BỬU SƠN KỲ HƯƠNG - THỚI SƠN TỰ ( Huyện: Tịnh Biên, Tỉnh: An Giang) được coi như là Tổ đình của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương[1]Giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương là một tôn giáo nhập thế, một tôn giáo yêu nước có ảnh hưởng lớn đến lịch sử chính trị và tôn giáo tại Nam Kỳ từ giữa thế kỷ 19. Hậu thân của giáo phái này là các giáo phái Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Tứ Ân Hiếu nghĩa. - Bửu Sơn Kỳ Hương được khai sáng năm 1849 bởi một người tục danh Đoàn Minh Huyên, sau này dân chúng tôn xưng là Ðức Phật Thầy Tây An. Miền Tây Nam Bộ lúc đó giữa thế kỷ 19 ở trong một hoàn cảnh chính trị-xã hội đặc biệt, thời kỳ chuyên chế kiểu nhà nước chưa được thiết lập vững chắc, vùng đất hoang dã mới được khai phá trong thời kỳ Nam tiến, dân cư từ khắp nơi đến, loạn lạc, chiến tranh biên giới tàn phá liên tục, mất mùa đói kém xảy ra, dịch bệnh chết chóc hoành hành năm 1849 - 1850 đã làm xáo động xã hội và nhân tâm... cả một vùng biên ải Tây Nam. Trong hoàn cảnh ấy, ông Đoàn Minh Huyên từ Tòng Sơn vào Tràm Dư, rồi đến vùng Kiến Thạnh (nay là làng Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang) trổ tài trị bệnh cho dân. Từ chỗ chữa trị bệnh có kết quả, ông dìu dắt được nhiều bệnh nhân và người thân của họ đến chỗ cải sửa tánh tình, biết điều nhân nghĩa, hiếu thảo với mẹ cha, kính thờ Trời Phật. Người tin theo ông ngày một đông, nên ngay vào năm 1849, ông sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương[2], rồi từ đó cho đến năm 1856, ông đến vùng đất phía tây Thất Sơn và Láng Linh, dựng chùa, lập trại ruộng và đi dạo khắp vùng miền này. Danh từ Bửu Sơn Kỳ Hương này được truyền ra là từ khi ông về ở Núi Sam. Cứ mỗi lần ông thâu nhận một người nào qui y thọ giáo thì ông có phát cho một cái lòng phái [3] có bốn chữ Bửu- Sơn Kỳ- Hương bằng son in trên giấy vàng. Ông có bài thơ rằng: BỬU ngọc quân minh thiên Việt nguyên SƠN trung sư mạng địa Nam tiền KỲ niên trạng tái tân phục quốc HƯƠNG xuất trình sanh tạo nghiệp yên. - Thời kỳ phổ hóa, hay là thời kỳ phát triển Đạo, có thể chia ra 3 thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất với các ông Phật Thầy Tây An và Phật Trùm. Thời kỳ thứ hai với Đức Bổn Sư và thời kỳ thứ ba với Sư Vãi Bán Khoai và Huỳnh Giáo Chủ. Đó là những ông Đạo mà tín đồ theo đạo tin là do Phật Thầy Tây An chuyển kiếp thêm bốn đời nữa để giáo hóa chúng sinh. Đức PHẬT THẦY TÂY AN - Đức Phật Thầy Tây An tên thật là Đoàn Minh Huyên, là người sáng lập ra giáp phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Sau này ông đi tu tại chùa Tây An cho đến khi qua đời năm 1856. Mặc dù mất sớm, nhưng Đoàn Minh Huyên đã làm được rất nhiều việc như: chữa bệnh miễn phí, khẩn hoang thành lập nhiều "trại ruộng"[4] và am tu hành, để có chỗ cho tín đồ hành đạo và tự tay làm lấy miếng ăn. Đạo phát triển rất nhanh tại Châu Đốc, Long Xuyên, ngoài ra còn được truyền giáo ở Cao Miên với bà Năm Chòm Dầu, ở vùng Sa Đéc, Vĩnh Long có ông Đạo Ngoạn, ở các tỉnh miền Đông thì có ông Đạo Xuyến... Đức CỐ QUẢN - Đức Cố Quản (1820 - 1873), tục danh là Trần Văn Thành. Ông trưởng thành vào lúc loạn lạc, khi quân Pháp đã chiếm sáu tỉnh Nam kỳ và phong trào kháng Pháp lan truyền khắp nơi. Vốn là chánh quản cơ trong quân ngũ, nên ông hưởng ứng phong trào Cần Vương kháng Pháp. Ông vận động đồng bào, tín đồ Bửu sơn Kỳ Hương cùng quân lính của mình, về Láng Linh - Bảy Thưa gấp rút xây dựng căn cứ, phất cờ khởi nghĩa lấy hiệu là Binh Gia Nghị. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại vì thiếu võ khí và chưa kịp xây dựng đồn lũy kiên cố. Đức PHẬT TRÙM - Đức Phật Trùm là người Việt gốc Khmer ít học, nói tiếng Việt không thạo; vậy mà vào năm 1866, sau những ngày lâm bệnh nặng đến hôn mê, ông bỗng dưng tỉnh táo và khỏe lại, tự nhận mình là hậu thân của Phật Thầy Tây An, là hồn Trùm của Phật (nên được tín đồ gọi tôn là Phật Trùm). Từ đó ông đi rao giảng đạo toàn bằng tiếng Việt và chữa bệnh cho đến năm năm Ất Hợi (1875) khi ông viên tịch. Thời kỳ này sau vụ khởi nghĩa của Đức Cố Quản, Pháp truy nã những tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương. Tóm lại, giáo phái từ khi Đức Phật Thầy Tây An khai sáng cho đến khi Đức Phật Trùm viên tịch, là ở vào giai đoạn thành lập xây đựng với nhiều chùa chiền và trại ruộng được lập khắp nơi. Đức BỔN SƯ - Đức Bổn Sư hay ông Năm Thiệp ((1831 -1890), tục danh là Ngô Lợi. Tương truyền từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành, Ngô Lợi cũng không có biểu hiện gì khác lạ. Cho đến năm 1851, lúc 20 tuổi, ông viết Bà La Ni Kinh dài 223 chữ Hán, mà sau này trở thành quyển kinh quan trọng của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Năm Đinh Mão (1867), bỗng nhiên ông bất tỉnh, và sau 7 ngày 7 đêm ông tỉnh lại, từ đó ông đi giảng đạo khắp nơi, đưa các tín đồ tới xã An Lộc (An Giang) dựng chùa năm 1872, và cũng mộ binh để kháng chiến chống Pháp. Sau khi ông mất, vì không còn ai kế vị nên mọi việc đều giao cho ông Trò, ông Gánh phụ trách. Do vậy, mỗi nơi hành đạo khác nhau, thậm chí có một số vị làm phù chú chữa bệnh rơi vào sự mê tín dị đoan làm sai lạc giáo lý ban đầu của đạo [5]. Ông SƯ VÃI BÁN KHOAI - Sau khi Đức Bổn Sư qua đời khoảng 11 năm thì ông Sư Vãi Bán khoai xuất hiện vào khoảng năm Tân sửu (1901) và năm Nhâm dần (1902) nghĩa là cũng còn trong thời kỳ quân Pháp đang thi hành chánh sách đàn áp gắt gao các tín đồ của giáo phái và ông đã tạo cho giáo phái mạnh tiến vào thời kỳ phổ biến. Vì tránh sự truy nã của Pháp, nên ông truyền giáo bằng phương pháp giả dạng thay hình, khi thì làm người bán khoai, khi thì làm kẻ bán củi, ông xưng khùng xưng điên, đi nơi này chốn nọ, nhứt là ở vùng Kinh Vĩnh Tế và Cao Miên, khuyến hóa dân sanh lo tu hành niệm Phật và để lại 1 quyển Sám giảng người đời gồm có 11 chương. Về sau, ông mất tích, cũng bí mật như lúc ông xuất hiện. Đức HUỲNH GIÁO CHỦ - Huỳnh giáo chủ, tục danh Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) là người sáng lập đạo Hòa Hảo, hay còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo. - “trần Điều" tại Thới Sơn tự Giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương chủ trương pháp môn Tu Nhân Học Phật giản lược bớt từ cách hành pháp của Phật Giáo. Tuy nhiên, Đức Phật Thầy Tây An thì chủ về vô vi, còn Đức Bổn Sư thì trọng về sắc tướng [6]. Ngoài việc tu thân theo đạo Nho để trở nên người quân tử, tín đồ còn được khuyến tu Tứ Ân Hiếu Nghĩa (tức là bốn ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại), đặc biệt biểu dương tinh thần Hiếu hạnh đối với Tổ tiên cha mẹ, và Nghĩa khí đối với quê hương đất nước. Tín đồ còn được hướng dẫn lo làm lành lánh dữ, sửa tâm sửa tánh, siêng năng niệm Phật. Có thể nói tóm lược, Pháp môn tu hành của đạo là một hình thức Thiền - Tịnh song tu và tùy duyên hóa độ theo : Trì niệm theo Thiền tông : Xử sự theo Nho giáo. Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo. Ấn quyết, thần chú theo Mật tông. - Bửu Sơn Kỳ Hương rút ra 3 điều quan trọng nhất của Phật giáo truyền thống là: Giới-Định-Tuệ. Giới là những phép tắc phải giữ đối với chính đạo, không cho phạm vào những lỗi lầm xấu và làm những điều ác vô minh. Định: lặng nghĩ, thiền tịnh để quên đi những lạc thú ở đời và diệt trừ ham muốn, tập trung tư tưởng để thấu đạt đạo lý. Tuệ là hiểu thấu vô thường và khổ não chi phối mình, bao nhiêu khổ đau được diệt trừ và thấy được Phật tính [8]. Về phương diện nghi thức thờ phượng, mỗi nhà, ngoài bàn thờ ông bà cha mẹ, còn có ngôi thờ Tam bảo, trên đó chỉ thờ đơn giản một tấm trần điều. Tín đồ không ăn chay, không gõ mõ tụng kinh, không xuống tóc cạo râu. Vật phẩm dâng cúng chỉ hương hoa và nước lã đơn sơ. Chỉ cần giảng và nghe giáo lý, chứ không cần ghi chép. Đơn giản hóa hình thức cúng tế và nghi thức tụng niệm. - Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như một số đạo giáo khác không phải là một tông phái của Phật giáo, tuy có phần nào dùng một số giáo lý Phật giáo. Có thể nói Bửu Sơn Kỳ Hương là một sự đơn giản hóa và bình dân hóa đạo Phật, đưa đạo Phật và các truyền thống dân tộc đi vào cuộc đời. Tín đồ chỉ cần niệm Phật và tu tại gia, mà không cần ly thân xuất gia và không cần gõ mõ, cạo râu tóc cũng như dùng những hình thức cúng tế cầu kỳ. Tứ ân cũng có thể xem là nét tinh túy của văn hóa Việt Nam vốn trọng đạo nghĩa và đã biết kế thừa tinh hoa trong truyền thống như lòng yêu nước, tình thương nhân loại, tính đoàn kết, đạo thờ cúng tổ tiên, lòng biết ơn anh hùng liệt sĩ, tính cần cù, yêu lao động [9]. Đây cũng là sự kế thừa có sáng tạo cho phù hợp với con người, thời đại và vùng đất đai tại đây. Giáo phái đã theo thuyết "vô vi" của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần và đã hòa vào cuộc đời sâu xa và cụ thể đến mức không còn phân biệt hình tướng, là tu sĩ hay cư sĩ, đã trở về với cội nguồn dân tộc, qua truyền thống yêu nước, qua trang phục, vốn là những chiếc áo bà ba màu đà, màu của ruộng đồng phù sa Nam Bộ, qua búi tóc, qua các hình thức thờ phụng gần gũi với tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc là thờ cúng tổ tiên. Tính thực tiễn của Đạo trong việc hành pháp thể hiện qua những hoạt động thực tiễn như sự tự lập những trại ruộng để tự túc trong vấn đề sinh sống và sự dung hòa các nhiều tôn giáo (Khổng, Phật, Lão) và truyền thống dân tộc. Qua lao động, vốn là nếp sống của dân tộc nhiều thế kỷ qua, ông Đoàn Minh Huyên đã tạo được một phong trào khai hoang rộng khắp. Ân đất nước là một trong bốn ân (tứ ân) mà các tín đồ được răn dạy để tuân thủ và đặc biệt chú trọng, cho nên tinh thần yêu nước cũng được phát triển. Do đó, khi Pháp xâm chiếm miền Nam, các tín đồ đã hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến chống Pháp. Bửu Sơn Kỳ Hương đã đề xướng những hoạt động mang lợi ích thiết thực cho đời sống lưu dân. Như vào năm 1851, Đoàn Minh Huyên chia các đệ tử thành nhiều đoàn đi khẩn hoang những miền đất hoang vu, lập nên những trại ruộng ở vùng Cần Lố (Đồng Tháp Mười) của ông Đạo Ngoạn; vùng Láng Linh của Quản cơ Trần Văn Thành; vùng núi Két (thuộc Thất Sơn) của ông Bùi Văn Thân (Bùi Thiền Sư), sau lập nên hai làng Hưng Thới, Xuân Sơn; vùng Cái Dầu của ông Nguyễn Văn Xuyến (Đạo Xuyến).... Nhờ đức tin, tín đồ đã bám trụ và khẩn hoang, biến những vùng đầm lầy, rừng rậm thành những vùng đất rộng lớn, màu mỡ. ( Bửu Sơn Kỳ Hương của Vương Kim , nhà xuất bản Long Hoa , Sài Gòn 1966 )
ĐẠO TỨ ÂN HIẾU NGHĨA Nơi thờ NGÔ LỢI trong chùa Tổ, tức chùa Tam Bửu, Ba Chúc.Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, còn có tên là Đạo Lành, gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa[1], do Ngô Lợi (thường được tín đồ gọi là Đức Bổn Sư) sáng lập vào năm 1867 tại Ba Chúc, huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang.[2]. Buổi đầu, đạo là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp, nhưng sau khi vua Hàm Nghi bị đày, Ngô Lợi mất, phong trào tan rã chỉ còn lại hoạt động tín ngưỡng.. GIỚI THIỆU : Hơn 140 năm hình thành và phát triển, đạo Hiếu Nghĩa đã qui tụ gần 80.000 tín đồ, sống rải rác ở nhiều tỉnh, thành thuộc Nam Bộ, nhưng nhiều nhất là ở huyện Tri Tôn. Đây là đạo thuần túy nội sinh, tín đồ đa phần là nông dân. Cũng như Phật Thầy Tây An (người sáng lập ra Bửu Sơn Kỳ Hương), Ngô Lợi chú trọng phát triển Phật giáo theo hình thức cư sĩ, nghĩa là tín đồ không cần “ly gia cắt ái” hay “đầu tròn áo vuông”, tín đồ mặc áo vạt hò, quần lá nem, bới tóc hoặc để xõa tự nhiên và tu đâu cũng được... Ít quan tâm đến giáo lý mà chú tâm nhiều việc thờ cúng và lấy Học Phật - Tu Nhân[3] làm nền tảng cho việc hành đạo. TÔN CHỈ . Tu Nhân: được thể hiện qua việc kính thờ và phụng sự tứ ân: Tứ đại trọng ân bao gồm: đất, nước, gió, lửa. Tứ trọng ân bao gồm: ân tổ tiên, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào, nhân loại. Ngoài việc kính thờ trên, người tín đồ còn phải hành xử việc Hiếu (hiếu thảo với ông bà tổ tiên) và việc Nghĩa (nghĩa vụ với đất nước, đồng bào và nhân loại). HỌC PHẬT: Là học những điều Phật giáo hóa chúng sanh, thành tâm phụng thờ và trì niệm Phật để cầu được giảm “tội, nghiệp”, được cứu độ và giải thoát. Ngô Lợi tức Đức Bổn sư dạy: Một lòng giữ vẹn tứ ân, Phụng thờ khuya sớm ân cần đừng sai. Gắng công niệm Phật hôm mai, Trì tâm thì đặng thiếc mài nên kim. hay: Việc làm cho Phật, phước nhiều Cũng như hoa lại mai chiều nở vun. (Sám giảng Ngũ giáo) ẢNH HƯỞNG : Ngoài đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Hiếu Nghĩa còn chịu ảnh hương các tôn giáo sau: PHẬT GIÁO : Về tâm linh, đạo Hiếu Nghĩa chịu ảnh hưởng của Lâm Tế tông và Thiên Thai tông. Đức Bổn sư viết: Phật dạy lý chân không Vì sợ người chấp có. Bằng người lại chấp không, Như chụp thỏ buông ó. Người chấp vô thường tướng, Phật nói hữu thường tâm. Chẳng dè phương tiện pháp. Ao xuân hiện lỗi lầm. Yếu lý này thể hiện nhiều trong kinh giảng cùa đạo Hiếu Nghĩa. Kinh Phật giáo được tín đồ đạo Hiếu Nghĩa trì tụng, đó là: Bát Dương kinh, Di Đà kinh, Kim Cang thọ mạng kinh, Phổ Môn kinh và Bổ khuyết Tâm kinh (được tín đồ đọc tụng thường xuyên). Đức Bổn Sư cũng cho phép, người ít hiểu biết chỉ cần tụng Linh Sơn hội thượng kinh cũng đủ. Ngoài ra, ông cũng khuyến khích tín đồ trì niệm chú, ấn pháp theo Mật Tông. Đàn, ấn, chú là pháp chư Phật Người làm theo sẽ được hộ trì. NHO GIÁO : Quan niệm Tu Nhân chịu ảnh hưởng rất nhiều của tư tưởng Khổng Mạnh. Chữ Tu ở đây hiểu theo nghĩa “ Mạng trời gọi là tính, nương theo tính trời gọi là đạo, sửa mình theo đạo gọi là giáo” (Thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo. Trung Dung). Vậy, Tu Nhân tức là sửa mình theo đạo làm người (nhân đạo), mà đạo làm người không hề xa với đạo trời... Trong sinh hoạt của tín đồ, có những việc có liên quan đến đạo Nho, như: Thờ cúng đất trời. Xây dựng chùa chiền, nhà cửa theo số vị vận hành của Kinh Dịch. Các lễ tế, hôn sự, tang ma theo thể thức của Nho giáo. Thập Nhị lệ sự tức 12 điều lệ mà tín đồ phải tuân theo, được mô phỏng từ khuôn mẫu của đạo Nho. ĐẠO LÃO : Tư tưởng Lão giáo cũng là tư tưởng chủ đạo trong giáo thuyết của đạo Hiếu Nghĩa. Người tín đồ phải nằm lòng những bài kinh sau: Tâm Ấn kinh, Động cổ kinh, Tam mao chơn kinh. ĐỘNG CỔ KINH. < dịch nghĩa > . Có động cũng xuất nơi không động. Hữu vi cũng xuất nơi vô vi. Vô vi thời thần về, thì muôn vật yên lặng. Bất động thì khí điều hòa. Khí yên lặng điều hòa, thì muôn vật không sanh. Tóm gọn, pháp môn tu hành của đạo hiếu Nghĩa là: Trì niệm theo Thiền tông Xử sự theo Nho giáo. Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo. HÀNH ĐẠO : Nơi thờ cúng trong nhà của một tín đồ đạo Hiếu Nghĩa tại Ba Chúc.Trong đạo chia làm 24 Gánh nội thôn và 15 Gánh ngoại thôn, chỉ có ông Gánh (tức trưởng Gánh) mới có quyền thu nhận tín đồ, nhưng không quá cách biệt giữa giáo phẩm (ông Trò, ông Gánh)[4] và giáo dân (tín đồ). Người tín đồ ngoài việc hành xử theo Tứ trọng ân và Thập nhị giáo điều (còn được gọi Thập Nhị lệ sự), còn phải lễ lạy và có hai thời (sáng từ 5 giờ đến 7 giờ sáng , và chiều từ 5 giờ đến 7 giờ tối) công phu (tụng kinh có chuông mõ. Kinh đọc được rút ra từ bộ kinh Siêu độ của đạo) và niệm pháp (lần chuỗi bồ đề). Trong nhà của tín đồ thờ nhiều thứ, như: trên cùng thờ Quan Thánh, bên dưới thờ Hội đồng gồm Phật, Thánh , Tiên. Dưới nữa thờ Thập Vương, bàn Hộ pháp Vi Đà. Bên trái thờ Cửu phẩm, bên phải thờ Tam giáo v.v... Trước cửa nhà tín đồ có bàn thờ thông thiên hai tầng, tầng trên thờ Chánh đức thiên La thần và tầng dưới thờ Thổ Trạch Long thần. Và trong nền đạo Hiếu Nghĩa, sự thờ cúng được coi là nguồn ân phúc thiêng liêng, giúp tín đồ tăng thêm lòng chánh tín, lấy hình thức chuyển vào nội tâm, đem nghi lễ hướng con người đến việc thực thi phúc lợi chân chánh. Cúng Phật: bằng hương, đăng, hoa , trà, quả, các món chay. Phẩm cúng có ý nghĩa nhất là ngọt (chè xôi nước) và dẽo (xôi nếp)... Cúng Thần: vật phẩm như cúng Phật, có thêm món cá, không được cúng các thức ăn từ thịt ngoài loài thủy tộc. Cúng giỗ người mất: vật phẩm như cúng Thần. Ngoài ra, tín đồ còn phải thường tham gia các lễ cúng chính ở chùa miếu, thành tâm cầu nguyện cho quốc thới dân an, cầu cho ông bà tổ tiên được siêu thăng tịnh độ v.v... NHẬN XÉT : Tuy cốt lõi trọng Tứ Ân, chuộng Vô vi (tôn chỉ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương), nhưng đạo Hiếu Nghĩa vẫn còn “ham chuộng hình thức: nhiều buổi làm chay, đến nghe thuyết pháp, lãnh bùa mà đeo[5], có chuông mõ, quì lạy quá nhiều, thờ Quan Công, có thêm ngôi Long Đình, dành cho người khuất mặt sắp xuất hiện (ám chỉ vua Hàm Nghi), cổ xuý ngày tận thế sắp cận kề, sắp đổi đời, ma quỷ đã hiện ra đầy đường và vẫn là núi Cấm sắp mở hội Long Hoa”.[6] Về mặt thờ phượng, đạo Hiếu Nghĩa theo mô hình “trước miễu, sau chùa”. Miễu thờ thần cựu trào, gồm bá quan văn võ. Riêng chùa Phi Lai ở núi Tượng là điện, thờ đấng tối cao là Ngọc Hoàng Huyền khung Cao thượng đế, tượng trưng với tấm vải đỏ, không hình tượng (gọi trần điều). Một bàn thấp hơn dánh cho “tứ đại thần châu”, tức bốn hòn đảo của cõi tiên. Đúng là tu tiên, đạo Lão...[6] Những điều đó cho thấy, hướng đi và việc làm của Ngô Lợi không thoát khỏi tư tưởng phong kiến và thần quyền, như câu ca dao còn truyền tụng ở vùng Núi Tượng: Ai về nhắn với áo dà, Sửa sang khăn áo đặng mà chầu vua. Nhưng khách quan mà xét, về mặt đạo, Ngô Lợi động viên được tín đồ cùng nhân dân phát huy tinh thần yêu nước. Về mặt đời, ông cùng với Khả và Ong khởi nghĩa ở Cai Lậy năm 1878, qui tụ được những người từng tham gia kháng Pháp, từ những phong trào như của Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân thiết lập được mối quan hệ với phong trào kháng Pháp của ông hoàng Si-Vatha ở các tỉnh phía Nam nước Campuchia và những người dân tộc Khmer vùng Bảy Núi (Thất Sơn). Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một đặc trưng của văn hóa Nam Bộ, trong quá trình hình thành và phát triển luôn gắn liền với quá trình di dân, khai hoang lập làng, xây dựng căn cứ kháng chiến, hoạt động theo đúng tôn chỉ mục đích “Học Phật tu thân”, “Tứ đại trọng ân”, “Hòa hợp đoàn kết dân tộc”, lấy công tác xã hội từ thiện làm mục tiêu hoạt động.[7] THAM KHẢO : Địa chí An Giang tập 2, UBND tỉnh An Giang ấn hành, 2007. Sơn Nam, Lịch sử An Giang, NXB Tổng hợp An Giang, 1988. Sơn Nam, Cá tính miền Nam, NXB Trẻ, 1997. Ban thư ký chùa Tam Bửu, Lịch sử Bửu Sơn Kỳ Hương, tài liệu phổ biến nội bộ. CHÚ THÍCH: ^ Do trong Tứ ân, người sáng lập đặc biệt đề cao ân tổ tiên, ân đất nước. ^ Theo Địa chí An Giang, tập 2, UBND ấn hành, năm 2007, tr.391. ^ Tín đồ thực hiện Tu Nhân trước rồi sau mới Học Phật. ^ Các đại đệ tử của Ngô Lợi, gọi là ông Trò, rồi từ các ông này truyền xuống nữa gọi là ông Gánh. ^ Ý nói đến Lòng phái là một mảnh giấy vàng ghi họ tên, năm vào đạo và một bài kinh một trăm chữ; bùa là mảnh vải ghi Tiên sanh thế độ và Tiên sanh Thái kiệt. ^ a b Theo Sơn Nam, Lịch sử An Giang, NXB Tổng hợp An Giang, 1988, tr.76,77, 82.
Đạo Hòa Hảo - Bàn thờ thờ Huỳnh Phú Sổ tại nhà của một tín đồ ở TP. Long Xuyên . Đạo Hòa Hảo, hay còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Số tín đồ Đạo Hòa Hảo ước tính khoảng 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ. Hiện nay, trong thư viện của hơn 30 quốc gia trên thế giới vẫn còn giữ những tài liệu sách báo về đạo Hòa Hảo. - Đạo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 1939 do Huỳnh Phú Sổ sáng lập. Huỳnh Phú Sổ, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1920 (tức 25/11 Kỷ Mùi), là con của Huỳnh Công Bộ, một con người điềm đạm trầm tính, ít nói, thường xa lánh chốn đông người ồn ã. Ông được cha cho học hết bậc sơ Pháp-Việt tại một trường ở huyện, có năng khiếu thơ, văn và thông minh, nhạy cảm. Nhưng do sức khỏe luôn đau ốm nên ông không tiếp tục học lên bậc cao hơn. Ông phải lên núi Cấm tìm thầy chữa bệnh và tại đây ông đã tu theo phái Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật thầy Đoàn Minh Huyên (1807-1856) làm giáo chủ. - Huỳnh Phú Sổ tự nhận mình là bậc "sinh như tri", biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để "Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc". Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc đã học và chính những lúc đi chữa bệnh đó ông đã kết hợp rao giảng về Tứ ân hiếu nghĩa của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên qua những bài sấm kệ do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng. Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4/7/1939) được ông chọn làm ngày khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: đạo Hòa Hảo hay Phật giáo Hòa Hảo. Ông đã được các tín đồ suy tôn làm giáo chủ Hòa Hảo. - Huỳnh Phú Sổ được xưng tụng là Phật thầy mượn thân xác mình để cứu độ chúng sinh. Ông làm nhiều bài ca dao, thơ ca, nói thiên cơ, sau được tập hợp lại thành bài giảng "Giác mê tâm kệ" có phần gần gũi tư tưởng thần bí, tín ngưỡng dân gian nên trong hoàn cảnh đời sống nhân dân Nam Bộ đầu những năm 40 thế kỷ 20 dễ đi vào lòng người, được quần chúng tin theo. Muốn trở thành tín đồ Hòa Hảo phải tuyên thệ: "Một đời, một đạo đến ngày chung thân". - Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, xưa thuộc làng Hòa Hảo, nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.Sang năm 1941, đạo Hòa Hảo tiếp tục gia tăng số lượng tín đồ của mình một cách nhanh chóng. Khi Nhật vào Đông Dương, Pháp lo ngại Nhật tranh thủ giáo phái Hòa Hảo nên đã câu thúc Huỳnh Phú Sổ ở Châu Đốc, Bạc Liêu, Cần Thơ. Năm 1942, Nhật vận động được giáo chủ Hòa Hảo về Sài Gòn. Tại đây ông đã vận động được nhiều nhân vật hoạt động chính trị thân Nhật vào đạo Hòa Hảo để gây thanh thế, đồng thời thời gian này nhiều thanh niên theo đạo Hòa Hảo cũng tham gia các tổ chức của Nhật. - Năm 1946, Huỳnh Phú Sổ cùng với những người lãnh đạo Hòa Hảo thành lập tổ chức Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng gọi tắt là "Đảng Dân xã" vào Tháng Chính năm 1946 bao gồm lực lượng nòng cốt trong Hòa Hảo và tổ chức Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng. Đảng Dân xã có điều lệ và chương trình hành động, cơ cấu tổ chức riêng, có vai trò như một tổ chức chính trị. Từ đó Hòa Hảo vừa có đạo vừa có đảng mang hình thức gần với một tổ chức chính trị. Khối Hòa Hảo còn tổ chức lại lực lượng vũ trang vào Tháng Sáu năm 1946 mang tên "Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực". - Năm 1947, Huỳnh Phú Sổ mất tích, các bộ phận lực lượng tìm cách ảnh hưởng những phần tử quá khích trong đạo Hòa Hảo theo hoặc chống lại Việt Minh, gây ra những vụ thanh toán và tranh giành ảnh hưởng đẫm máu. Nội bộ Hòa Hảo có sự chia rẽ thành các nhóm khác nhau, cát cứ ở các vùng thuộc Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ. - Năm 1964 đạo Hòa Hảo có sự củng cố lại về tổ chức, xây dựng mở mang các cơ sở tôn giáo, văn hóa, xã hội. Hệ thống Ban trị sự được kiện toàn từ trung ương đến cơ sở (hình thành cơ cấu tổ chức 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã). Đảng Dân xã cũng được củng cố để hỗ trợ cho đạo, đồng thời cơ quan lãnh đạo Hòa Hảo có sự phân đôi thành 2 ban trị sự trung ương: phái cũ do Lương Trọng Tường, phái mới do Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu. - Năm 1972 Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung ương mới. Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến thống nhất đất nước. Sau đó, Hòa Hảo thành lập thêm Tổng đoàn bảo an, lập Viện đại học Hòa Hảo. - Đến nay, Hòa Hảo vẫn phát triển chú yếu trong vùng tứ giác Long Xuyên. Số lượng tín đồ khoảng 2 triệu người. - Sấm giảng đạo Phật giáo Hòa Hảo.Giáo lý Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ biên soạn, bao gồm 6 tập: Sấm khuyên người đi tu niệm Kệ của người Khùng Sấm giảng Giác mê tâm kệ Khuyến thiện Những điều sơ học cần thiết của kẻ tu hiền - Có thể nhận thấy giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần "Học Phật" và phần "Tu nhân": - Phần "Học Phật": chủ yếu dựa vào giáo lý đạo Phật song được giản lược nhiều và có thêm bớt đôi chút. Tinh thần chính là khuyên tín đồ ăn ngay ở hiền. - Phần "Tu nhân": theo giáo lý Hòa Hảo tu nhân có nghĩa là tu "tứ ân hiếu nghĩa"- đó là 4 điều Đoàn Minh Huyên, đã chỉ ra, bao gồm Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân đồng bào nhân loại, Ân tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). - Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên công đức. Có công đức để trở thành bậc hiền nhân. Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người: Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên (Không có tu nhân thì không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa); Dụng tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo; Nhân đạo bất tu, Tiên tu viễn ký (Muốn tu thành Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật còn xa vời). - Đạo Hoà Hảo chủ trương tu tại gia hơn là đi lễ chùa. Họ chủ trương giúp đỡ người nghèo hơn là cúng tiền xây chùa hay tổ chức lễ hội tốn kém. Những buổi lễ được tổ chức rất đơn giản và khiêm tốn, không có ăn uống, hội hè. Lễ lộc, cưới hỏi hay ma chay không cầu kỳ như thường thấy ở những tôn giáo khác. Họ cho đó là những sự phung phí thay vì dùng tiền đó dể giúp đỡ những người thực sự cần đến. - Đạo Hòa Hảo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời. Không có nơi thờ công cộng, trung tâm của đạo ở làng Hòa Hảo gọi là tổ đình cũng chỉ mang tính gia tộc. Đạo này không xây dựng chùa chiền, không có tượng ảnh thờ. Vật thờ của đạo Hòa Hảo là miếng vải đỏ (trần điều) trên bàn thờ (còn gọi là trang thờ) đặt ở gian chính giữa và xây một bàn thông thiên ở sân trước của nhà. Việc thờ phụng này thể hiện tư tưởng của Phật giáo: "Phật tại tâm, tâm tức Phật". Đạo Hòa Hảo thờ Phật, ông bà tổ tiên và các anh hùng tiên liệt có công với đất nước, không thờ các thần thánh nếu không rõ nguyên nhân. - Lễ vật khi thờ phúng cũng rất đơn giản chỉ có hoa và nước lạnh (nước mưa, nước lọc tinh khiết). Ban đêm đốt đèn ở bàn thờ trong nhà và bàn thờ thông thiên. Khi thờ tín đồ chỉ đọc sấm giảng do thầy Huỳnh Phú Sổ soạn và niệm lục tự Nam-mô-a-di-đà-Phật với mục đích tĩnh tâm. - Ngoài ra đạo Hòa Hảo còn có một số quy định về tôn giáo và quan hệ gia đình, xã hội. Ví dụ người nhập môn phải tuyên thệ trước Tam Bảo, nam tín đồ phải để vấn tóc (búi) để giữ hiếu nghĩa với ông bà tổ tiên, tín đồ phải thực hiện ăn chay từ thấp đến cao (6 đến 10 ngày trong 1 tháng hoặc trường chay như đạo Cao Đài, những ngày ăn chay mặn phải kiêng ăn thịt 12 con giáp, ngày tín đồ phải 2 lần cầu nguyện và khấn lạy trước bàn thờ (sáng, tối). Lời khấn nguyện khi cúng lễ của tín đồ Hòa Hảo là câu Nam mô nhất nguyện, Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng, Liên hoa hải hội, thượng Phật từ bi, Phật vương độ chúng, thế giới bình an. - Trong một năm, theo âm lịch đạo Hào Hảo có các ngày lễ, Tết chính : Ngày 1 tháng Giêng: Tết Nguyên Đán Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ thượng nguyên Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản Ngày 18 tháng 5: Lễ khai đạo Ngày Rằm tháng 7: Lễ trung nguyên Ngày 12 tháng 8: Vía Phật thày Tây An Ngày Rằm tháng 10: Lễ hạ nguyên Ngày Rằm tháng 11: Lễ Phật A-di-đà Ngày 25 tháng 11: Lễ sinh nhật giáo chủ Huỳnh Phú Sổ Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo
ĐẠO CAO ĐÀI Đạo Cao Đài là một tôn giáo độc thần, tương đối mới, có tính dung hợp, được chính thức thành lập ở Việt Nam, vào năm 1926. Đạo Cao Đài là tên ngắn gọn, tên đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Danh từ "Cao Đài" theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao". Theo nghĩa bóng, được hiểu là nơi cao nhất ở đó Thượng Đế ngự trị; cũng là tên viết tắt dành cho Thượng Đế, người sáng lập ra toàn vũ trụ, có danh xưng đầy đủ là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát". Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng Đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ này. Họ tin rằng tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được "Đức Cao Đài" trực tiếp chỉ định. Ngay cả việc xây dựng Toà Thánh Tây Ninh cũng chính là có sự dẫn dắt của "Đấng Thiêng Liêng". Những đệ tử đầu tiên của Cao Đài như Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, và Cao Hoài Sang đã xác nhận rằng họ đã nhận được sự "Thông Công" (liên lạc) trực tiếp từ Thượng Đế, người đã ban cho họ những chỉ dẫn cụ thể để thành lập một tôn giáo mới, khởi đầu cho Kỳ Phổ Độ Thứ Ba. Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sanh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng Đế nơi Thiên Giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi. Các ước lượng về số tín đồ Cao Đài có khác nhau, nhưng đa số các nguồn cho rằng con số đó là hai đến ba triệu (tư liệu vào khoảng năm 2000 - 2003). Khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc. Đạo Cao Đài được khai sinh bởi Đức Chí Tôn thông qua Cơ Bút và giảng truyền Chân Đạo cũng qua Cơ Bút. Cơ Bút là một nền tảng căn bản của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Qua Cơ Bút, luật pháp Đạo được ban hành. Tòa Thánh, Thánh Thất, Thánh Tịnh được thành hình; những kinh điển, nghi thức cúng kiến được phân lập, và những áng thi văn dạy Đạo được lưu truyền qua nhiều thế hệ, từ Đông sang Tây từ Âu sang Á cũng đều qua Cơ Bút. Ba nhân vật trọng yếu đã góp phần cho sự ra đời của đạo Cao Đài là: Ngô Văn Chiêu (có tài liệu ghi là Ngô Minh Chiêu - là tên Pháp Danh) sinh năm 1878 tại Bình Tây, Chợ Lớn. Lê Văn Trung sinh năm 1876 tại Chợ Lớn, là người lãnh nhiệm vụ lãnh đạo Cao Đài thay ông Ngô Minh Chiêu. Phạm Công Tắc sinh năm 1890 tại Tân An trở thành lãnh đạo hữu hình tối cao của đạo Cao Đài sau khi ông Lê Văn Trung mất năm 1934. Đạo Cao Đài chính thức ra đời vào đêm Giáng sinh năm 1925. Theo sử ký của đạo Cao Đài thì đêm đó Cao Đài Tiên Ông xuất hiện trong một buổi cầu tiên bình thường như các buổi cầu tiên khác. Ông nói rõ tánh danh là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" và chọn 12 tông đồ đầu tiên để lập ra đạo Cao Đài. Tên 12 người đó được ghi trong một bài thơ như sau: Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh Bản đạo khai Sang Quý Giảng thành Hậu Đức Tắc Cư thiên địa cảnh Hườn, Minh, Mân đáo thủ đài danh. Họ tên đầy đủ của 12 tông đồ đầu tiên của đạo Cao Đài là: Ngô Văn Chiêu Vương Quang Kỳ Lê Văn Trung Nguyễn Văn Hoài Đoàn Văn Bản Cao Hoài Sang Nguyễn Văn Quý Lê Văn Giảng Nguyễn Trung Hậu Trương Hữu Đức Phạm Công Tắc Cao Quỳnh Cư Và 3 đồng tử phò cơ là Hườn, Minh, Mân. Đạo Cao Đài phát triển rất nhanh lên đến hàng chục vạn người. Tuy nhiên, phải mất gần 1 năm sau, khi Tờ Khai Tịch Đạo với 247 chữ ký của người Đạo (vốn có địa vị ngoài đời) gửi lên thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Le Fol thì đạo Cao Đài mới bắt đầu hoạt động như là một tôn giáo. Ngay sau khi gởi văn bản nói trên cho thống đốc Le Fol, những người môn đệ đầu tiên của Đạo Cao Đài đã tổ chức lễ ra mắt rất long trọng tại chùa Gò Kén còn có tên là Từ Lâm Tự, Tây Ninh với sự hiện diện của quan chức chính quyền của cả người Pháp lẫn người Việt. Đó là ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (1926). Triết lý đạo Cao Đài xem các tôn giáo đều có chung một nguồn gốc từ Đức Cha Trời và đều nhằm mục đích hướng thiện con người. Khi loài người đều có chung quan niệm này thì sẽ tạo nên "thế giới đại đồng " và hòa bình sẽ đến với toàn nhân loại. Lý tưởng này được thể hiện qua bài Thánh thi sau: Chẳng quản đồng tông mới một nhà, Cùng nhau một Đạo tức một Cha Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi Dạy lẫn cho nhau đặng chữ Hòa. Hoặc: Từ đây nòi giống chẳng chia ba, Thầy hiệp các con lại một nhà. Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc, Chủ quyền chơn đạo một mình ta. Quan niệm về nguồn gốc của Thượng Đế và vũ trụ : Nghi lễ Cao Đài : Theo đạo Cao Đài, trước khi Thượng Đế tồn tại, đã có Đạo. Đó là Đạo, Đạo vĩnh cữu, không hình dáng, không có tên gọi, không thay đổi; như được đề cập tới trong Đạo Đức Kinh. Đến một thời điểm nhất định, hiện tượng Big Bang đã xảy ra, chính từ đây Thượng Đế đã xuất hiện. Vũ trụ lúc này còn là 1 mớ hỗn độn, và để tạo nên sự cân bằng, hài hòa, đa dạng, Thượng Đế đã tạo ra Âm Dương. Thượng Đế cai quản Dương và phân thân tạo ra "Diêu Trì Kim Mẫu" để cai quản Âm. Nhờ có Âm Dương, vũ trụ đã được định hình. "Thánh Mẫu" là mẹ của hằng hà sa số sinh linh, sự vật trong vũ trụ. Do đó, tín đồ Cao Đài không chỉ thờ phụng Thượng Đế, (còn được gọi là "Thầy") mà còn thờ "Diêu Trì Kim Mẫu" (còn được gọi với nhiều danh hiệu khác nhau như Cửu Thiên Huyền Nữ, Tây Vương Mẫu, Thiên Hậu, Đức Mẹ Muôn Loài, ...). Theo Đạo Cao Đài, có 36 tầng trời và Tứ Đại Bộ Châu nơi đây thuộc về vô hình, 3000 thế giới và 72 hành tinh thuộc về hữu hình, có sự sống bậc cao, trong đó hành tinh số 1 là phát triển nhất và hành tinh thứ 72 kém phát triển nhất. Trái Đất là hành tinh số 68. Vì Thượng Đế là những gì trọn lành nhất, toàn thiện, toàn mỹ nên Người cũng không có hình dạng nhất định. Bởi Người chính là cả vũ trụ này, là chúng ta, là chim muông cầm thú, là cỏ cây sắt đá... Cho nên Đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn là thờ Chí Tôn, nghĩa là thờ cái gốc của vạn loại. Trong thể pháp thì Thiên Nhãn là mắt bên trái biểu tượng cho phần dương. Thờ Thiên Nhãn thể hiện Chí Linh hiệp cùng Vạn Linh. Ý nghĩa Thiên Nhãn trong thiên thượng và thiên hạ. Thiên Thượng: Thiên Nhãn là Trời, là Ngôi Thái Cực trong dịch lý. Trời là Đấng đầy đủ quyền hành chí linh mà tạo thành càn khôn thế giới. Cái không trung trên đầu ta là Trời. Đứng cầm quyền trên ấy là Đấng tạo hoá là Ngọc Hoàng Thượng đế là chúa tể cả càn khôn thế giới. Thiên Hạ: Thiên nhãn là trí thức của loài người; là hình trạng lương tâm của toàn nhân loại. Kiến thức là căn bổn của trí thức tinh thần. Muốn kiến thì nhờ nhãn, muốn thức thì nhờ trí. Người tín đồ Cao Đài Thờ Thiên Nhãn tại tư gia thể hiện ý nghĩa: Là phương nhắc nhỡ cho người đạo biết tùng thiên lý. Thiên nhãn như con mắt của Trời soi xét mọi ý nghĩ và hành vi của con người. Con người được nhắc nhỡ làm điều hay và bớt đi điều không tốt. Thể hiện sự bình đẳng: Mọi tín đồ đều có quyền thờ phụng và cúng đếu như nhau. Gặp khi cơ Đạo trắc trở "Toà Thánh hay Thánh Thất của Đạo bị chiếm" người tín đồ vẫn có thể cúng kiến tại nhà mình với đầy đủ nghi lễ không phải chịu sự khống chế của một thế lực nào. Đức Chí Tôn dạy vì sao thờ Thiên Thãn vào năm 1926: ... Chưa phải hồi các con biết tại sao vẽ Thánh-Tượng "Con Mắt" mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh. Nhãn thị chủ tâm. Lưỡng quang Chủ Tể. Quang thị Thần. Thần thị Thiên. Thiên giả, Ngã giả. Thần là khiếm khuyết của cơ mầu-nhiệm từ ngày Đạo bị bế. Lập "Tam-kỳ Phổ-độ" này duy Thầy cho Thần hiệp Tinh-khí đặng đủ "Tam Bửu" là cơ mầu-nhiệm siêu phàm nhập Thánh. Các con nhớ nói vì cớ nào thờ con mắt thầy cho chư Đạo Hữu nghe. Theo giáo lý Cao Đài thì từ thời tạo thiên lập địa tới nay có 3 lần Thượng đế phân thân giáng trần lập Đạo: Nhứt kỳ Phổ Độ : Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ tương ứng thời vua Hiên Viên Huỳnh Đế bên Tàu. Đức Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên giáo ở Trung Hoa. Vua Phục Hy khởi đầu Nho giáo ở Trung Hoa. Thánh Moise mở Do Thái giáo ở nước Do Thái. Nhị kỳ Phổ Độ : Đức Phật Thích Ca giáng sinh ở Ấn Độ, chấn hưng Phật giáo thời Nhứt Kỳ Phổ Độ, mở ra Thích giáo với một giáo lý rất phong phú, thiết thực để giải khổ nhân sinh. Đức Thái Thượng Đạo Tổ giáng sinh ở Trung Hoa là Lão Tử, mở ra Lão giáo hay Đạo giáo để chấn hưng Tiên giáo. Đức Khổng Tử giáng sinh ở Trung Hoa, mở ra Khổng giáo để chấn hưng Nho giáo. Đức Chúa Jesus Christ giáng sinh ở nước Do Thái, mở ra Thiên Chúa giáo để chấn hưng Thánh Giáo. Tam Kỳ Phổ Độ : Thời kỳ này Đức Chí-Tôn không giao chính giáo cho tay phàm nữa mà chính mình Thầy giáng trần lập đạo bằng huyền cơ diệu bút. Trong thời kỳ này còn có: Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (Thích giáo). Đức Lý Thái Bạch (Đạo giáo, đồng thời cũng giữ luôn phẩm Giáo tông nhưng thuộc về vô vi, còn Ngài Thượng Trung Nhựt tức Lê Văn Trung giữ phẩm vị Quyền Giáo Tông phần hữu hình) Đức Quan Thánh Đế Quân (Nho giáo). Là Tam trấn oai nghiêm, thay mặt cho Tam Giáo trong việc hành chính đạo. Ba vị này không giáng sinh như trước, chỉ dùng cơ bút giáo đạo. Bên trong Tòa Thánh Tây Ninh Về hình thể, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có 3 đài: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài. Bát Quái Đài : Bát Quái Đài là nơi thờ phượng Đức Chí Tôn và Thần, Thánh, Tiên, Phật. Đức Chí Tôn là Đấng tự hữu và hằng hữu đã tạo lập ra càn khôn vũ trụ. Thần, Thánh, Tiên, Phật là các đấng có công giáo hóa nhơn loại xây dựng xã hội bác ái, công bằng. Tại Bát Quái Đài có trình chánh Bát Quái Đồ Thiên. Đây là dấu ấn của Tam Kỳ Phổ Độ đối chứng với Bát Quái Tiên Thiên (Nhứt Kỳ Phổ Độ) và Bát Quái Hậu Thiên (Nhị Kỳ Phổ Độ). Bát Quái Đài là hồn của Đạo. Đức Chí Tôn vi chủ. Mọi giáo pháp của Đại Đạo do nơi Bát Quái Đài xuất phát. Hiệp Thiên Đài : Hiệp Thiên Đài là nơi hội hiệp của con người (hữu hình) với Đức Chí Tôn hay Thần, Thánh, Tiên, Phật (vô hình) qua cơ bút, do Đức Chí Tôn làm chủ quản, Hộ Pháp làm chưởng quản. Hiệp Thiên Đài có 2 sở dụng: Thiêng liêng quan hệ đến cơ bút; và Phàm trần giử nhiệm vụ tư pháp và lập pháp trong tôn giáo. Cửu Trùng Đài: Cửu Trùng Đài là phần xác của Đạo, có 2 phần: vô vi (do thiêng liêng nắm) và hữu hình ( do tín đồ công cử hoặc Đức Chí Tôn ban thưởng). Về phần hữu hình, Cửu Trùng Đài có 2 nhiệm vụ hành pháp và lập pháp, là chánh trị của Đạo ( giáo hóa). Khi xưng hô với nhau, tín đồ Cao Đài sử dụng các từ "huynh', "đệ", "tỷ", "muội" (tức là anh chị em một nhà), tuỳ theo Thiên chức (giáo phẩm), tuổi tác, giới tính. Khi kính cẩn, họ còn thêm "Hiền" phía trước những đại từ nhân xưng trên ("hiền huynh", "hiền tỷ"...). Một cơ sở tôn giáo Cao Đài được gọi là "Thánh Thất" hoặc "Thánh Tịnh". Mỗi cơ sở đều có chương trình truyền bá giáo lý. Một tín đồ Cao Đài nếu thường tham gia các hoạt động của đạo và có năng lực thích hợp sẽ được giữ chức vụ tương ứng như thủ quỹ, thư ký v.v. Nếu tình nguyện dành trọn cuộc đời cho đạo thì sẽ bước vào hàng chức việc hay chức sắc. Lúc đó sẽ được đề cử vào các phẩm vị như Phó Trị Sự, Chánh Trị Sự, Lễ Sanh v.v. Đạo Cao Đài nhấn mạnh sự bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội. Tuy nhiên, trong phạm vi tôn giáo, nữ giới không được phép bước lên ngôi vị Chưởng Pháp, Giáo Tông. Toà Thánh khẳng định rằng đây là lệnh của Thượng Đế, người đã tuyên bố rằng nam tượng trưng Dương, nữ tượng trưng Âm. Nếu Âm thịnh Dương suy, nều Đạo sẽ đi vào sự hủy diệt. Việc không cho nữ phái lên các phẩm Chưởng Pháp, Giáo Tông cũng có những lý do vì Thượng Đế yêu thương nữ phái, không muốn phận nữ nhi phải chịu nhiều đau khổ. Bởi lẽ lên phẩm vị càng cao, trách nhiệm công việc càng lớn, đó là 1 gánh nặng vô cùng mệt mỏi mà nữ phái thì làm việc theo xu hướng tình cảm cho nên nếu gánh trách nhiệm nặng nề thì lại dễ dẫn đến những việc không hay có thể xảy ra trong quá trình hành chánh Đạo. Còn nam giới, làm việc vốn xu hướng theo lý trí nên khi đối mặt những khó khăn sẽ có thể bình tâm, tỉnh trí để xử lý những việc trọng đại sao cho công tâm nhất. Như các tôn giáo khác, Đạo Cao Đài cũng không tránh khỏi tình trạng phân chia chi phái. Một số chi phái Cao Đài đã tách ly ra khỏi Toà Thánh Tây Ninh, tính đến khoảng năm 1930 gồm có 12 chi phái lớn như: Chiếu Minh, Cao Đài Ban chỉnh Đạo (Bến Tre), Tiên Thiên (Bến Tre), Minh Chơn Đạo (Hậu Giang), Minh Chơn Lý (Tiền Giang)... Sau này có thêm nhiều chi phái nhỏ khác. Ông Ngô Văn Chiêu là đệ tử (tín đồ) đầu tiên của Đạo, đã lập ra phái Chiếu Minh khi ông ta rời bỏ cấu trúc tôn giáo nguyên thuỷ, chấp nhận từ chối ngôi vị Giáo Tông đầu tiên của đạo này mà tu theo lối hành thiền. Ông ta không liên quan đến việc thành lập tôn giáo Cao Đài chính thức vào năm 1926 cũng như không liên quan đến việc xây dựng Toà Thánh Tây Ninh. Riêng phái Tiên Thiên do ông Nguyễn Bửu Tài lãnh đạo đã xin trở về với Hội Thánh Tây Ninh ngày 29-6-1949 và đã được Hội Thánh chấp thuận. Nhưng sau đó, khi ông trở về phái Tiên Thiên, thiết lập 1 đàn cơ thì được cơ phong cho phẩm Giáo Tông (cơ bút giả dạng của thế lực tà quái), vì thế mà phái Tiên Thiên vẫn chưa hội nhập về với gốc là Tòa Thánh Tây Ninh. Tín đồ đạo Cao Đài hàng ngày quỳ cúng (hoặc tịnh - ngồi thiền) 4 lần vào các giờ Tý (nửa đêm), Ngọ (giữa trưa), Mẹo (từ 5 đến 7 giờ), Dậu (từ 17 đến 19 giờ). Lễ phẩm gồm có: bông hoa (Tinh), rượu (Khí), và trà (Thần). Theo kinh: Thiên Đạo và Thế Đạo <Ngọc Hoàng kinh>. Tiểu tự tân luật <ban hành ngày 01/06/1927. Diễn văn ngày 15/07 Nhâm Thân <1932> của Phạm Hộ Pháp đọc tại Tòa Thánh Tây Ninh. Diễn văn Phạm Hộ Pháp đọc tại Tòa Thánh 15/08 Quý Dậu <1933>. Thuyết đạo của Đức Phạm Hộ Pháp ngày 26/06 Mậu Dần <1938>. Thánh ngôn hiệp tuyển, quyển 1, 1973.
ĐẠO DỪA Đạo Dừa là một tín ngưỡng tại miền Nam Việt Nam, còn gọi là Đạo Vừa (vừa phải, trung dung) hoặc Hòa đồng Tôn giáo. Và cũng là tên gọi cho người sáng lập, thường được gọi là Ông Đạo Dừa, tên thật là Nguyễn Thành Nam (1909-1990), là người sáng lập Đạo Dừa ở Bến Tre, Việt Nam. Ông Đạo Dừa sinh năm 1909 tại xã Phước Thịnh, tổng An Hòa, huyện Trúc Giang, tỉnh Kiến Hòa (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre). Ông là con của một gia đình giàu có. Cha tên Nguyễn Thành Trúc, làm chánh tổng từ năm 1940 đến năm 1944 và mẹ là bà Lê Thi Sen. Năm 1928, ông sang Pháp du học tại Rouen. Năm 1935, ông tốt nghiệp kỹ sư hóa học và về nước. Năm 1935, ông cưới bà Lộ Thị Nga và sinh ra một người con gái tên là Nguyễn Thị Khiêm. Năm 1945, ông đến chùa An Sơn ở Bảy Núi, Châu Đốc, quy y cầu đạo với hòa thượng Thích Hồng Tôi. Tu theo luật đầu đà, ông ngồi tại bệ đá trước cột phướn chùa suốt 3 năm, đêm ngày tịnh khẩu, chịu đựng gió sương, thân hình chỉ còn da bọc xương. Năm 1948, ông trở về Định Tường (nay là Tiền Giang) ngồi tựa mé sông trên cầu Bắc, hành đạo mặc kẻ qua người lại. Năm 1950, ông trở lại xã Phước Thạnh dựng đài bát quái cao 14 thước, đêm đêm lên ngồi hành đạo trên đài, choàng một manh áo, chịu đựng mưa nắng. Cuộc sống tu hành đơn sơ, đạm bạc, thức ăn chỉ là trái cây, chủ yếu là dừa (nên mới có biệt danh là Ông Đạo Dừa). Mỗi năm ông chỉ tắm một lần vào ngày Phật Đản. Năm 1958, ông gửi thư phản đối Tổng thống Ngô Đình Diệm về một chính sách nào đó, nên bị bắt giam, sau được thả ra... Năm 1963, ông Nguyễn Thành Nam đến Cồn Phụng thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xây dựng chùa Nam Quốc Phật'', và tại đây ông lập ra đạo Dừa. Ông đặt mua một xà lan lớn có sức chứa hàng trăm tấn, thiết kế làm ba tầng đưa về neo đậu bên một khu đất, trên đó xây dựng một số tháp, đài, nhà khách, vườn hoa... Ông tự xưng là Thiên nhơn giáo chủ Thích Hòa Bình, tuyên bố theo cả ba tôn giáo là Nho, Phật, Lão. Đạo của ông không cần tụng kinh, gõ mõ mà chỉ cần ngồi tham thiền và ăn chay, tưởng niệm... và khuyến khích người đời sống tôn trọng lễ nghĩa và yêu thương nhau, cư xử hòa mục với nhau. Về thực phẩm, Đạo Dừa khuyên nên ăn dừa và uống nước dừa. Ông thử nghiệm hòa đồng dân tộc bằng cách nuôi chuột và mèo sống chung với nhau trong một lồng. Qua hình ảnh này ông chứng-minh là hai kẻ đối-nghịch vẫn có thể "sống chung hòa-bình" và mong muốn Việt Nam sẽ không còn chiến tranh. Năm 1967, ông có nhờ báo chí tuyên truyền đạo của mình và vận động ra tranh cử tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Trong số tín đồ Đạo Dừa có con trai của nhà văn Mỹ John Steinbe Năm 1990, ông qua đời ở tuổi 81. Là một trong nhiều đạo tồn tại ở Miền Nam trước 1975. Đạo Dừa chủ trương hòa đồng tôn giáo, tổng hợp tinh hoa của nhiều tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, Kitô giáo. Dựng đàn Bát quái, lập thuyền Bát nhã với đài lộ thiên để cầu Phật, tiên, thánh... sao cho mưa thuận gió hòa, dân sống yên vui, đất nước thái bình, vv... Tín đồ lên đến hàng vạn. Hiện nay tại Cồn Phụng còn nhiều di tích Đạo Dừa trên diện tích chừng 1.500m², hiện được bảo tồn nguyên trạng các hạng mục kiến trúc được xây dựng từ thời trước: sân 9 con rồng; tháp Hoà bình (cửu trùng đài).... Một khu được sửa thành nơi điều dưỡng và du lịch. Còn chiếc xà lan lớn làm nơi hành đạo cũ được đưa về làm khách sạn nổi trên sông Bến Tre ở thị xã.
Từ khi ma may vắng bóng.Có bác là tích cực nhất.Sao bác không xin làm mod box này hỹ ^^!Em sẽ vote cho bác ngay^^!
Hồi đó nghe nói, ông Đạo Dừa có nhiều vợ và không mặt quần áo gì hết, có đúng vậy không mấy bác, ông hướng dẫn viên du lịch nói, chứ không phải em