Tìm kiếm bài viết theo id

Anh em giúp NHMOLS về Tết nguyên đán trên TÂY NGUYÊN

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi NHMOLS, 15/1/10.

ID Topic : 1531084
Ngày đăng:
15/1/10 lúc 08:59
  1. THIENSANU SPAM's KILLER

    tết này có dịp ăn tết tây nguyên tại kontum thì hú em nha anh Anh em giúp NHMOLS về Tết nguyên đán trên TÂY NGUYÊN . Tìm hiểu về du lịch thì anh ghé www.phuot.com sẽ có nhiều cái hay để đọc về tây nguyên đó .
     
  2. lovemanu MUFC MỘC TỒN (18)

    tiếng trống Paranưng, ngọn lửa cao nguyên, đi tìm bài hát nữ thần mặt trời,...
    Hoặc anh Minh tìm những bài hát của nhạc sĩ Nguyễn Cường, người có nhiều bài hát về Tây Nguyên và mang âm hưởng Tây Nguyên
     
  3. mr.kashi Tự Lực Cánh Sinh

    zìa Gia Lai chơi thử tìm ko hỉu ko a Anh em giúp NHMOLS về Tết nguyên đán trên TÂY NGUYÊN
     
  4. your_rules1708 Support box Mobile Thành viên BQT

    Hè vừa rùi về Gia Lai chơi, được thằng bạn dẫn đi vào khu ng dân tộc chơi, băng ngang wa cánh đồng toàn là trồng chè, nhìn đẹp lắm, thix nghe các bài Giấc mơ Chapi, chiều lên bản thượng, nghe mấy bài này thì cảm thấy thix Tây Nguyên lắm
     
  5. your_rules1708 Support box Mobile Thành viên BQT

    Thác Ba Tầng
    Vị trí: Thuộc huyện Đắk Nông, tỉnh Đắk Nông, cách thị trấn Gia Nghĩa khoảng 8km theo quốc lộ 14 ngược hướng về Buôn Ma Thuột.
    Đặc điểm:Quanh thác Ba Tầng có nhiều cây cổ thụ và có bãi đất rộng bằng phẳng, thoáng mát để cho du khách cắm trại, thư giãn khi đến thăm thắng cảnh này.

    Người ta gọi là thác Ba Tầng bởi vì khi nước suối chảy đến đây phải qua ba tầng thác mới đến lòng suối nằm ở phía dưới. Ba tầng thác này nằm nối tiếp nhau trong một chiều dài khoảng 40m. Tầng thứ nhất không cao lắm, nước từ các tảng đá rơi xuống lòng thác từ độ cao hơn 1,5m. Cách tầng thác thứ nhất chừng 20m là tầng thác thứ hai. Ở tầng thác này, dòng nước suối xanh trong sau khi len lỏi giữa những tảng đá nằm kề nhau và từ độ cao khoảng 2m đã tràn xuống phía dưới tung bọt trắng xóa. Thác thứ ba là thác lớn nhất và là thác chính của cụm thác Ba Tầng. Ngọn thác chính này cao hơn 20m, ngày đêm ầm ào chảy giữa khung cảnh yên vắng của núi rừng và đổ tràn về hai bên bờ suối. Ở đây dòng suối khá rộng, ven bờ có nhiều lùm cây cao tỏa bóng mát mà du khách có thể ngồi nghỉ ngơi ngắm cảnh dòng nước tuôn trào từ trên cao xuống trong âm vang của tiếng thác reo. Đứng dưới nhìn lên ta thấy hơi nước tỏa bay ra xung quanh như một lớp sương mù bao phủ ngọn thác mải miết reo vang muôn thuở giữa ngàn xanh.

    www.taynguyenpro.com
     
  6. your_rules1708 Support box Mobile Thành viên BQT

    “Làng” nhà mồ ở Kông Chro
    Khác với rừng ma của người Giẻ Triêng, nhà mồ và tượng nhà mồ của người Bahnar lại rất gần gũi với người sống trong buôn làng vì họ tin rằng có một thế giới người chết tồn tại song hành với cuộc sống dương gian. Chúng tôi đã tìm về làng B’Yang (thị trấn Kông Chro, huyện Kông Chro, Gia Lai) để nghe những người dân nơi đây kể chuyện nhà mồ và tượng nhà mồ.


    Những bức tượng sống cùng người chết

    Thuộc thị trấn Kông Chro nhưng làng B’Yang có ”sức đề kháng” mãnh liệt trong cơn lốc đô thị hóa nên còn lưu giữ những đặc trưng văn hóa của dân tộc Bahnar, đặc biệt là tục táng nhà mồ. Bên dòng sông Ba yên ả (người bản địa vẫn quen gọi là Đak Kroong), mái nhà rông của người Bahnar Bờ Nơm vút lên trời sừng sững như một lưỡi rìu khổng lồ. Gần một ngàn người dân trong làng cư trú trong hơn 100 nóc nhà sàn theo mô hình “làng tròn” vây quanh nhà rông thanh bình. Đến B’Yang lại thấy tiếc cho những ngôi “làng tròn” bị phá vỡ cấu trúc truyền thống và xếp lại thành “làng phố” kéo dài san sát trong các dự án tái định cư của các công trình thủy điện Tây Nguyên.


    “Làng” nhà mồ B’Yang. Ảnh: Đức Trung

    Trưởng ban Dân vận Huyện ủy Kông Chro- ông Đinh Keo dẫn chúng tôi tới một gốc mít cổ thụ của làng. Vây quanh gốc mít này là hàng chục tượng nhà mồ mới được đẽo thành hình hài, chưa sơn màu nhưng trông rất có hồn và sống động. Trong những pho tượng được người làng dựng quay mặt ra ngoài, có cả tượng khỉ bồng con, bà già ôm mặt rầu rĩ, chim công, chim cú và cả tượng chó, mèo… Làng B’Yang có rất nhiều người có khả năng tạc tượng nhà mồ. Không kể giàu, nghèo, theo phong tục Bahnar, đẽo tượng “đi theo” người chết là điều bắt buộc phải làm, thể hiện lòng tôn kính, tình cảm tiếc thương của người sống đối với người đã khuất. Tượng đi theo người chết thường được tạc theo ý thích, nghề nghiệp của người đó khi còn sống và nhất định là phải theo cặp âm-dương, con vật cũng phải có cuộc sống lứa đôi. Người Bahnar Bờ Nơm quan niệm tượng được tạo ra là để theo hầu người chết và nhất thiết phải đi theo cặp. Kể cả người chết là người suốt đời độc thân thì khi chết cũng phải có cặp tượng đi theo.

    “Làng” nhà mồ

    Nhìn từ xa, nghĩa địa làng B’Yang trông như một ngôi làng Bahnar thu nhỏ, những nóc nhà mồ có hình mái nhà rông được trang trí bằng những cây Klao (một dạng cây nêu nhà mồ) sặc sỡ vút lên cao giữa rừng xanh. Mái nhà mồ của người Bahnar lại có cơ cấu phát triển theo chiều cao, đa số làm bằng tre đan có trang trí họa tiết hoa văn hình học với hai mặt phẳng chính. Mỗi một loại hoa văn với cách sắp xếp khác nhau là một gợi ý về vũ trụ luận. Có thể đó là biểu tượng của mặt trời, mặt trăng và các thiên thể. Người Bahnar quan niệm cột Klao là đường dẫn linh hồn người chết lên trời, họ còn gọi các vật trang trí bên ngoài là mặt Nar (mặt trời), mặt Khei (mặt trăng). Anh Đinh Êu-cán bộ Phòng Văn hóa- Thông tin huyện Kông Chro cho biết: Nhà mồ chỉ được làm sau lễ bỏ mả, với người giàu có thể bỏ mả sau mùa lúa mới đầu tiên tính từ ngày chết, nhưng với gia đình nghèo có khi phải đến mấy năm sau. Tượng nhà mồ dành cho người nghèo cũng chỉ là những con vật gắn liền với cuộc sống nương rẫy.

    ]

    Một ngôi nhà mồ được xây dựng công phu. Ảnh: Đức Trung

    Giữa hàng chục ngôi nhà mồ của nghĩa địa làng B’Yang, đập vào mắt chúng tôi đầu tiên là nhà mồ của ông Đinh Gliu- nguyên Trưởng ban Văn hóa thị trấn Kông Chro. Trên diện tích khoảng 20 m2, ngôi nhà mồ của ông Đinh Gliu được xây dựng kỳ công như một nhà rông thu nhỏ. Bốn cột chính được trang trí bằng 4 cặp ngà voi tượng trưng, 2 cây Klao cao nhất nghĩa địa. Mặt trước và mặt sau ngôi mộ được gắn 2 cặp tượng nam nữ mặc quân phục và váy thời trang sơn phết đủ màu trông như thật. Trong khuôn viên nhà mồ có cả những cây lúa đã trổ bông, có giá để củi và góc chia của cho người chết. “Hàng xóm” của ông Đinh Gliu là một nhà mồ của nữ. Trong một góc của ngôi mộ này còn có dàn khung cửi dệt thổ cẩm dành cho người chết, một đầu trâu được chia trong lễ bỏ mả và cả một giá để hàng trăm thanh củi được xếp ngăn nắp. Người Bahnar tin rằng, người chết cũng cần có củi, lửa để sưởi ấm và trong những thứ vật phẩm cúng cơm hàng ngày trên mộ trước lễ bỏ mả nhất thiết phải có củi, lửa và nước. Phía trước những ngôi mộ trong nghĩa địa làng B’Yang luôn có một giếng nước tượng trưng với gáo dừa để bên cạnh.

    Tạm biệt làng B’Yang, chúng tôi tình cờ nghe câu chuyện gần đây có nhiều người đã tìm đến vùng này mua tượng nhà mồ. Chợt nhớ đến cái lắc đầu của ông Đinh Keo khi dẫn chúng tôi xem những tượng gỗ có thể chỉ được tạc ra để bán dưới gốc mít làng B’Yang mà thấy rầu lòng. Rồi mai đây, trong cơn lốc “đô thị hóa”, không biết con cháu người Bahnar ở làng B’Yang có giữ được những ngôi nhà và tượng nhà mồ của cha ông để lại hay không?

    Đức Trung- Công Hoan
    (baogialai.vn)
     
  7. your_rules1708 Support box Mobile Thành viên BQT

    Hồ Lắk - Điểm du lịch sinh thái ở Buôn Ma Thuột
    Hồ Lắk nằm bên thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk, trên tuyến đường giao thông giữa Buôn Ma Thuột và Đà Lạt, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 56 km về phía Nam theo quốc lộ 27, là hồ nước tự nhiên lớn nhất tỉnh Đắk Lắk.


    Được coi là mắt xích quan trọng trong các tour du lịch Buôn Ma Thuột, Hồ Lắk cũng là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc và độc đáo của người M"nông bản địa. Từ điểm du lịch Hồ Lắk, du khách có thể đến với buôn Jun – lựa chọn những ngôi nhà dài để làm điểm nghỉ chân hay tham quan Biệt điện Bảo Đại.

    Khi đến với quần thể du lịch Hồ Lắk, một địa điểm có thể nhìn tổng quan cảnh hồ là ngôi nhà nghỉ mát của cựu Hoàng đế Bảo Đại. Đây là nơi Bảo Đại thường đến ngắm cảnh, săn bắn, nghỉ ngơi mỗi khi có dịp lên thành phố Buôn Ma Thuột. Biệt điện nằm ở độ cao 422 mét so với mặt nước biển, qua năm tháng và nắng mưa nhưng vẫn lưu giũ di tích lịch sử, ẩn chứa phong cách kiến trúc của cả phương Đông và phương Tây. Mái ngói, sàn gỗ trong khung cảnh yên ả nơi núi rừng – biệt điện Bảo Đại đã trở thành di tích lịch sử của thành phố Buôn Ma Thuột.

    Từ Biệt điện, hướng mắt ra xa là cảnh Hồ Lắk mêng mông, nguyên sơ, dài uốn khúc như một dải lụa thiên thanh bao quanh thị trấn Lạc Thiện. Hồ rộng trên 500 ha, được thông với con sông Kơ Rông Ana. Mặt hồ luôn xanh thắm in bóng rừng thông trên các ngọn đồi ven hồ. Xung quanh hồ là các cánh rừng nguyên sinh rộng lớn với hệ động thực vật phong phú.

    Bên Hồ Lắk có buôn Jun và buôn MLiêng, những buôn làng tiêu biểu của dân tộc MNông. Hai buôn này được tổ chức thành một điểm du lịch quan trọng như những buôn bảo tồn, giới thiệu văn hóa dân tộc bản địa Tây Nguyên. Ở đây còn lưu giữ được rất nhiều những ngôi nhà dài truyền thống với mái lợp cỏ tranh vách thưng liếp nứa. Du khách đến đây còn được thưởng thức những nét văn hóa Tây Nguyên như điệu múa lửa, múa ngày mùa, diễn xướng cồng chiêng, đàn đá, hay đi thuyền độc mộc đi dạo trên hồ. Điểm du lịch sinh thái Hồ Lắk góp phần làm ấn tượng hơn cho thủ phủ café Buôn Ma Thuột.
     
  8. your_rules1708 Support box Mobile Thành viên BQT

    Tây Nguyên là một vùng đất ẩn chứa nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý báu, trong đó nổi bật hơn cả là sử thi, mà trước đây chúng ta thường gọi là Trường ca, Anh hùng ca, một thể loại tự sự dân gian truyền miệng, cho tới nay vẫn được lưu giữ trong trí nhớ của người dân và thường được diễn xướng trong các dịp sinh hoạt cộng đồng. Việc phát hiện, sưu tầm và công bố các tác phẩm sử thi là cố gắng của nhiều thế hệ các nhà sưu tầm và nghiên cứu văn hoá dân gian gần một thế kỷ qua.

    Người ta thường nhắc tới tên tuổi L. Sabatier với việc lần đầu tiên Ông sưu tầm và công bố Khan Đăm Xăn năm 1927 và sau đó được dịch ra tiếng Pháp, khiến thế giới phương Tây biết tới một “bài thơ tuyệt đẹp”, một “kiệt tác” của văn học truyền miệng của các dân tộc thiểu số Đông Dương (như lời của nhà Việt Nam học Pháp nổi tiếng G. Condominas). Tiếp sau Khan Đăm Xăn, Năm 1955, D. Antomarchi và G. Condominas đã sưu tầm, công bố và giới thiệu Khan Đăm Di.

    Vào những năm 60 của thế kỷ XX, khi đất nước ta còn bị chia cắt, một số cán bộ người Tây Nguyên tập kết ra miền Bắc, như Y Điêng, Y Yung, Kơxo Bơliêu cùng Ngọc Anh đã tập hợp và công bố tập sách Trường ca Tây Nguyên với các tác phẩm: Xing Nhã, Đăm Di, Khinh Dú, Đăm Đơroan, Y Ban, Y Bơrao. Với cuốn sách nổi tiếng một thời này, ngoài hai sử thi đã được người Pháp công bố từ trước thập kỷ 50, thì số lượng sử thi đã tăng lên đến 7 tác phẩm, trong đó chủ yếu là của dân tộc Êđê. Sau khi xuất bản Trường ca Tây Nguyên, đây đó một số tác giả đã công bố lại sử thi Đăm Xăn, như của Y Wang, Nguyễn Hữu Thấu, tuy nhiên, các tác phẩm này chủ yếu vẫn dựa trên bản dịch Đăm Xăn của L. Sabatier.

    Tuy đây là những phát hiện ban đầu rất đáng trân trọng về sử thi Tây Nguyên, nhưng về mặt phương pháp sưu tầm và văn bản còn có nhiều vấn đề cần bàn cãi. Thí dụ, về văn bản, ngoài Đăm Xăn là tác phẩm duy nhất có bản ngữ Êđê, còn lại hầu hết chỉ có bản dịch ra tiếng Việt; các yếu tố diễn xướng chưa được chú ý trong khi sưu tầm và thể hiện trong văn bản. Thậm chí, người ta còn cho rằng có sự gia công, cắt xén của bàn tay người sưu tầm và công bố…

    Có thể coi thập kỷ 90 tới nay là thời kỳ Phát hiện lại sử thi Tây Nguyên trên địa bàn các tộc người với số lượng và khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, tạo nên bước đột phá về chất trong phát hiện và nhận thức sử thi Tây Nguyên. Mở đầu cho giai đoạn này là việc Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Đắc Lắc tổ chức điều tra sưu tầm văn hóa dân gian các dân tộc trong tỉnh, trong đó sử thi là một mục tiêu quan trọng. Cùng với Đắc Lắc, các cơ quan văn hóa và cá nhân những người sưu tầm ở các tỉnh Gia Lai, Kom Tum, Phú Yên cũng có những hoạt động sưu tầm sử thi.

    Những phát hiện trong việc sưu tầm và công bố sử thi trong thập kỷ 80 còn tương đối khiêm tốn hạn hẹp về địa bàn và số lượng tác phẩm. Với nhóm sưu tầm ở Đắc Lắc, một số sử thi của người Êđê được phát hiện thêm, như Hbia Sun-Găn kđiêng, Mđrong Đăm, Hjong - Hlong, HDung- Y Thu, Đăm Thí, Mhiêng, Hbia Bao-Mtao Grăn Kđiêng ...); ở Gia Lai và Kom Tum, nhóm Tô Ngọc Thanh công bố Đăm Noi của người Ba Na, Nguyễn Thị Hồng với Giông nghèo tám vợ và Tre Vắt ghen ghét Giông của người Ba Na, Ka Sô Liễng ở Phú Yên cũng đã để công sưu tầm một số trường ca của người Êđê và Chăm Hroi...




    Ảnh: itaexpress.com.vn

    Bước nhảy vọt trong việc phát hiện và nhận thức sử thi Tây Nguyên là từ cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 tới nay. Đột phá cho giai đoạn này là nhóm điều tra sưu tầm của Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian cùng với Sở Văn hóa Thông tin Đắc Lắc lần đầu tiên phát hiện hệ thống sử thi đồ sộ Ot Ndrông của người Mnông, mà qua hơn 10 năm điều tra, sưu tầm đến nay chúng ta vẫn chưa xác định một cách chính xác số lượng và khối lượng tác phẩm của nó. Phát hiện quan trọng này đã được phản ánh trong Hội thảo Khoa học về Sử thi Tây Nguyên, tổ chức ở Buôn Ma Thuột ngày 19/5/1997 do Trung Tâm KHXH & NV Quốc gia phối hợp với UBND tỉnh Đắc Lắc tổ chức. Đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới việc xây dựng và thực thi Dự án Diều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên, mà Chính phủ đã giao cho Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên thực hiện từ 2001 - 2007.

    Từ năm 2001 - 2005, trọng tâm của dự án là điều tra và sưu tầm những tác phẩm sử thi truyền miệng đang còn lưu giữ trong trí nhớ của nhân dân, sau đó từ 2005 - 2007 tiến hành biên dịch và xuất bản 75 tác phẩm sử thi. Kết quả của dự án: Đã sưu tầm đươc 801 tác phẩm sử thi truyền miệng, lưu giữ trong 5679 băng ghi âm loại 90 phút, tương ứng với khoảng 8500 giờ trình diễn sử thi của nghệ nhân. Từ các tác phẩm truyền miệng được thu băng trên, chúng tôi lựa chọn ra 75 tác phẩm in trong bộ sách “KHO TÀNG SỬ THI TÂY NGUYÊN” gồm 62 tập (mỗi tập dày từ 500 đến 1400 trang).

    Trong bộ sách “Kho tàng sử thi Tây Nguyên”, sẽ chia thành các bộ nhỏ hơn, như Sử thi Khan của Êđê, sử thi Ot Ndrông của Mnông, sử thi Aka Juka của Raglai, sử thi Hơ mon của Xơ Đăng, Ba Na, Sử thi Hri Gia Rai... Trong bộ sử thi của mỗi dân tộc như vậy, thí dụ, trong bộ sử thi Ot Nđrông của người Mnông đã xuất bản được 26 tập, Bộ sử thi Hmon Ba Na đã in 30 tập, bộ sử thi Khan Ê Đê đã in 10 tập, bộ sử thi Hmon Xơ Đăng đã in 4 tập, bộ sử thi Hri Gia rai đã in 3 tập, bộ sử thi Akhát Juka Raglai đã in 2 tập... Tất nhiên, với bộ “Kho tàng sử thi Tây Nguyên” cũng như các tiểu bộ của từng dân tộc đều là các “bộ mở”, có nghĩa là không giới hạn số tập, mà số tập nhiều hay ít hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình sưu tầm, biên dịch và xuất bản sau này. Từ năm 2008 đến 2010, sau khi dự án điều tra, sưu tầm và in 75 tác phẩm kết thúc (2001 - 2007), được sự tài trợ của Nhà nước, chúng tôi lại tiến hành phiên dịch và in thêm 25 tác phẩm nữa, để tới năm 2010 in trọn 100 tác phẩm sử thi Tây Nguyên.

    Mỗi tập sách với độ dài trên dưới 1000 trang, khổ 16x24 sẽ công bố trọn vẹn một tác phẩm sử thi dưới hình thức song ngữ: Tiếng dân tộc và tiếng phổ thông. Tuy nhiên, cũng không loại trừ trong mỗi tập sẽ in 2-3 tác phẩm của cùng một dân tộc hoặc một tác phẩm của dân tộc, do độ dài quá lớn thì sẽ in trong 2 - 3 tập. Trong mỗi tập, ngoài phần văn bản song ngữ, sẽ có lời giới thiệu tác phẩm của người biên tập văn học, bản chú thích, chú giải tác phẩm. Bản phiên âm tác phẩm sử thi của dân tộc nào thì chúng tôi sử dụng bộ vần chữ sẵn có của dân tộc đó, như chữ Êđê, Raglai, Ba Na... Với dân tộc chưa có chữ viết thì chúng tôi dùng bộ vần la tinh tiếng phổ thông để phiên âm. Như vậy, trên bìa của mỗi cuốn sách, sẽ có tên chung của bộ sách Kho tàng sử thi Tây Nguyên, tên bộ sử thi của mỗi dân tộc và cuối cùng là tên của tác phẩm sử thi được in trong cuốn sách đó.

    Từ góc độ vùng lãnh thổ và tộc người, có thể phân chia vùng sử thi Tây Nguyên thành 4 tiểu vùng, mà mỗi tiểu vùng như vậy chứa đựng các sắc thái riêng:

    - Tiểu vùng sử thi Ba na - Xơ đăng ở bắc Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Kon Tum, và Gia Lai. Các tộc người này nói ngôn ngữ Môn - Khơ me. Đây là tiểu vùng có số lượng sử thi khá lớn. Trong số trên 800 tác phẩm đã sưu tầm của cả vùng Tây Nguyên, thì sử thi Ba na, Xơ đăng chiếm 275 tác phẩm (chiếm khoảng 30% tống số tác phẩm sưu tầm). Sử thi ở đây phần nhiều thuộc loại sử thi liên hoàn (sử thi phả hệ) liên quan đến hai nhân vật anh hùng huyền thoại là Duông và Giông. Quy mô của mỗi tác phẩm không lớn như Ot’ Nđrông của Mnông hay Akha Juka của Raglai, nhưng khi xâu chuỗi các tác phẩm này lại với nhau, thông qua các hành động nhân vật Duông và Giông thì lại tạo nên chuỗi tác phẩm liên hoàn (xâu chuỗi) khá đồ sộ. Nội dung tác phẩm, ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật của sử thi Ba na và Xơ đăng khá tương đồng, khiến người ta có thể lầm lẫn giữa sử thi Ba na và Xơ đăng.
    Khi diễn xướng nghệ nhân có thể ngồi hay nằm, đặc biệt người Ba na diễn xường sử thi Hmon vào ban đêm, trong bóng tối.

    - Tiểu vùng sử thi Êđê - Gia rai ở miền trung Tây Nguyên trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc. Các tộc người này nói ngôn ngữ Nam Đảo (Austronesien). Sử thi ở đây được người Pháp phát hiện khá sớm, vào các thập niên 20 thế kỷ XX. Đó là Sử thi KhanSử thi Hri của người Gia rai cũng sưu tầm được khá nhiều (khoảng 50-60 tác phẩm), nhưng vì chưa phiên âm và dịch ra được, nên chúng ta chưa thể tiếp cận cụ thể các tác phẩm này. Các tác phẩm sử thi thuộc tiểu vùng này thường có độ dài vừa phải (khoảng 150-200 trang, diễn xường khoảng trên dưới 15 giờ). Nội dung sử thi đề cập đến chiến tranh và các nhân vật anh hùng, hình thức ngôn ngữ điêu luyện. Các nhà nghiên cứu thường xếp sử thi Khan Êđê là sử thi anh hùng (sử thi thiết chế xã hội) để phân biệt với sử thi Mnông là sử thi thần thoại (sử thi sáng thế) của người Êđê, như Đăm Xăn, sau này có thêm Xinh Nhã, Khinh Dú, Đăm Di... Tống số tác phẩm của người Êđê sưu tầm được vừa qua lên tới trên 60 tác phẩm. Riêng.

    - Tiểu vùng sử thi Mnông - Xtiêng ở Nam Tây Nguyên, trên địa bàn các tỉnh Đắc Nông, Lâm đồng, Bình Phước. Đây là các tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ me, trong đó sử thi Xtiêng phát hiện được ở nhóm Xtiêng Bulơ (Xtiêng cao) giống với sử thi Ot Nđrông của người Mnông. Từ xa xưa hai tộc Mnông và Xtiêng cùng một gốc, sau này mới phân hóa thành hai dân tộc như ngày nay. Số lượng các tác phẩm sử thi Ot’Nđrông sưu tầm được chiếm số lượng lớn nhất 281 tác phẩm, thường các tác phẩm này có độ dài vào loại nhất, thường là từ 700- trên 1000 trang (diễn xướng 30-40 giờ). Đặc biệt, phần lớn các tác phẩm sử thi này dưới dạng liên hoàn (phổ hệ), tạo nên tác phẩm đồ sộ, dài vào loại nhất ở nước ta và trên thế giới.

    - Tiểu vùng sử thi Raglai, Chăm trên địa bàn Khánh Hòa, Ninh thuận, Bình Thuận. Đây là địa bàn chưa điều tra và sưu tầm kỹ, nên số lượng tác phẩm thu được chưa nhiều, khoảng trên 30 tác phẩm, nhưng nếu kể các tác phẩm thu được thì có độ dài rất lớn, diễn xướng trong nhiều giờ (từ 50-60 giờ), tiêu biểu như các tác phẩm: Udai-Udac, Che Tili, Dăm Mutui Ama, Dăm Chi Lăng... Sử thi Akha juka của người Raglai phản ánh những nội dung lịch sử và xã hội liên quan nhiều đến người Chăm, quốc gia Chămpa và xa hơn là với Ấn Độ. Điều này hoàn toàn có thể giải thích được từ mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử giữa người Chăm và Raglai trong quá khứ.

    Với những phát hiện mới về sử thi Tây Nguyên từ sau thập niên 70 của thế kỷ trước của các nhà sưu tầm và nghiên cứu Việt Nam, khiến chúng ta biết đến hai loại tác phẩm sử thi ở Tây Nguyên. Đó là loại tác phẩm sử thi “độc lập” và loại tác phẩm sử thi “liên hoàn”. Tác phẩm sử thi độc lập là các tác phẩm riêng rẽ, trong đó các nhân vật anh hùng có tên tuổi riêng, sự nghiệp, hành động riêng, khiến nó có thể đứng độc lập trong các tác phẩm cùng loại. Như đã giới thiệu ở trên, loại tác phẩm này thấy phổ biến ở sử thi của người Êđê, Gia rai, Raglai, phân biệt với loại tác phẩm sử thi “:liên hoàn” (còn gọi là “xâu chuỗi”, “phổ hệ”) thường thấy ở các tộc Mnông, Ba na, Xơ đăng. Loại sử thi “liên hoàn” này, một mặt, mỗi tác phẩm có vị trí “độc lập” tương đối, có nhân vật, có nội dung, tình tiết riêng, nhưng mặt khác, những nhân vật anh hùng này lại có mối liên hệ với các tác phẩm khác trong hệ thống.

    Mối liên hệ nhân vật anh hùng giữa các tác phẩm trong hệ thống thường có hai dạng chính. Dạng thứ nhất là cùng tên một nhân vật anh hùng, như Giông của người Ba na, Duông của người Xơ đăng, chỉ khác là mỗi tác phẩm nói về một hành động, như “Giông cứu nàng Rang Hu”, “Giông đánh quỷ Bung Lung”, “Giông đạp đổ núi cao ngất”... (Ba na)., “Duông hóa cọp”, “Duông đánh quỷ Barmar”, “Duông làm nô lệ”, “Duông trong lốt ông già”... (Xơ đăng). Dạng thứ hai, mà dạng này thấy phổ biến ở người Mnông, là các nhân vật anh hùng không phải là một, mà là nhiều người, như Tiăng, Tang, Yang, Giông, Lênh, Yơng, Kong, Mbong... Họ là những nhân vật khác nhau, nhưng có mối quan hệ theo phả hệ, là cha con, anh em, chú bác... của một đại gia tộc mà mẹ Rong, bố Bông là cha mẹ đầu tiên. Số tác phẩm trong một bộ sử thi phổ hệ này của người Mnông lên tới chục, thậm chí con số trăm.

    Hai dạng kết cấu tác phẩm sử thi nêu trên cần được nghiên cứu kỹ lưỡng về mặt cấu trúc tác phẩm, nội dung phản ánh và quan trọng hơn cả là đặc tính tộc người của các tác phẩm. Quan sát bước đầu thì loại tác phẩm sử thi độc lập thương gắn với các tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo, còn sử thi liên hoàn thì gắn với các tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơme.

    GS-TS Ngô Đức Thịnh

    (Theo Sachhay.com)
     
  9. Mr. SHOCK Thành Viên Cấp 4

    Về các nét văn hóa của Tây nguyên thì do Tây nguyên có nhiều dân tôc khác nhau, do đó họ có nhựng phong tục tập quán khác nhau...

    Những điểm chung nổi bật thì có : Văn hóa cồng chiêng - Nhà chung (Nhà sàn lớn nhất) - Già làng - Lối sống v.v....v.v...


    Em nghĩ một số thông tin từ Wikipedia có thể giúp được cho anh phần nào:

    + Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên :

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%B4ng_gian_v%C4%83n_h%C3%B3a_C%E1%BB%93ng_Chi%C3%AAng_T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn

    + Các đặc điểm của Tây nguyên :

    http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn

    + Một số hình ảnh đặc trưng về Tây nguyên :

    http://commons.wikimedia.org/wiki/Category:T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn?uselang=vi

    Em nghĩ nếu làm một bài nghiên cứu thì mấy tài liệu trên có thể giúp chút gì đó cho anh ...

    ( Nhưng em phân vân - Theo phong tục của Các dân tôc tại Cao nguyên trung phần thì họ không có ăn tết Nguyên Đán - Do ở gần người Kinh nên càng ngày họ càng học + Có những nét văn hóa tương đồng như là cũng đi chơi , sắm sửa ... trong những ngày nguyên đán ..)

    Nhưng "tết" - "lễ hội" của Các Dân tôc Tây nguyên thì hoàn toàn khác & Có những nét đặc trưng riêng biệt so với "tết" của dân tôc Kinh
    ..

    ACE đóng góp nhiều rồi .. Miềng thì kiến thức hạn hẹp nên chỉ có thể trích dẫn thêm

    Nguồn : http://ltvietdl.violet.vn/entry/show/entry_id/1872596
    Trong Blog này có nhiều bài nghiên cứu khá hữu ích về "tế" về một số nét Văn hóa của Đồng bào các Dân tộc Tây nguyên
    Văn hóa Tây Nguyên

    http://ltvietdl.violet.vn/entry/list/cat_id/1932802

     
  10. Mr. SHOCK Thành Viên Cấp 4

    Thêm cái này nữa .. Nếu không cần thiết .. Anh Minh Del dùm !!!

     
  11. HELIBOY Thành Viên Chưa Kích Hoạt

    Nhớ có lên TN ăn cơm Lam với thịt nướng quá trời ngon!!!!!!!!
     
  12. CPgroups Thành Viên Kim Cương

    Qua cam chơi cho gọn,khỏi cần tư liệu,có thổ địa sẵn,cho ông thỏa mãn máu chơi đồ audio nữa.Đi không tui book vé sẵn cho ông luôn. Anh em giúp NHMOLS về Tết nguyên đán trên TÂY NGUYÊN
     
  13. bkav_pro Thành Viên Chưa Kích Hoạt

    tết ở đâu cũng lì xì hết đó
    cái đây là quan trọng lắm nè
    mod đừng xoá nhé ^^
     

Tình hình diễn đàn

  1. vanquyensg2020,
  2. vanquyensg2024,
  3. vanquyensg2021,
  4. vanquyensg2022
Tổng: 1,048 (Thành viên: 5, Khách: 1,031, Robots: 12)