.
    Trong số phu bị bắt về Thăng Long, có những người quê ở Vụ Bản. Bà Vương Phi biết tin này nên tìm cách cứu giúp dân phu của quê hương bản quán mình, nên đã mật báo cho dân phu khi về tới Kinh chỉ mặc áo rách và ăn cháo cám mà thôi. Một hôm chúa và cung phi cùng đi thị sát dân phu, chúa thấy đám phu ngồi ăn cháo cám. Chúa hỏi mới biết là người Vụ Bản. Nhân lúc đó, Vương Phi tỏ ra buồn rầu, khiến chúa Trịnh vặn hỏi. Khi được biết dân phu đó chính là người cùng quê với Vương Phi, chúa Trịnh tức khắc ra lệnh miễn phu cho họ, cấp lương thực, quần áo về quê quán làm ăn, sinh sống. Hơn thế nữa, chúa còn cấp lương thực vải vóc cho toàn bộ dân làng Bảo Ngũ, làng Vương Phi đã ở trước khi vào cung. Ghi nhớ công đức đó, nay dân làng thờ Vương Phi là Thành Hoàng làng.
    Sau khi nhận được gia ân của chúa Trịnh, Vương Phi muốn làm điều gì đó để lại ghi nhớ sự phù trợ của Thánh Mẫu nên dặn dân làng phủ Giầy là cứ sau ngày rước Mẫu từ phủ Chính lên chùa Gôi, thì dân làng đem xẻng, cuốc, mai, thuổng đến trước phủ Giầy vứt ngổn ngang xuống đất, tỏ ý nhờ linh ứng của Thánh nên dân làng không phải chịu cảnh nhọc nhằn phu phen, rồi xếp người thành hai chữ “Cung tạ”.

    Từ đó về sau, năm nào cũng có tục kéo chữ. Trước kia, hàng năm cứ tới ngày này mỗi tổng trong huyện Vụ Bản góp 10 phu cờ tuổi từ 20 tới 35 tới dự hội. Cả huyện có mười tổng, gộp thành 100 phu cờ. Ngoài ra còn có một số tổng khác, như Mỹ Lộc, Bình Lục, nhưng văn nhớ tục cũ, cũng góp thêm người vào cuộc hội này. Phu cờ ăn mặc đồng phục, áo cánh vàng quần trắng, đầu đội khăn đen, có phủ dải lụa vòng ra ngoài, đi chân đất. Mỗi người còn vác một cây gậy dài bốn, năm thước, trên đầu gậy buộc một cái ngù bằng lông gà các đốt gậy đều dán vòng giấy mầu xanh, đỏ có tua. Chỉ huy toàn bộ những phu cờ là Tổng cờ.

    Đoàn phu cờ hẹn tập trung tại một địa điểm nào đó, rồi lần lượt theo chỉ huy của Tổng cờ đi hàng đôi tiến vào khoảng đất rộng trước Phương Du của phủ Chính. Khoảng trưa, có lệnh Tổng cờ cho phu cờ chuẩn bị đến giờ xếp chữ (ngả chữ). Giữa tiếng trống cái, trống con gõ liên hồi rộn rã, theo cờ lệnh trong tay Tổng cờ, các phu cờ tiến lùi đứng lên, ngồi xuống thành hình chữ. Khi ngồi xuống, các phu cờ vứt gậy xuống đất, như mô phỏng lại tục vứt cuốc xẻng xưa của dân phu trước đền Thánh Mẫu. Việc xếp chữ gì do những người tổ chức hội hàng năm qui định, nhưng thường là “Mẫu Nghi Thiên Hạ” (Đức mẹ của muôn dân), “Thiên hạ thái bình”, “Thạch cập sinh dân” (1938), “Vân hành vũ thi” (1939).

    Nói tới hội phủ Giầy ngày giỗ Thánh Mẫu không thể không nói tới hình thức hát văn và hầu đồng. Đây là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu. Xưa, trong những dịp này, trong và ngoài đền phủ Chính, phủ Vân Cát, người ta tổ chức hát văn chầu và cùng với nó là lên đồng. Đây là hình thức diễn xướng tổng hợp giữa âm nhạc, hát, thờ cúng, nhảy múa. Ban văn chuyên tấu nhạc và hát văn chầu theo làn điệu và bài bản riêng, sao cho phù hợp, ăn khớp với người lên đồng. Hát văn có làn điệu riêng, độc đáo, nhưng trong đó cũng thu hút nhiều hình thức dân ca khác, như ca trù, trống quân, quan họ, cải lương…
    Người lên đồng để cho hồn các thần linh của tín ngưỡng Tứ Phủ nhập vào thân xác mình, rồi làm các nghi lễ trước bàn thờ, ăn mặc, nhảy múa, phán truyền theo tư cách và địa vị của thần linh ấy. Đó là các vị thần thuộc hàng các Thánh Mẫu, Quan lớn, các Chầu, các ông Hoàng, các Cô, Cậu… Xưa kia, trong các ngày hội hình thức lên đồng bị lợi dụng, mang nặng tính mê tín, buôn thần, bán thánh, nên ngày nay bị chính quyền đia phương hạn chế nhiều.

    Trong những ngày hội, nhân dân còn tổ chức nhiều hình thức vui chơi khác như xem hát tuồng, hát chèo, trống quân, kể cả hát xẩm, ca trù, các hình thức thi đấu mang tính thượng võ, như vật, múa võ, kéo co, đánh cờ, chọi gà… Ngoài các nghi thức tế, rước sách, kéo chữ, xem biểu diễn… hội phủ Giầy còn là ngày hội Chợ. Nơi đây trong ngày hội, người ta bày bán các sản phẩm của địa phương, người đi xem thường là tiện dịp mua sắm thêm vài thứ vật dụng trong ngày hội. Hội không chỉ là sự thể hiện đời sống tâm linh, thưởng thức sinh hoạt văn hóa mà còn thúc đẩy hoạt động kinh tế, thương mại.

    Các mặt hàng bày bán thật đa dạng, phong phú, từ cái kim sợi chỉ, chiếc cần câu, lưới, vó, dậm, nơm để đánh bắt cá. Các loại giường, tủ, bàn, ghế sản phẩm của làng mộc La Xuyên kề cạnh, các loại giầy, dép, các loại đồ đan, áo tơi. Các mặt hàng sơn mài của phủ Giầy vốn có tiếng từ lâu, các loại gỗ khảm trai, các bức hoành phi, câu đối cũng được bán ngoài chợ trong ngày hội.

    Nói tới đi hội không thể không thưởng thức các món ăn, nhất là các món đặc sản địa phương mà ở phủ Giầy nổi tiếng là món thịt bò tái, tương gừng, rất hợp vị với tiết trời tháng ba. Vui hội như vậy, nên người nào đã trẩy hội phủ Giầy một lần là còn muốn đến nữa:

    Còn trời còn nước còn non
    Mồng năm rước Mẫu ta còn đi xem
    Ai về nhắn chị cùng em
    Bảo nhau dắt díu đi xem hội này./.


    Một hình ảnh lên đồng
    Lên Đồng - 1

    Lên Đồng - 2

    Lên Đồng - 3

    Ảnh Giá cô Bơ - Áo xanh :
    Lên Đồng - 4




     
  3. WILDHORSE TRAN Thành Viên Bạch Kim

    Bài đầu quá hay...
    Bài kế cũng cho biết thêm nhiều điều lạ. Cám ơn Đại Ca Trần Phương!
     
  4. chimcanhcut85 Thành Viên Chưa Kích Hoạt

    Bài hay.up cho bác trần phương nha.
     
  5. focus2r Thành Viên Cấp 5

    đang nói ch lên đồng cái chiển wa kể ch nhà ....
     
  6. search_item Thành Viên Cấp 4

    Thanks bác Tran_Phuong. Đọc 2 bài có thêm kiến thức hiểu biết về phong tục xưa.