Tìm kiếm bài viết theo id

101 câu chuyện thiền( góp nhặt cát đá)

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi jimmy_vnu, 11/6/09.

ID Topic : 983154
Ngày đăng:
11/6/09 lúc 21:51
  1. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ hai muơi :

    [FONT=&quot]LỜI KHUYÊN CỦA MẸ[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] J[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]uin, một giáo sư của Shingor (Chơn Ngôn Tông) là một học giả Phạn ngữ (sanskrit) nổi tiếng ở thời đại Tokugawa. Khi còn niên thiếu Juin thường hay diễn thuyết cho bè bạn nghe.
    Mẹ Juin hay được việc này, viết thư cho Juin:
    “Con, mẹ không nghĩ rằng con là một người hiến mình cho Phật, bởi vì con còn muốn trở thành quyển tự điển biết đi cho kẻ khác. Không ngớt trình báo và phê bình, vinh quang và danh dự. Mẹ muốn con chấm dứt cái việc diễn thuyết của con đi.
    Con hãy ngậm miệng im lặng trong một ngôi đền xa xôi hẻo lánh, trong một hòn núi nào đó. Hãy dâng cả thì giờ cua con vào việc Thiền định, và chỉ bằng cách này, con mới đạt được sực chứng ngộ chân thật.”



    Bà này dạy ai? Bà dạy thầy. Bà dạy cho hết tất cả mọi người. Thật sự là như vậy. Cái lý đạo Phật quá thâm sâu, nên chúng ta hiểu được, thường chúng ta thích thú, mình muốn trình bày cái hiểu của mình cho người khác nghe. Đa số là như vậy. Cho nên mình thấy người chưa dụng công nhiều, họ hay giảng đạo cho mình nghe. Còn người đi qua bao nhiêu cái khó khăn rồi thì nhìn lại họ giật mình, vì thấy hiểu là một chuyện mà thực hành là một chuyện khác. Nên họ dè dặt lời nói, họ làm được muời họ chỉ nói hai ba thôi. Đó là người sâu sắc. Còn ngược lại cái người chưa làm được hai ba mà đã nói đến mười, hai mươi; là người con này đây, là thầy đây, và cũng là tất cả chúng ta. Mình thích nói nhiều những cái hiểu của mình, mà không thực hành được nhiều. Nên ở đây bà này đã nói một câu rất hay, là “Đừng có làm quyển tự điển biết đi. Không ngớt trình báo và phê bình, vinh quang và danh dự. Hãy ngậm miệng im lặng trong một ngôi đền xa xôi hẻo lánh trong một hòn núi nào đó.”
    Ở đây mình có được hòn núi rồi, thì thôi mình cũng gọi là ngôi đền xa xôi hẻo lánh đi. Nhưng còn thiếu cái là mình không chịu ngậm miệng im lặng. Mình còn nói nhiều quá! “Hãy dâng cả thì giờ của con vào việc Thiền định. Chỉ bằng cách này con mới đạt được sự chứng ngộ chân thật.” Bà nói đã quá đủ, thầy cũng không thể nói gì hơn được nữa. Vì nếu thầy giảng nhiều thì thầy cũng vậy, vì bà cũng bảo thầy ngậm miệng. Thầy cũng đành im lặng để qua chuyện khác.
    Qua câu chuyện thứ hai mươi mốt.
     
  2. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ hai mươi mốt :

    [FONT=&quot]ÂM THANH CỦA BÀN TAY[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] Đ[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]ại sư đền Kennin, là Mokurai (Là im lặng sấm sét). Mokurai có một chú bé hầu cận tên là Toyo (là Thị Giả). Toyo chỉ mới mười hai tuổi. Toyo thấy những đệ tử khác, buổi sáng và chiều vào phòng thầy để thụ giáo tham thiền, hay là sự chỉ dẫn từng người nhận công án để chận đứng sự lang thang của tâm thức.
    Toyo cũng thích tham thiền. Mokurai bảo “Hãy đợi ít lâu. Con còn nhỏ lắm.” Nhưng chú bé quyết ý, nên cuối cùng, Mokurai phải làm vừa lòng chú.
    Một buổi chiều, bé Toyo vào giờ riêng, đến cửa phòng tham thiền của thầy, chú đánh chuông báo hiệu sự có mặt của mình. Chú cung kính đảnh lễ ba lần ngoài cửa rồi bước vào phòng im lặng, kính trọng ngồi xuống trước mặt thầy.
    Mokurai hỏi “Con nghe được âm thanh của hai bàn tay vỗ vào nhau. Bây giờ con hãy chỉ cho thầy âm thanh của một bàn tay.”
    Toyo bái chào thầy rồi về phòng riêng của chú để soi xét việc này. Từ trong cửa sổ của phòng chú, chú nghe nhạc của các Geisha xa xa bên ngoài. “A, ta có rồi,” Chú reo lên.
    Chiều hôm sau Mokurai bảo chú minh giải âm thnah của một bàn tay. Toyo bắt đầu chơi nhạc của các Geisha (nghĩa là các kỹ nữ). Mokurai bảo “Không, không. cái đó không đúng. Đó không phải là âm thanh của một bàn tay. Con chưa được chi cả.”
    Nghĩ rằng như thế nên chấm dứt nhạc, Toyo dời chỗ ở đến một nơi khác. Chú lại trầm tư “Cái gì có thể là âm thanh của một bàn tay?”
    Chợt chú nghe tiếng róc rách của nước chảy. Chú nghĩ “Ta được rồi!”
    Khi Toyo gặp thầy, chú bắt chước tiếng róc rách của nước chảy. Mokurai hỏi “Cái gì thế?” “Đó là tiếng nước chảy.”
    “Không phải âm thanh của một bàn tay. Hãy cố nữa đi.”
    Vô ích. Toyo cố trầm tư để lắng nghe âm thanh của một bàn tay. Chú nghe tiếng thở dài của gió. Nhưng âm thanh này cũng bị từ chối.
    Chú nghe tiếng kêu của chim cú, nhưng âm thanh này cũng bị từ chối.
    Âm thanh của một bàn tay không phải là âm thanh của những con châu chấu.
    Hơn mười lần Toyo viếng Mokurai với những âm thanh khác nhau. Tất cả đều không phải.
    Gần một năm trời, Toyo suy tư lung lắm về âm thanh của một bàn tay có thể là cái gì.
    Cuối cùng bé Toyo bước vào sự Thiền định thật sự và siêu việt qua tất cả mọi âm thanh. Sau đó chú giảng giải “Ta không còn sưu tập nữa vì ta đã đạt được âm thanh không âm thanh.”
    Toyo đã chứng ngộ được âm thanh của một bàn tay.


    Bài này rất hay nói về yếu chỉ của Thiền, đồng thời nói người vô tư dễ vào Thiền hơn là tâm hồn những người mà suy tư nhiều quá. Ở đây có ai nghe được âm thanh của một bàn tay không? Thầy giảng về Thiền định thầy có nói vấn đề này. Khi tai mình nghe được âm thanh, thí dụ như nãy giờ mình nghe tiếng ếch kêu; bây giờ nếu ếch không kêu nữa, tai mình vẫn còn nghe, vẫn biết rằng không còn ếch kêu nữa. Tai mình không điếc, vẫn còn nghe, nên nó biết được có lúc có tiếng ếch kêu và có lúc không còn tiếng ếch kêu. Chứ nếu lúc có tiếng ếch kêu mình nghe được, không có tiếng ếch kêu, mình điếc, mình đâu có biết được không còn tiếng ếch kêu. Chính cái bên trong mình. Cái nghe, cái biết bên trong, nó không phải là cái trần cảnh bên ngoài, không phải là âm thanh bên ngoài. Cái âm thanh bên ngoài bị giao động, bị biến dị, bị thay đổi. Khi có tiếng này, khi có tiếng kia, khi tiếng nhỏ, khi tiếng lớn. Nhưng cái biết nghe bên trong mình, nó không thay đổi. Người đi tìm Thiền là người xoay lại với cái đó, sống an định với cái đó. Dù muôn ngàn âm thanh bên ngoài khởi lên, mình không bị chạy theo. Bởi vì mình sống với cái tâm yên lặng của mình, cái tâm đó biết tất cả mà nó không chạy theo tất cả. Tiếng này tiếng kia, nó nghe được tất cả nhưng nó không chạy theo, nó chỉ nghe thôi. Ở đây là mình sống với cái nghe thôi. Cái biết nghe là cái thanh tịnh, nó ở lại một chỗ. Còn âm thanh thì khi có khi không, mình không chạy theo nó.
    Nhưng mà sao? Ông thầy rất hay. Chú bé thì vô tư, rất là quyết tâm tập trung một vấn đề, nên ở đây tài không đơi tuổi. Người nào cũng có thể học Thiền, nếu người đó đủ quyết tâm, mà tâm hồn trong sáng như chú thị giả Toyo này. Chú không có cần học nhiều, những vị khác chắc là học qua nhiều kinh điển, còn chú, không biết chú biết chữ rành chưa nữa. Mới muời hai tuổi mà học chữ Nhật cũng khó lắm. Chỉ có điều là nghe lời ông thầy rồi là hạ thủ công phu, quyết tâm đi tìm âm thanh của một bàn tay. Cứ đưa một bàn tay lên để nghe thử thôi, mà rồi qua mấy năm, chú không còn chạy ra bên ngoài để nghe nữa; chú trở lại sống được với cái nghe. Chú tìm ra được cái đó, chú tìm ra được âm thanh của một bàn tay. Cái không có tiếng động nào hết, mà vẫn biết rõ ràng, vẫn tỉnh giác trong sáng trong tâm mình.
    Qua câu chuyện hai mươi hai.
     
  3. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ hai mươi hai :

    [FONT=&quot]TIM TÔI BỪNG CHÁY NHƯ LỬA[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] S[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]oyen Shaku, Thiền sư đầu tiên đến Mỹ Châu nói “Tim tôi bừng cháy như lửa, nhưng mắt tôi nguội lạnh như tro tàn.”
    Soyen Shaku đã tạo ra những qui luật sau đây để áp dụng suốt đời mình:

    § Buổi sáng, trước khi mặc áo quần, hãy thắp hương và Thiền định.
    § Hãy nghỉ vào những giờ nhất định. Hãy ăn vào những giờ nhất định. Hãy ăn điều độ và đừng bao giờ ăn đến mức thỏa mãn.
    § Hãy tiếp khác cùng một thái độ như khi ở một mình; khi ở một mình hãy giữ thái độ y như lúc tiếp khách.
    § Hãy giữ gìn lời nói và khi nói bất cứ điều gì phải làm theo lời nói.
    § Khi cơ hội đến đừng để nó qua mất.
    § Hãy luôn nghĩ hai lần trước khi hành động.
    § Đừng tiếc nuối quá khứ hãy nhìn về tương lai.
    § Hãy có thái độ không sợ hãi của một anh hùng và có trái tim yêu của một trẻ thơ.
    § Lúc ngủ hãy ngủ như bước vào giấc ngủ cuối cùng. Lúc dậy hãy tức khắc rời bỏ giường lại đằng sau như vứt bỏ một đôi giầy cũ.


    Những cái này quá hay mà giảng cho hết cái ý nghĩa này thì nó quá thâm trầm sâu sắc. Chúng ta không có thì giờ nên chúng ta còn phải đi qua nhiều câu chuyện nữa. Cho nên ở đây chỉ nói phớt qua thôi.
    Buổi sáng khi vừa thức dậy, Ngài cũng thắp hương và Thiền định. Mình cũng vậy, rán lên, đừng bỏ bữa nào. Tối trước khi đi ngủ và sáng khi vừa thức dậy, ngoài ra trong ngày cũng vậy, khi nào rảnh rỗi, khi lại chỗ nào vắng vẻ, mình cũng bắt chân mình ngồi, chứ đừng để bỏ thời giờ trôi qua không. Thật ra sau này nếu tu viện đươc thành lập hẳn hòi, nề nếp đâu đó; thì ban ngày cũng phải ngồi Thiền, phải thêm thời ngồi Thiền; bây giờ thì chưa được, bây giờ mình còn phải lao động, ai rảnh thì mình tranh thủ ngồi một chút, trưa mình tranh thủ cũng ngồi được nửa tiếng.
    “Hãy nghỉ vào những giờ nhất định, hãy ăn vào những giờ nhất định, hãy ăn điều độ và đừng bao giờ ăn đến mức thỏa mãn.” Như vậy làm cho mình dễ tu hơn, vì nếu mình ăn ngủ xáo trộn, thì làm cho người mình khó chịu, khó ngồi Thiền. Khi nào mình đạt đạo rồi thì vấn đề này không còn quan trọng nữa. Một người đạt đạo thì muốn ăn giờ nào ăn, muốn ngủ giờ nào ngủ, hết quan trọng rồi. Nhưng khi mình đang tu thì những qui luật như thế này giúp cho việc Thiền định của mình.
    Cái câu mà thầy thích nhất là “Hãy tiếp khách cùng một thái độ như khi ở một mình. Khi ở một mình hãy giữ thái độ như khi đang tiếp khách.” Chúng ta thường hay thay đổi thái độ, ví dụ như khi mình tiếp khách, mình làm ra vẻ trịnh trọng, đạo mạo, tự tại. Không có khách là mình ngồi nằm bừa bãi, lăn chiên ra, quần áo nhếch nhác. Cái đó là cái mình không thực. Người thực tình thì dù khi không ai kiểm soát mình, mình vẫn tự kiểm soát mình.
    “Hãy giữ gìn lời nói và khi nói bất cứ điều gì hãy làm theo lời nói.” Nhiều khi lúc hứng, mình hứa rồi quên mình làm không được. Hãy giữ gìn lời nói bớt lại, đừng nói nhiều. Cẩn thận đừng nói lời thừa. Ví dụ như mình định nói câu đó mười chữ, mình nói thử trong đầu, mười chữ mình nói rút bớt còn năm chữ được không. Nếu rút được còn năm chữ, mình nói năm chữ thôi, không nên nói mười chữ.
    “Khi cơ hội đến đừng để nó qua mất, hãy suy nghĩ hai lần trước khi hành động.” Mình phải có cái óc phán đoán, nhưng mà quyết định, chứ đừng do dự.
    “Chớ tiếc nuối quá khứ, hãy nhìn về tương lai. Hãy có thái độ không sợ hãi của một anh hùng và trái tim thương yêu của một trẻ thơ.” Thương yêu một cách vô tư không có vụ lợi, không tính toán.
    “Lúc ngủ hãy ngủ như bước vào giấc ngủ cuối cùng.” Không còn bận tâm về việc gì ở trên đời hết. Ngủ như trẻ thơ, nằm xuống thì đừng có suy tư nữa, đừng nghĩ ngợi chuyện này chuyện kia. Nằm xuống mình để ý vào hơi thở, hoặc là để tâm trên đỉnh đầu, từ từ chìm vào giấc ngủ. Người khó ngủ, nằm xuống mình để tâm trên đỉnh đầu, từ từ chìm vào giấc ngủ. Hoặc là người quen nhiếp tâm hơi thở, thì để ý hơi thở một lát cũng ngủ. Nhưng nếu bệnh nặng, thì nên để tâm trên đỉnh đầu. Bệnh ít, hay ít bị mất ngủ, thì chỉ cần để ý hơi thở là ngủ được.
    “Lúc dậy hãy tức khắc rời bỏ giường lại đằng sau như vứt bỏ một đôi giầy cũ.” Nghĩa là sao? Nghĩa là nói cho gọn là đừng ngủ nướng. Thức rồi thì đừng có lăn qua, lăn lại nằm đó. Bật ngồi dậy đi rửa mặt ngồi Thiền.
    Qua câu chuyện thứ hai mươi ba.
     
  4. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ hai mươi ba :

    [FONT=&quot]CÁI CHẾT CỦA ESHUN[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] K[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]hi Eshun (trong truyện “Nếu yêu, hãy yêu công khai”), một Thiền ni sáu muơi hai tuổi và sắp từ giã trần gian này.
    Eshun bảo vài nhà sư chất củi thành đống trong sân, rồi Eshun ung dung buớc vào ngfôi vững vàng giữa dàn hỏa và bảo đốt lửa chung quanh dàn.
    Một nhà sư la lên “Sư bà ở đó không nóng sao?”
    Eshun đáp “Việc như thế này chỉ ngu như ngươi mới sợ hãi mà thôi.”
    Ngọn lửa dâng cao và Eshun qua đời.


    Cái chết của Eshun, đây là cái thành quả của một người tu suốt đời và được thành quả như vậy. bài hôm trước, nói bà còn trẻ, bà tu và nhiều người thương yêu bà, viết thư tỏ tình và bà đã giải quyết một cách rất là độc đáo, rát là sáng suốt là như vậy. Cuối cùng cuối đời bà tự tại với cái chết như vậy là đúng. Con người đặc biệt như vậy.
    Qua bài hai mươi bốn.
     
  5. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ hai mươi bốn :

    [FONT=&quot] TỤNG KINH[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] M[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]ột nông dân mời một tu sĩ trường Tendai (nghĩa là Thiên Thai) tụng kinh cho vợ ông đã chết.
    Sau khi tụng kinh xong, nông dân hỏi “Thầy có nghĩ rằng vợ tôi xứng đáng hưởng như thế này không?”
    Tu sĩ trả lời “Không những vợ ông mà tất cả chúng sinh hữu tình cũng được lợi ích trong cuộc tụng kinh này”
    Nông dân hỏi “Nếu thầy bảo tất cả chúng sinh hữu tình đều được lợi ích, vợ tôi có lẽ rất yếu đuối, như vậy những kẻ khác sẽ tranh hết lợi của nàng. Dành hết những công đức của nàng. Vậy hãy làm ơn tụng kinh riêng cho nàng thôi.”
    Tu sĩ giảng giải rằng đó là ước vọng của một Phật tử muốn dâng tặng phước báu và muốn ban ơn cho mọi sinh vật.
    Nông dân kết luận “Đó là một lời dạy hay. Nhưng xin hãy trừ một điều. Tôi có một láng giềng nói năng thô bạo với tôi. Hãy loại trừ hắn ra khỏi tất cả những chúng sinh hữu tình đó đi.”


    Đây nói về một con người đến với đạo mà hẹp hòi. Từ trong kinh là lúc nào cầu nguyện cho tất cả chúng sinh. Nhưng sự thực là mình cũng khó lòng thương yêu tất cả mọi người, vì trong cuộc sống đụng chạm, cũng có người làm cho mình mích lòng. Mình không thực sự thương họ được. Mình đến với tín ngưỡng, với tôn giáo mà cũng chỉ vì lợi ích riêng thôi. Chứ không thực lòng là vì tu hành. Cho nên bài kinh tụng của người tu sĩ cũng vậy, luôn luôn kêu gọi mọi người thương yêu, đem ân phước ban rãi đến khắp mọi loài. Nhưng mình lợi dụng tín ngưỡng để cầu phước cho mình, chứ không thục sự như tín ngưỡng tôn giáo muốn. Tôn giáo muốn mình trải lòng thương mọi người, nhưng mình muốn cái linh thiêng của tôn giáo chỉ dành riêng cho mình thôi, nên mình đến với tôn giáo mà đến với cái ích kỷ. Có mấy lần có những Phật tử lên chùa, thầy cũng hay nói. Một người mỗi khi đi chùa ích kỷ một chút, đi chùa một tháng một năm thành ích kỷ nhiều hơn. Vì sao, vì khi quỳ trước bàn Phật cầu nguyện, cầu nguyện cho con cho gia đình con. Cho nên mỗi lần cầu nguyện như vậy thì lòng ích kỷ tăng thêm một chút. Khi đi chùa quanh năm suốt tháng thì người đi chùa đó ích kỷ không ai chịu nổi nữa. Cho nên mình phải biết khi quỳ trước bàn Phật cầu nguyện, đừng cầu nguyện cho mình mà cầu nguyện cho tất cả chúng sinh.
    Qua câu chuyện thứ hai mươi lăm.
     
  6. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ hai mươi lăm : [FONT=&quot]BA NGÀY NỮA[/FONT]

    [FONT=&quot] S[/FONT]

    uiwô, môn đệ của Hakuin là một thiền sư ưu tú. Trong suốt thời kỳ ra hạ để thiền định của Suiwo có một đệ tử từ một hòn đảo miền Nam nước Nhật đến viếng Suiwo.
    Suiwo cho anh ta một công án “Hãy lắng nghe âm thanh của một bàn tay”. Người đệ tử theo đuổi suốt ba năm nhưng không thể vượt qua được cuộc trắc nghiệm này.
    Một đêm anh ta khóc với Suiwo. Anh ta nói “Con phải về Nam với sự hỗ thẹn và ngượng ngùng vì con không giải quyết nổi vấn đề của con.”
    Suiwo khuyên “Hãy ở lại một tuần và hãy suy nghĩ không ngừng.” Sự gíác ngộ không đến với người đệ tử. Suiwo bảo “Hãy cố gắng một tuần nữa.” Người đệ tử vâng lời nhưng vô ích.
    Một tuần nữa, nhưng vẫn hoài công vô ích. Thất vọng, người đệ tử xin được giải bỏ. Nhưng Suiwo đòi một cuộc thiền định năm ngày nữa. Vẫn không có kết quả. Rồi Suiwo bảo “Hãy suy tư ba ngày nữa, nếu anh không đạt được sự giác ngộ, tốt hơn hết là anh nên tự tử đi.”
    Vào ngày thứ hai, người đệ tử giác ngộ.


    Cái lối thiền, công án như vậy. Nó dồn người ta tập trung căng thẳng để mà hiểu cho được công án. Thí dụ như cũng là lắng nghe âm thanh của một bàn tay, người này tới ba năm. Trong khi chú Tô-Dô chỉ có hơn một năm, không tới hai năm. Ba năm vẫn không xong đến nỗi ông thầyphải ra một điều kiện cuối cùng, nếu không ngộ được âm thanh của một bàn tay, thì tự tử chết đi. Người này coi như mình buông hết rồi, mình chết rồi. Cái mà mình coi như mình đã chết, thì mình giác ngộ. Cho nên đến với đạo là như vậy, nhiều khi người ta liều thân mạng mà lại thành.
    Qua câu chuyện thứ hai mươi sáu.
     
  7. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ hai mươi sáu :

    [FONT=&quot]CUỘC ĐỐI THOẠI MẶC CẢ CHỖ Ở[/FONT]

    [FONT=&quot] B[/FONT]

    ất cứ một nhà sư lang thang nào cũng có thể được ở lại trong một ngôi đền Thiền, miễn là ông ta thắng cuộc tranh luận về giáo lý Phật Giáo với nhưng người đang ở nơi đó, nếu thất bại phải đi nơi khác.
    Có hai sư huynh sư đệ cùng đang sống trong một ngôi đền ở miền Bắc nước Nhật. Sư huynh là một người học rộng nhưng sư đệ là một người ngu đần và chột mắt.
    Một nhà sư lang thang đến hỏi xin ở trọ và đặc biệt thách họ tranh luận về giáo lý thượng thừa của Phật Giáo. Ngày hôm đó người sư huynh mệt quá vì học hiểu bảo người sư đệ thay mình, rồi người sư huynh cẩn thận dặn trước “Hãy đến yêu cầu một cuộc đối thoại yên lặng.”
    Và người sư trẻ và ông sư lạ đến ngồi lặng lẽ trước bàn thờ Phật.
    Sau đó chẳng bao lâu nhà sư lang thang đứng dậy, đến nói với người sư huynh “Sư đệ của anh thật là một người bạn kỳ diệu. Anh ta đã đánh bại tôi.”
    Người sư huynh bảo “Hãy kể cho tôi nghe cuộc đối thoại.”
    Nhà sư lang thang dẫn giải “Được. Đầu tiên tôi dơ một ngón tay tượng trưng cho Đức Phật, một người đã giác ngộ. Và anh ấy dơ lên hai ngón tay, có nghĩa là Đức Phật và giáo lý của Ngài. Tôi dơ lên ba ngón tay, tiêu biểu Đức Phật, giáo lý của Ngài và những người theo Ngài sống cuộc đời hòa hảo (tức là Phật Pháp Tăng), rồi anh đưa nắm tay siết chặt đập vào mặt tôi chứng tỏ rằng cả ba phát xuất từ sự một chứng ngộ. Thế là anh ấy đã thắng. Và tôi không có quyền ở lại đây.”
    Rồi nhà sư lang thang bỏ đi.
    “Ông bạn đó ở đâu rồi?” Người sư đệ vừa chạy đến vừa hỏi.
    Người sư huynh nói “Tôi biết sư đệ vừa thắng cuộc tranh luận.”
    Người sư đệ nói “Không thắng đâu. Em sẽ đánh hắn.”
    Người sư huynh bảo “Hãy nói tôi nghe đề tài tranh luận.”.
    Người sư đệ trả lời “Tại sao lúc hắn đưa lên một ngón tay ám chỉ rằng em chỉ có một mắt. Vì hắn là người lạ, em nghĩ phải lịch sự một chút. Vì thế em dơ hai ngón tay, khen ngợi hắn có đủ hai mắt. Rồi hắn vô lễ dơ lên ba ngón tay, bảo rằng giữa em và hắn chỉ có ba mắt. Vì thế em nổi khùng lên và bắt đầu đấm hắn. Nhưng hắn bỏ chạy và cuộc tranh luận chấm dứt.”


    Đây là câu chuyện vui nhất trong quyển này mà cũng là độc đáo nhất. Cái ý nghĩa như thế này. Hai người ấy, mỗi người đều mang một thành kiến, một mặc cảm, một cặp kiếng màu, không ai nhìn thấy được sự thật.
    Một người thì nhìn cái gì cũng thấy Thiền và Phật, nên ai nói câu gì cũng nghĩ người ta nói Thiền và Phật. Nó thành cái bịnh. Hiện nay cũng có rất nhiều người như vậy, họ bắt chước các Thiền sư. Ai nói câu gì cũng nghĩ người ta nói Thiền, nên thương lý Thiền cãi lại, mà nhiều khi sự thực người ta nói chuyện rất là đơn giản. Giống như ông sư đệ này, ông mang mặc cảm chột mắt. Cho nên thấy ai dơ ngón tay lên cũng nghĩ là người ta nói đến con mắt của mình. Khổ vậy! Mà thôi. anh có hai con mắt nên tôi đưa hai ngón tay lên, thôi tôi thua anh.
    Như một câu chuyện vui không biết thầy đọc ở đâu “Có cặp tình nhân, anh chàng là bộ đội phục viên, thương binh chi đó, ngồi nói chuyện. Trong khi ngồi thì thầm tâm tình. Cô gái nói ‘Em chỉ cần người chân thật.’ Anh chàng kia thất vọng ê chề vì anh ta bị một chân giả.”
    Ở đây cũng vậy, khi người ta nói với ý này, nhưng vì mình mang mặc cảm về cái thân phận mình, nên mình hiểu qua ý khác. Câu chuyện này cũng vậy, một người mang thành kiến về Thiền, thấy ai nói gì cũng tưởng Thiền. Người thì mang mặc cảm chột mắt, thấy ai nói gì cũng tưởng người ta nói tới con mắt của mình.
    Mà sự thực chân lý nằm ở chỗ khác. Ở chỗ, con người ta phải buông hết cái thành kiến xuống, kể cả thành kiến về Thiền, kể cả nhưng hiểu biết về Thiền. Nên khi nhìn vấn đề, phải nhìn đúng như nó; nó như thế nào, phải thấy như thế đó. Nên các Thiền sư cũng nói câu là “Như một tấm gương trong, người An Độ đến, biết là người Ấn Độ. Người Trung Hoa đến thì hiện ra là người Trung Hoa.” Nên người nào ngộ lý của Thiền là như vậy. Họ buông hết những thành kiến về Phật, về Thiền. Khi một người đến nói chuyện với mình về đạo, thì mình biết người này đến, nói chuyện với mình về đạo. Một người đến, nói chuyện riêng tư biết nói chuyện riêng tư, không phải chuyện đạo, là mình biết liền; chứ không méo mó nghề nghiệp. Câu chuyện này, không trách nhà sư chột mắt mà trách nhà sư kia, trách tất cả những người học Thiền, mang cái kiến giải về Thiền đầp ắp trong lòng, không buông xuống được, nên không thấy được sự thật của cuộc đời. Câu chuyện rất là hay.
    Qua câu chuyện thứ hai mươi bảy.
     
  8. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ hai mươi bảy :

    [FONT=&quot]GIỌNG NÓI CỦA HẠNH PHÚC[/FONT]

    [FONT=&quot] S[/FONT]

    au khi Bankei qua đời, một người mù sống gần ngôi đền của Bankei nói với một người bạn:
    “Vì tôi bị mù không thể nhìn được mặt người, nên tôi phải đoán tính tình qua âm thanh của giọng nói. Thường khi tôi nghe người nào ca tụng hạnh phúc hay sự thành công của kẻ khác, thì tôi cũng nghe thấy cả cái giọng ghen tị bí mật.
    Khi nghe họ nói lời chia buồn về sự bất hạnh của kẻ khác, thì tôi cũng thấy sự khoan khoái và sự thỏa mãn, dường như sự chia buồn thật sự là sự hân hoan vì cái gì đó được bỏ lại trong thế giới riêng tư của họ.
    Trong tất cả kinh nghiệm của tôi, giọng nói của Bankei luôn luôn thành thật. Bất cứ lúc nào Bankei biểu lộ sự hạnh phúc, tôi chỉ nghe sự hạnh phúc; và lúc nào Bankei biểu lộ sự buồn sầu, tôi cũng nghe trọn sự buồn sầu.”


    Bài này nói về khuynh hướng ganh tị bí mật của con người mình. Thường thường mình không muốn cho ai hơn mình hết. Đó là bản năng của con người. Con người ta có cái bản năng ganh tị rất là bí mật. Mình thấy ai có điểm gì nổi bật là mình luôn luôn ganh tị. Nhiều khi mình khen ngợi họ, nhưng bên trong sâu thẳm mình vẫn đau khổ ghê gớm, đau khổ vì họ đã hơn mình. Đây là một sự thật, mà mình phải đối diện, phải nhìn cho ra. Ví dụ như trước thấy không có ai, thấy tôi là người được quí mến tôn trọng, sau có nhiều người khác tới, thầy trọng người khác hơn. Như vậy mình có cái ghen tị đối với người đến sau mình. Cái đó cũng là một cái sai. Hoặc là thấy thầy quí trọng ai, là mình cũng có một sự ganh tị bí mật. Thí dụ như có những người đến, mà nhiều khi thầy cầm cây gậy tiễn họ đi một đoạn rất là xa, mình thấy mình cũng bực mình, thấy rằng tại sao thầy ưu ái với họ mà không ưu ái với mình. Nhiều khi mình cũng khen tại người đó tốt, nhưng trong lòng mình vẫn đau khổ.
    Nghe người mù họ nói đây, là chỉ có người thành thật sống không giả dối như Thiền sư Bankei thì mới không bị cái này. Bởi vì lòng Ngài vượt qua hết sự ganh tị đố kị rồi.
    Qua câu chuyện thứ hai mươi tám.
     
  9. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ hai mươi tám :

    [FONT=&quot] DAIGU VIẾNG ĐẠI SƯ BASO [/FONT]
    [FONT=&quot] Ở TRUNG HOA ([/FONT]1[FONT=&quot])[/FONT]

    [FONT=&quot] M[/FONT]

    ã Tổ hỏi “Anh tìm gì?”
    Huệ Hải đáp “Giác Ngộ.”
    Mã Tổ nói “Anh có một kho tàng của riêng anh. tai sao anh đi tìm bên ngoài.
    Huệ Hải hỏi “Kho tàng của con ở đâu?”
    “Cái gì anh đang nói là kho tàng của anh.”
    Nghe câu này Huệ Hải giác ngộ.
    Từ đó về sau, Huệ Hải luôn luôn thúc dục bạn bè hãy mở kho tàng của mình mà dùng.

    [FONT=&quot] (1) Thực ra câu chuyện này là câu chuyện của Tàu chứ không phải là câu chuyện của Nhật. Đó là Ngài Huệ Hải viếng Ngài Mã Tổ ở Trung Hoa. [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    Truyện này trong “Thiền sư Trung Hoa” có ghi. Mà mình cũng thấy Ngài Huệ Hải trước khi tìm đến Ngài Mã Tổ thì tâm của Ngài rất là an định. Cái đức hạnh của Ngài rất là chu toàn, cho nên Ngài Mã Tổ biết, chỉ hạ một câu nói, thì liền đó Ngài ngộ đạo liền. Ở đây ngộ đạo là ngộ được cái tâm gì đó nơi chính mình, chứ không phải là cái bên ngoài, cái kho tàng của riêng mình mà dùng.
    Thầy có biết một ông, ông là người theo Tây học, từng du học bên Tây. Bây giờ ông là một người tu Thiền và ông dạy người khác tu Thiền. Ông là cư sĩ thôi, có vợ có con bình thường, nhưng mà mức độ ngộ Thiền của ông rất đặc biệt. Người ta hỏi ông là nghiên cứu Thiền từ lúc nào, ông trả lời là từ câu nói của Jean Jacque Rousseau là “Mỗi người tự về chăm sóc ngôi vườn của mình.” Kể từ đó, ông đi vào đạo, từ năm mười hai tuổi, ông ngộ lần lần, và cho đến bây giờ thì ông có lẽ cũng xấp xỉ sáu mươi. Cái sức ngộ của ông rất là vững. Ai đến ông cũng đều khuyến khích người ta tu Thiền.
    Thì cái “Mỗi người về chăm sóc khu vườn của mình.” thì nó rất gần gần với kho tàng của riêng mình. Ở đây chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng có một kho tàng nội tâm, chúng ta hãy rán mở ra mà xài. Mở ra bằng gì? Mở ra bằng những giờ phút tọa Thiền, bằng từng giờ từng phút...

    Qua câu chuyện thứ hai mươi chín.
     
  10. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ hai mươi chín :

    [FONT=&quot]KHÔNG NƯỚC, KHÔNG TRĂNG [/FONT]

    [FONT=&quot] N[/FONT]

    i cô Chyono theo học Thiền với Bukkô của Engaku trong một thời gian dài nhưng Chyono không thể đạt được kết quả.
    Sau cùng một đêm trăng sáng, Chyono gánh nước, một cái sô cũ có bao nan tre bọc bên ngoài. Bao tre hỏng, đáy sô rơi, và ngay giây phút đó, Chyyono giác ngộ!
    Để kỷ niệm Chyono viết một bài thơ:

    “Bằng cách này ta đã cố gắng cứu chiếc sô cũ
    Bởi vì bao nan đã yếu và gần hỏng
    Cho đến lúc cuối cùng đáy vỡ rơi xuống
    Không còn nước trong sô
    Không còn trăng trong nước!”


    Bài này nói lên chỗ giác ngộ của bà. Lẽ ra thầy sẽ giảng bài kệ, thơ của bà Chyono này. Tuy nhiên thầy không thích là một người đi tìm Thiền bằng cái nghe giảng và hiểu rồi để nói lại. Thầy muốn rằng các huynh đệ, bằng cái công phu tu hành của mình, hiểu được bài thơ này. Như vậy hay hơn. Cho nên bài này thầy không giảng.
     
  11. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba mươi :

    [FONT=&quot] DANH THIẾP[/FONT]


    [FONT=&quot] K[/FONT]

    eichu, một đại Thiền sư đời Minh Trị là sư trưởng đền Tofuku, một tu viện ở Kyoto.Một hôm Thống Đốc viếng Keichu lần đầu tiên. Một đệ tử đưa lên Keichu tấm danh thiếp của nhà cầm quyền.
    Thiếp viết “Kitagaki, Thống Đốc Kyoto.”
    Keichu bảo với người đệ tử, ta không có việc gì với một con người như thế. Hãy bảo hắn ra khỏi nơi này.”
    Người đệ tử hoàn lại tấm thiếp với lời xin lỗi.
    Viên Thống Đốc nói “Đây là lỗi của tôi.”
    Và với cây bút chì trong tay ông xóa mấy chữ “Thống Đốc Kyoto” rồi bảo người đệ tử “Hãy hỏi lại thầy anh.”
    Lần này thấy tấm danh thiếp Keichu kêu lên “Ồ Kitagaki đấy à! Ta muốn gặp người đó.”



    Bài này thật là hay. Thứ nhất là Thiền sư Keichu, một người ngộ đạo, không bao giờ biết khiếp sợ, nịnh bợ trước quyền quí. Mà Thống Đốc một thành phố lớn như thành phố Kyoto như vậy thì quyền uy không phải nhỏ. Khi đến thăm ông, đưa tấm danh thiếp có ghi chức vụ, ông liền không tiếp. Vì người đến đây, ỷ mình là người có chức vụ, người đó không hiểu đạo được; không phải là người đến tìm đạo, ông không tiếp. Đây là cái hay, ông chỉ tiếp những người đến tìm đạo. Đây là khí phách, cái tiết tháo của một Thiền sư đúng nghĩa. Mà chính ra chúng ta khi đọc lại chuyện này, mình chỉ biết cúi đầu, nghiêng mình kính trọng; chứ thật ra mình cũng khó bắt chước được các Ngài. Đôi khi mình cũng còn sợ hãi trước những người có chức có quyền. Nhiều khi họ dùng chức quyền của họ để gây tạo ảnh hưởng đến chùa chiền, nên mình cảm thấy cần ngoại giao. Đó là mình vẫn còn dở. Bởi vì sao? Bởi vì mình còn nhiều cái phải bám víu, còn nhiều cái phải lo sợ; chứ không được cái phước, cái uy của Thiền sư Keichu này.
    Mà ông Thống Đốc này cũng là người hay, khi mà người đệ tử hoàn lại với lời xin lỗi, ông hiểu ngay; hiểu ngay cái lỗi ở chữ “Thống Đốc Kyoto” nên ông gạch bỏ. Ông chấp nhận đến đây với một người như mọi người để đi tìm đạo mà thôi, chứ không đến với quyền chức của mình. Nên câu chuyện này đưa ra hai con người rất hay. Một Thiền sư không biết khiếp sợ là gì. Và một vị Thống Đốc không bao giờ hãnh diện vì cái quyền chức của mình.
    Chúng ta cũng vậy. mình đọc câu chuyện này rồi mình rán để ý học được chút nào hay chút đó, là không sợ trước cái quyền thế bên ngoài và nếu mình có một cai gì hơn người cũng đừng bao giờ hãnh diện, đừng bao giờ chấp cái hơn người của mình.
    Qua câu chuyện thứ ba mươi mốt.
     
  12. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba mươi mốt :
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] MỌI THỨ ĐỀU NGON NHẤT[/FONT]


    [FONT=&quot] K[/FONT]

    hi Banzan (đây là chữ Nho nghĩa là Bàn Sơn), pháp hiệu là Bảo Tích. Ngài ở núi Bàn Sơn ở U Châu, là đệ tử của Mã Tổ. Khi Banzan đi ngang qua chợ, ông nghe xa xa cuộc nói chuyện của một khách hàng và một người bán thịt.
    Khách hàng bảo “ Hãy cho tôi một miếng thịt ngon nhất đấy nhé!”
    Người bán thịt đáp “Mọi thứ trong hàng tôi đều ngon nhất. Cô không thể tìm thấy ở đây một miếng thịt nào không ngon nhất.”
    Nghe những lời đó, Banzan bừng ngộ.


    Ngài cũng là người dụng công rất là sâu xa, tâm đã vào định rất là vững; nhưng mà chưa đủ duyên để ngộ. Đến khi Ngài đi ngang chợ, nghe người bán thịt đáp là mọi thứ trong hàng ông đều ngon nhất, không có thứ nào là không ngon nhất, thì Ngài liền ngộ đạo.
    Thì cũng như vậy, giống như bài thơ trước. Nếu thầy giảng câu này ra, là tại sao mà ngộ đạo thì thầy mang tội với chư Tổ. Nên thầy tiếp tục im lặng, để cho quí huynh đệ tu, tâm chứng của mình hiểu được cái câu nói này.
    Qua chuyện thứ ba mươi hai.
     
  13. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba mươi hai :
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot]MỘT PHÂN THỜI GIAN, NGÀN PHÂN NGỌC[/FONT]
    [FONT=&quot] M[/FONT]

    ột Lãnh chúa yêu cầu Thiền Takuan vẽ cho ông làm cách nào để giết thì giờ. Ông cảm thấy cuộc đời mình kéo dài lê thê trong việc theo dõi những công việc đều đều chán nản ở văn phòng và phải ngồi chết một chỗ ở đó để nhận sự tôn kính của những người khác.
    Takuan viết cho vị Lãnh chúa tám chữ, là chữ Nho; ở đây được dịch thành bài thơ bốn câu:

    Ngày này không đến hai lần
    Một phân thời khắc, ngàn phân ngọc ngà
    Ngày này không đến nữa mà
    Một giây thời khắc, một nhà ngọc châu


    Ông ta thấy mất thì giờ, Thiền sư cho ông mấy chữ, cũng để cho ông biết rằng thì giờ rất quí mà không dạy thêm cho ông cái gì. Thì Ngài muốn cho ông dùng thời gian kéo dài lê thê đó để làm một việc có ý nghĩa hơn. Đáng lẽ ra Ngài phải dạy Thiền, mà lạ là ngài chỉ cho biết cái gía trị thời gian; còn để làm cái gì trong thời gian đó thì Ngài không nói. Vậy chúng ta làm cái gì thì tự biết.
    Qua bài thứ ba mươi ba.
     
  14. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba mươi ba :
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] BÀN TAY CỦA MOKUSEN[/FONT]

    [FONT=&quot] M[/FONT]

    okusen Hiki đang sống trong một ngôi đền ở tỉnh Tamba, một trong những đệ tử của Mokusen phàn nàn về tính hà tiện của vợ anh ta.
    Mokusen đến viếng vợ của người đệ tử và đưa nắm đấm ra trước mặt nàng. Người đàn bà ngạc nhiên hỏi “Ngài muốn nói gì thế?”
    Mokusen hỏi “Giả sử tay ta luôn luôn thế này, ngươi sẽ gọi nó là gì?” Người đàn bà đáp “Dị dạng.”
    Rồi Mokusen xòe thẳng bàn tay ra, áp sát vào mặt nàng hỏi “Giả như nó luôn luôn thế này, là gì?”
    Người đàn bà đáp “Một thứ dị dạng khác.” Mokusen kết thúc “Nếu ngươi hiểu nhiều, ngươi là một người vợ hiền.”
    Rồi Mokusen bỏ đi.
    Sau cuộc biến đó, người vợ giúp chồng trong việc chi tiêu cũng như việc để dành.


    Ở đây chuyện này dễ hiểu. Tức là con người mình sống thì nên tránh cực đoan. Ngài đưa bàn tay nắm là luôn luôn cực đoan, mà luôn luôn mở ra cũng là cực đoan. Mình luôn luôn hà tiện cũng là cực đoan, mà phung phí cũng là cực đoan. Mà không riêng về vấn đề chi tiêu. mà mọi vấn đề khác. Chúng ta không khéo đều trở thành cực đoan. Ví dụ như khi gặp người nói nhiều thì thầy nói ‘Đừng có nói nhiều’. Từ đó người đó quằm mặt xuống, im lặng, ai hỏi gì cũng không trả lời. Đó lại là một cái cực đoan khác. Cái trung đạo là mình ít nói. Nói lời chính đáng, không nói lời thừa, nhưng mà trong tâm với mọi người luôn luôn hòa hợp vui vẻ, chứ không phải là vì ít nói mà mình ngăn cách với mọi người. Cũng không phải là đi tìm sự hòa hợp với mọi người bằng cách phải nói huyên thuyên. Mà trong đời sống như vậy, trong việc tu hành cũng vậy, nó dễ rơi vào một cực đoan, nếu chúng ta không khéo. Cái tinh tấn cũng vậy, nếu mình tinh tấn một cách căng thẳng cũng sai, mà mình lơi lỏng cũng là sai. Nó tùy lúc, như có lần thầy nói, khi ngồi Thiền bị buồn ngủ, có trường hợp mình phải cố gắng vượt qua cái buồn ngủ đó, nhưng có trường hợp mình phải ngủ một chút cho tỉnh rồi ngồi tiếp. Nên tùy trường hợp, đừng kết luận một chiều.
    Qua bài ba mươi bốn.
     
  15. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba mươi bốn:
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] NỤ CƯỜI TRONG ĐỜI MOKUGEN[/FONT]

    [FONT=&quot] M[/FONT]

    okugen không bao giờ biết cười cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời ông khi giờ ra đi của ông đến. Mokugen nói với các đệ tử “Các anh đã theo ta học hơn mười năm rồi, bây giờ hãy tỏ cho ta biết sự tri giải chân thật của các anh về Thiền. Bất cứ anh nào diễn tả điều này rõ ràng nhất sẽ là người đắc đạo của ta và được phó chúc y bát này.”
    Các đệ tử nhìn khuôn mặt khắc khổ của Mokugen, nhưng không ai lên tiếng. Encho, một đệ tử theo học đã lâu, đến bên giường Mokugen để chén thuốc tới trước một chút. “Đây là câu trả lời của Enchô”
    Khuôn mặt của Mokugen trở nên nghiêm trọng hơn, hỏi “Đó là tất cả sự hiểu biết của anh?”
    Enchô bước tới, đem chén thuốc trở lại.
    Một nụ cười tươi đẹp làm tan vỡ những nét nghiêm nghị trên gương mặt của Mokugen. Ông nói với Encho “Này thằng lõi, mày đã học với ta hơn mười năm mà chưa thấy toàn thân ta.Hãy lấy y bát của ta đi. chúng thuộc về mày đó.”


    Câu chuyện này, cái chủ yếu là cái biểu hiện của người hiểu Thiền. En Chô biểu hiện cái hiểu của mình không bằng lời nói mà bằng hành động đẩy chén thuốc tới trước, thì Mokugen trở nên nghiêm trọng; vì ông thấy đấy là có thể đúng rồi, có thể gần đúng rồi. Nhưng mà nếu chỉ như vậy thì chưa phải. Cần một câu trả lời nữa, thì En Chô lấy chén thuốc trở lại à Mokugen hài lòng, truyền y bát mình lại cho En Chô.
    Hành động đẩy chén thuốc tới là nghĩa gì? Và lấy chén thuốc trở lại là nói nghĩa gì? Thì thầy cũng không giảng. Các huynh đệ rán tu để hiểu điểm này.
    Qua câu chuyện thứ ba mươi lăm.
     
  16. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba mươi lăm:
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] THIỀN TRONG MỌI PHÚT[/FONT]

    [FONT=&quot] N[/FONT]

    hững Thiền sinh phải ở với thầy họ ít nhất mười năm trước khi tự họ có thể dạy những người khác được. Tenno đã qua thời gian học tập và đã trở thành một Thiền sư đến viếng Nan-in. Nhằm ngày trới mưa Tenno đi đôi guốc gỗ và che dù.
    Sau đi chào mừng Tenno, Nan-in hỏi “Giả sử anh bỏ đôi guốc của anh ngoài Thiền đường, tôi muốn biết dù của anh bên phải hay bên trái đôi guốc.”
    Tenno bối rối không thể trả lời ngay được, vì thế Tenno biết mình không thể thể hiện được Thiền trong mọi giây phút. Tenno trở thành đệ tử của Nan-in và học sáu năm nữa mới hoàn thành Thiền trong mọi phút.


    Người có Thiền trong đời sống họ có được cái tỉnh giác chánh niệm, không việc gì mà họ không biết. Cho nên ông chỉ hỏi việc nhỏ trong chánh niệm thôi, như khi để đôi guốc xuống rồi thì cái dù anh gác bên phía nào. Một việc rất tầm thường. Nhưng mà lúc đó mình không có chánh niệm, mình sẽ quên, mình sẽ không biết cái dù mình để bên phía nào, nên khi người ta hỏi không trả lời được. Còn lúc đó nếu mình tỉnh giác, mình gác cái dù bên phải, mình tỉnh giác cái việc làm của mình rõ ràng. Vào người ta hỏi là mình biết liền. Cho nên ở đây cái Thiền, cái tỉnh giác chánh niệm, cái trí nhớ có liên quan với nhau. Khi mà mình còn những lúc đãng trí, thì biết rằng cái tỉnh giác của mình chưa thường xuyên. Câu hỏi này hay, nò nói về chánh niệm tỉnh giác, đôi khi chúng ta hiểu qua cái nghĩa Thiền ngữ, một câu hỏi mà để xem trong hiện tại Tenno trả lời được hay không, cũng có thể là như vậy nữa. Ví dụ như ông hỏi một câu bất ngờ mà Tenno lúc đó trả lời được liền, nó cũng là Thiền, cũng là đáp liền ngay khi người ta hỏi, mình không bị bối rối.
    Nhưng ở đây, thầy không thích cái lối đó, mà thầy thích nói theo cái chánh niệm tỉnh giác thôi. Là trong từng hành động của mình, mình ý thức rõ ràng. Thầy thích hiểu cái nghĩa này hơn. Nó bình thường, đơn giản mà nó thực tế hơn. Còn mà mình lanh miệng có thể đáp được cái câu hỏi của người khác, thầy vẫn không thích, đó chỉ là Thiền ngữ thôi. Mặc dù nó lanh lợi nhưng mà chưa chắc, nó biểu hiện được cái giải thoát trong đời sống. Còn cái nghĩa chánh niệm tỉnh giác. mình làm việc gì mình luôn luôn ý thức rõ, do tâm mình thanh tịnh, thì cái này thực tế hơn, nó cần thiết hơn cho đời sống của người tu hành.
    Qua chuyện thứ ba mươi sáu.
     
  17. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba mươi sáu:

    [FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot]MƯA HOA[/FONT]

    [FONT=&quot] S[/FONT]

    ubhuti là một đệ tử của Phật (Việt Nam gọi là Tu Bồ Đề), ông có thể hiểu sâu xa tiềm thể của tánh không. Lập trường này cho rằng không có gì hiện hữu trừ sự tương quan giữa chủ thể và khách thể (Câu này thầy không biết nguyên văn như thế nào chứ bản dịch không đúng).
    Một hôm Subhuti đang ngồi dưới một gốc cây hoa, trong một tâm cảnh tánh không cao độ. Hoa bắt đầu rơi quanh ông, rồi có tiếng thì thầm của các vị thần bên tai “Chúng tôi đang ca ngợi Ngài về bài thuyết pháp cái tánh không của Ngài.”
    Subhuti đáp “Nhưng tôi không nói về tánh không.” Tiếng thì thầm của các vị thần lại vang lên “Ngài không nói tánh không, chúng tôi cũng không nghe tánh không. Đây là tánh không chân thật.”
    Và hoa lại tiếp tục rơi xuống Subhuti như mưa.


    Cái truyền thuyết về Ngài Tu Bồ Đề khi Ngài ngồi Thiền trong hang núi mà chư Thiên rải hoa, mưa hoa xuống để cúng dường là câu chuyện được ghi trong kinh Bát Nhã. Thì Ngài được xem như đại đệ tử của đức Phật mà Ngài Đệ Nhất Giải Không, là hiểu được tánh không rõ nhất trong các đệ tử của Đức Phật. Câu chuyện này nhắc lại truyền thuyết đó để nói rằng, quan trọng nhất là để nhắc lại câu nói của các vị Thần, của các chư Thiên “Ngài không nói tánh không, chúng tôi cũng không nghe tánh không. Đây là tánh không chân thật.”
    Đoạn này nhắc chúng ta điều gì? Nhắc rằng có thể chúng ta nói về Thiền định, có thể chúng ta nói về hư vô, về vô biên, về Phật tánh, đủ thứ chuyện, nhưng cũng chỉ là người nói, chỉ là người nghe. Đến khi nào không còn phải nói, phải nghe, mà thật sự thể hiện, đó mới là tánh không chân thật. Nên câu chuyện này thúc đẩy chúng ta cố gắng thực hành một cách thật sự, chứ không còn chạy theo trên văn nghĩa nữa.
    Qua câu chuyện thứ ba mươi bảy.
     
  18. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba mươi bảy:

    [FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot]XUẤT BẢN KINH[/FONT]

    [FONT=&quot] T[/FONT]

    utsugen, một người hiến mình cho Thiền ở Nhật, quyết định xuất bản một bộ kinh mà thời bấy giờ chỉ được thông dụng bằng chữ Nho. Những quyển sách được in bằng những tấm bảng gỗ trong một lượt sản xuất bảy ngàn bản, thật là một việc làm kinh khiếp.
    Tutsugen bắt đầu du hành, làm một cuộc lạc quyên để thực hiện việc in kinh. Một vài người có nhiều thiện cảm cho Tutsugen một trăm đồng tiền vàng; nhưng phần nhiều, Tu Chu Ghen chỉ nhận được vài xu nhỏ của kẻ khác. Tutsugen tạ ơn những người có hảo tâm bằng một tấm lòng biết ơn như nhau.
    Sau mười năm, Tutsugen đã đủ tiền và bắt đầu vào công việc. Nhằm mùa nước lớn của sông Fu Ji tràn ngập, nạn đói xảy ra, Tutsugen đem tất cả vốn liếng đã góp để in kinh cứu những người khác khỏi chết đói, rồi Tutsugen bắt đầu đi quyên lại. Năm bảy năm sau đó, bệnh dịch lan truyền khắp nước Nhật. Tutsugen lại đem những gì đã góp được giúp mọi người, vì thế Tutsugen lại bắt đầu lần thứ ba.
    Và sau hai mươi năm, ý nguyện của Tutsugen đã được thực hiện hoàn toàn. Những bản in gỗ ra đời lần thứ nhất là những bộ kinh mà ngày nay người ta thấy trong tu viện Fu Ba Ku ở Kyoto.
    Người dân Nhật bảo với con cái họ rằng Tutsugen đã làm được ba bộ kinh và hai bộ đầu vô hình nhưng vượt hẳn bộ sau cùng.


    Câu chuyện rất cảm động, thầy đọc lại mà thầy vẫn còn thấy cảm xúc. Thật sự là đúng là kinh điển dạy cho mọi người làm lành lánh dữ để tu hành, v.v... Nhưng mà nó cũng chỉ là lời nói. Chính cái hành động làm gương nó có sức mạnh hơn. Câu chuyện này nói điều này. Nên kinh gì thì cũng dạy thương yêu chúng sinh, nói từ bi đủ chuyện, nhưng cũng chỉ là những lời nói mà Tu Chu Ghen là một người tu hành, ông đã biết làm hơn là biết nói. Ông cũng thiết tha với việc truyền bá kinh điển bởi vì không bao giờ ông bỏ cái hoài bảo của mình. Nhưng ông vẫn biết là cái lòng thương người, nó cần thể hiện bằng hành động thật sự hơn là lời nói.
    Bây giờ mình cũng vậy, mình cũng thường hay nói thương yêu chúng sinh, nhưng mà sao? Mình dễ nạt người ta lắm, dễ la người ta lắm, dễ hách dịch lắm. Nên rán thực sự thực hiện bằng cái tấm lòng chân thật của mình hơn là bằng lời nói. Lời nói cũng rất cần thiết, nhưng hành động còn cần thiết hơn.
    Qua câu chuyện thứ ba mươi tám.
     
  19. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba mươi tám:

    [FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot] TÁC PHẨM CỦA GISHO[/FONT]

    [FONT=&quot] G[/FONT]

    isho được chấp nhận làm ni cô lúc mười tuổi. Gisho được sự giáo huấn của những chú tiểu khác. Khi Gisho mười sáu tuổi, Gisho viếng từ Thiền sư này đến Thiền sư khác để học hỏi họ.
    Gisho lưu lại với Inzan ba năm, với Kusei sáu năm; nhưng vẫn không đạt được giác ngộ. Inzan chẳng phân biệt Gisho là người khác phái chi cả, ông mắng nhiếc Gisho như mưa bão. Inzan đã tát Gisho để đánh thức bổn tánh của Gisho. Gisho ơở lại với Inzan mười ba năm và rồi Gisho đã tìm được cái gì muốn tìm. Để tôn vinh Gisho, Inzan viết một bài thơ:

    “Ni cô này đã theo học dưới sự hướng dẫn của ta mười ba năm
    Buổi sáng cô ta xem xét một công án sâu xa nhất
    Buổi chiều cố ta dấn thân một công án khác
    Tetsuma, một ni cô Trung Hoa đã vượt qua tất cả trước Gisho
    Và kể tử Mujuka, không ai có chân tài như Gisho này
    Hẳn còn nhiều cửa nữa để Gisho vượt qua
    Gisho sẽ còn nhận nhiều cú đấm của bàn aty sắt ta.”

    Sau khi giác ngộ, Gisho đến tỉnh Banshu bắt đầu sống trong một ngôi đền riêng và dạy cho hai trăm ni cô khác cho đến khi Gisho qua đời vào tháng Tám năm nọ.


    Ở đây, một người ni đã giác ngộ, là một Thiền sư mà giáo hóa được hai trăm đệ tử. Thật là một chuyện đặc biệt hiếm có. Câu chuyện này có mấy điểm, thứ nhất là, nêu tấm gương của một người ni đã tu hành lỗi lạc. Thứ hai là về ông thầy, ông không xem Gisho là một người nữ mà ông cũng thẳng thừng dạy một cách nghiêm khắc, kể cả dùng cái tát, cái đánh để mà dạy và Gisho đã ngộ đạo. Mặc dù với những thủ đoạn có vẻ tàn bạo, nhưng lòng ông thầy rất là thương. Khi thấy người đệ tử của mình thành đạt, ông viết một bài thơ để ngợi khen.
    Ở đây mình có ni nhiều hơn tăng, tương lai để xem có ai là Gisho không?
    Qua chuyện thứ ba mươi chín.
     
  20. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba mươi chín :

    [FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot] NGỦ NGÀY[/FONT]

    [FONT=&quot] Đ[/FONT]

    ại sư Soyen Shaku qua đời lúc sáu mươi mốt tuổi. Soyen Shaku đã làm việc trọn đời mình. Soyen đã để lại một giáo lý vĩ đại phong phú hơn rất nhiều giáo lý của hầu hết các Thiền sư khác.
    Các đệ tử của Soyen hay ngủ ngày giữa mùa hè trong khi Soyen bỏ qua điều và chính mình không lãng phí một phút nào. Vừa được hai mươi tuổi, Soyen đã học tư tưởng triết lý của trường phái Tendai (Nghĩa là Thiên Thai).
    Vào một ngày mùa hạ, tiết trời rất oi bức, chú bé Soyen xoãi chân ra ngủ trong khi thầy chú đi vắng. Ba tiếng đồng hồ êm ả trôi qua, bỗng dưng chú Soyen thức giấc, nghe tiếng chân thầy bước gần, nhưng quá trễ rồi, chú nằm ì ra đó, chắn ngang lối vào cửa.
    “Xin lỗi con, xin lỗi con.” Thầy chú thì thầm và nhè nhẹ bước qua người chú như là một người khách đặc biệt. Sau vụ này không bao giờ Soyen ngủ ngày nữa.


    Nghĩa là Thiền sư Soyen lúc còn nhỏ được cảm hóa bởi ông thầy. Ông không có rầy mắng mà lại tôn trọng đệ tử như một người khách. Mà viêc này làm cho chú cảm động. Đây là một lối dạy đặc biệt mà ông thầy đã dùng lối dạy đúng người. Với một con người có ý thức cao, ông thầy đã cảm hóa bằng cách đánh thức lòng tự trọng của Soyen. Và Soyen làm được.
    Nhưng mà đừng rơi vào cực đoan. Với những người có ý thức nhiều khi thầy chỉ cần nhìn là người đó hiểu rằng thầy không bằng lòng, họ sẽ không làm nữa. Nhưng có những người không hiểu, thì thầy có nói khan cổ cũng không được. Ở đây khen thầy Soyen ở chỗ này. Ta cố gắng học cái hạnh của Xô Zen. Ta không cần ông thầy phải nói nhiều, chỉ với ánh mắt và cử chỉ là biết ông thầy muốn gì và cố gắng làm theo, không đợi thầy phải nói thành lời. Người có trí tuệ là vậy.
    Qua câu chuyện bốn mươi.
     

Tình hình diễn đàn

Tổng: 1,168 (Thành viên: 0, Khách: 1,158, Robots: 10)