Tìm kiếm bài viết theo id

Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi tran_phuong, 14/11/08.

ID Topic : 566077
Ngày đăng:
14/11/08 lúc 23:07
  1. tran_phuong Thành Viên Cấp 5

    Tham gia ngày:
    23/4/07
    Tuổi tham gia:
    18
    Bài viết:
    2,435
    Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng
    Những năm gần đây, qua các phương tiện thông tin đại chúng, bạn đọc đã biết đến khả năng đặc biệt: tìm mộ từ xa của các nhà ngoại cảm Việt Nam. Những cái tên như Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Khắc Bảy, Thẩm Thuý Hoàn, Dương Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Nhã đã ít nhiều trở nên quen thuộc đối với chúng ta. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, số hài cốt mà các nhà ngoại cảm tìm thấy trong thời gian vừa qua đã lên tới vài trăm ngàn. Địa bàn hoạt động của các nhà ngoại cảm không chỉ dừng ở 61 tỉnh thành mà còn vượt cả biên giới quốc gia, sang tận Lào, Căm-pu-chia, Trung Quốc. Việc tìm kiếm hài cốt, khi hội đủ duyên may thì ly kỳ, huyền hoặc như những thiên cổ tích. Song nếu chưa đủ duyên thì khó khăn như tìm bóng câu, tăm cá, khổ chủ sinh ra bất mãn, ngán ngẩm, chán chường. Chính vì thế đã xuất hiện những luồng dư luận trái chiều: người được chứng kiến việc tìm thấy mộ thì hết lời ngợi ca các nhà ngoại cảm, thậm chí còn thần thánh hoá khả năng đặc biệt của họ, người không tìm được mộ người thân hoặc cố tình không tin thì phủ nhận sạch trơn, thậm chí còn riết róng tố cáo họ là những kẻ đại bịp, lừa đảo.
    Mong muốn có một cái nhìn chân xác về thế giới huyền bí này, suốt nửa năm trời đằng đẵng, tôi đã theo chân các nhà ngoại cảm lên rừng, xuống biển, đến những vùng thậm xa xôi để chứng kiến, ghi hình, tìm hiểu công việc làm đặc biệt của họ - tìm hài cốt. Tôi cũng đã gặp hàng trăm nhân chứng, hàng chục các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu về lĩnh vực tâm linh huyền bí này để thu thập tài liệu, chứng cứ, kiểm chứng. Thiên phóng sự đặc biệt “Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh” là kết quả của những chuyến khoác ba lô vượt rừng, ngược suối ấy. Hàng trăm câu chuyện ly kỳ, huyền hoặc với hàng ngàn tình tiết hấp dẫn, đầy xúc động về chuyện nghề, chuyện đời của các nhà ngoại cảm đã được tôi ghi lại một cách trung thực, sinh động. Khởi đăng thiên phóng sự này, chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ giúp ích phần nào cho các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến ngoại cảm trong việc vén bức màn bí mật của thế giới tâm linh kỳ bí. Và cũng có thể, sẽ giúp cho hàng ngàn những người mẹ, người vợ liệt sĩ sớm tìm thấy hài cốt của chồng con mình sau mấy chục năm dằng dặc đỏ mắt mỏi mòn ngóng trông.
    Bài 1: Hành trình đi tìm gần 500 hài cốt liệt sĩ ở Tây Nguyên
    Cuối cùng, chúng tôi cũng có mặt ở K’Nác, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai sau hành trình ngót 2 ngày đêm vượt 1.500 cây số bằng ô tô từ Hà Nội. Tây Nguyên vào tiết thu đẹp nao lòng. Trời ngằn ngặt xanh, mây trắng lốp, nắng vàng rượi, gió mơn man. Xa xa, dòng suối Đắc- lốp, nơi 41 năm trước đã nhuốm đỏ máu liệt sĩ vẫn rì rầm chảy giữa cỏ lau ngút ngàn. Ngọn đồi trước mặt, nơi căn cứ biệt kích của địch chiếm đóng xưa, nay là toà nhà 4 tầng khang trang, trụ sở của lâm trường Kông- Hà - Nừng. Dưới chân đồi, nơi từng diễn ra trận đánh khốc liệt, gần 500 chiến sĩ đã vùi xác, giờ chỗ là ao hồ, chỗ là nhà cửa, chuồng trại. Chao ôi cái sự xoá nhoà khắc nghiệt của thời gian.
    Đang miên man nghĩ, bất giác, tôi chợt rùng mình khi nghe nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, người đang chắp tay trước bàn thờ thực hiện cuộc trò chuyện với các vong liệt sĩ từ sáng, quay sang chúng tôi nói, giọng nghèn nghẹn: “Liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn đặc công 409, quân khu 5 khóc ghê quá. Chú ấy bảo: Ngót 40 năm, lâu quá rồi, thời gian đủ để xoá nhoà tất cả, kể cả chúng tôi, những người đã hy sinh vùi xác thân vĩnh viễn nơi này. Chỉ có các bạn là những người còn nhớ đến để đi tìm. Còn những người chúng tôi nằm xuống xanh cỏ để cho họ đỏ ngực, để được thăng quan tiến chức thì có bao giờ họ nghĩ đến chúng tôi đâu. Giá như họ nhớ đến chúng tôi chỉ một chút thôi và sớm hơn một chút thôi thì giờ đây, đâu đến nỗi các bạn phải khổ sở và nhất là chúng tôi, mấy trăm con người phải vùi thịt xương nơi rừng xanh núi đỏ, không một nén hương tàn. Tôi không nỡ bỏ anh em ở lại núi rừng để mà về quê dù rất thương em trai tôi. Các em ở đây chúng còn trẻ quá. Hầu hết mới 18 - 19 tuổi đầu. Tôi phải đưa bằng được họ về với quê. Tôi sẽ chỉ dẫn cho các bạn tìm hài cốt của họ”.
    Kỳ 1: Gần trọn một đời tìm anh
    Khởi hành gian nan

    Nếu không có cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt người anh thân yêu của giám đốc công ty S-fone Phạm Văn Mẫn thì có lẽ mãi mãi, người đời sẽ chẳng biết gì về trận đánh khốc liệt vào trường biệt kích của địch ở K’Nác năm xưa. Và chắc chắn, thịt xương của ngót năm trăm chiến sĩ sẽ vĩnh viễn chìm sâu trong lòng đất, dưới đáy ao chuôm, chuồng trại, nhà cửa. Bởi lẽ, trong hầu hết các trang sử của những đơn vị bộ đội, chẳng có một dòng ghi chép nào nhắc đến trận đánh K’Nác tối ngày mồng 7 rạng ngày 8 tháng 3 năm 1965 buồn thảm ấy. Bộ đội ta hy sinh quá nhiều. Máu của các chiến sĩ đã nhuốm đỏ dòng suối Đắc - lốp. Xác các anh phơi trắng chân đồi. Theo thượng tướng Nguyễn Nam Khánh thì sở dĩ người ta cố tình quên đi vì sợ bị quy trách nhiệm. Cách hành xử ấy không những có lỗi với các chiến sĩ đã hy sinh mà còn có lỗi với thân nhân các gia đình liệt sĩ vì sẽ gây rất nhiều khó khăn cho họ trong việc tìm kiếm hài cốt chồng con mình sau này.

    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh
    Anh Mẫn thắp hương tại đền tưởng niệm các LS ở K’Nack
    Trở lại câu chuyện đi tìm mộ liệt sĩ của anh Phạm Văn Mẫn. Mẫn có người anh trai tên Phạm Văn Thành, quê ở Xuân Trung, Xuân Trường, Nam Định, lên đường nhập ngũ năm 1964. Năm ấy, cậu bé Mẫn mới tròn 10 tuổi. Lúc lên xe, anh Thành đã dúi vào tay Mẫn nắm cơm, khẩu phần ăn duy nhất của anh trước lúc lên đường. Thương anh, mắt nhoè lệ, lòng quặn đau như kim châm, dao cứa.
    Chiến trường ác liệt. Anh đi biền biệt không về. Chẳng một lá thư, một dòng nhắn gửi. Mẹ đỏ mắt ngóng chờ. Năm 1972, tin sét đánh ngang tai. Anh Thành đã hy sinh. Cả nhà chết lặng.
    Hoà bình lập lại. Nhớ thương anh, Mẫn quyết chí đi tìm. Nhưng biết tìm ở đâu? Giấy báo tử chỉ vỏn vẹn ghi: “Hy sinh ở mặt trận phía Nam”. Kệ, Mẫn cứ đi. Lúc bắt xe khách, khi cuốc bộ ngược đường Trường Sơn. Cứ thấy nghĩa trang liệt sĩ là anh vào. Lần tìm từng tấm bia trên mộ nhưng cái tên Phạm Văn Thành, quê Nam Định vẫn biệt vô âm tín. Thấm thoắt đã ngót 30 năm. Từ lúc tóc Mẫn còn xanh đến khi điểm bạc mà thông tin về phần mộ người anh vẫn biền biệt phương trời.
    Đúng lúc tưởng như vô vọng nhất thì tình cờ anh gặp được đồng chí Trần Văn Thức, đồng đội cũ của anh Thành cùng trực tiếp tham gia trận đánh K’Nak. Anh Thức kể: “Tôi thuộc đơn vị bộ đội chủ lực tham gia hỗ trợ bộ đội Quân khu 5 đánh Trường biệt kích Tây Nguyên. Súng nổ mở màn lúc 23h 30′ thì chừng vài phút sau, tôi bị thương cùng với anh Thành. Nhưng mãi đến sáng mới được đưa ra Trạm xá Trung phẫu, cách K’Nác khoảng 8 -10 km. Tại đây, tôi có nhìn thấy dân công hoả tuyến đưa đồng chí Thành đi mai táng cạnh trạm Trung phẫu. Vị trí chôn cất thì không rõ lắm vì lúc đó tôi bị thương nặng, lúc tỉnh, lúc mê”. Thông tin ấy khiến cho anh Mẫn khấp khởi hy vọng và càng quyết chí đi tìm anh.
    Từ đồng chí Thức, anh Mẫn đã gặp gỡ được nhiều nhân chứng vốn từng tham gia trận đánh K’Nak xưa. Gặp đồng chí Trần Duy Trung thuộc Trung đoàn 95 A, sư đoàn 325 bộ đội chủ lực, nay đang ở Xuân Trường, Nam Định. Gặp Trung tá Trần Tấn Ước, nguyên chính trị viên phó tiểu đoàn 409, hiện ở thị trấn Bình Sơn, Bình Định. Gặp trung tá, anh hùng Nguyên Ngọc Bình nguyên là đại đội trưởng đại đội 1 của tiểu đoàn 409, người được phong anh hùng trong trận đánh K’Nak. Gặp trung tá Nguyễn Văn ẩm, nguyên chính trị viên phó tiểu đoàn, phụ trách việc chôn cất các liệt sĩ cùng một số nhân chứng khác. Cả một trận đánh khốc liệt năm xưa chợt hiện về qua hồi ức của những người một thời vào sinh ra tử ấy.
    Vén bức màn bí mật về trận đánh khốc liệt K’Nak
    Căn cứ biệt kích K’Nak nằm trên 3 quả đồi chạy dọc Bắc Nam, có nhiều lợi thế quân sự. Nơi đây đồi núi lô nhô, thuận lợi cho việc xây dựng phòng thủ và bố trí binh lực, hoả lực, xuất phát tiến công. Lại có nhiều thung lũng sình lầy, có sông Ba và khe suối bao bọc, cản trở khi bị đối phương tiến công. Mỹ nguỵ đã xây dựng ở đây một cụm cứ điểm bao gồm đồn luỹ bảo vệ, sân bay dã chiến và trại pháo nhằm chặn cắt đường giao liên giữa Bình Định và Gia Lai. Quân ta đã nhiều lần tập kích căn cứ này nhưng đều không thành công. Mùa xuân năm 1963, Đảng uỷ, Bộ tư lệnh quân khu 5 và Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định tập trung lực lượng trên quy mô lớn tấn công căn cứ này. Lực lượng ta gấp 3 số lượng địch, gồm: Tiểu đoàn đặc công 409 quân khu 5, một đơn vị đặc công của tỉnh Bình Định, trung đoàn số 10 và Bộ phận chỉ huy tiền phương quân khu 5. Tổng quân số lên tới gần 750 người.
    14h ngày 7 tháng 3 năm 1965, bộ đội ta xuất quân từ Kông-Hà-Nừng, cách K’Nak hơn 20 km. 18h, cách suối khô 500m. 19h, bắt đầu tiếp cận. Đến 23h, quân ta đã chiếm lĩnh xong các vị trí quy định. Theo kế hoạch, đặc công mở cửa diệt các vị trí trọng yếu. Sau đó, bộ binh dùng xung lực mạnh giảI quyết trận địa. Song do quá trình trinh sát địa hình chuẩn bị trận đánh trước đó một tháng đã để lộ dấu vết nên địch biết trước kế hoạch tấn công của ta. 23h 30′, bộ đội ta vấp phải mìn nổ, mìn sáng. Địch lập tức nổ súng trùm lên toàn bộ đội hình của ta. Pháo sáng chúng bắn sáng rực như ban ngày. Ta tiến công cưỡng hành. Bộ đội ta chiến đấu cực kỳ dũng cảm, đã đánh chiếm được điểm cao phía Bắc và phía Nam nhưng hướng chủ yếu ở giữa chỉ chiếm được “đầu cầu”. Lô cốt cố thủ của địch bắn chặn quyết liệt. Đến 0h 30′ ngày 8 tháng 3, quân ta thương vong gần hết. Xác của các chiến sĩ nằm la liệt trắng cả ven suối và chân đồi K’Nak. Lực lượng còn lại buộc phải rút lui. Địch vẫn bắn truy kích dữ dội. Gần 500 thương binh và tử sĩ của ta không mang theo được. Một phần địch gom lại, đổ xăng đốt. Số còn lại, dùng xe ủi đào từng hố hất các liệt sĩ xuống rồi san phẳng.
    Đồng chí Nguyễn Văn ẩm, chính trị viên phó Tiểu đoàn 409, phụ trách công tác thương binh ở trạm trung phẫu (cách vị trí địch khoảng 8km) cho đào sẵn 50 huyệt mai táng. Mỗi hàng 10 huyệt, cách nhau 60 - 80cm nhưng duy nhất chỉ mai táng được 8 đồng chí, trong đó có tiểu đoàn trưởng Ngô Trọng Đãi và liệt sĩ Phạm Văn Thành. 8 đồng chí này bị thương ngay từ đầu trận đánh nên mới đưa ra được phía sau. Lực lượng cứu thương và dân công hoả tuyến (đều là người dân tộc) cũng hy sinh hết cả nên không còn người cấp cứu và tải thương ra cứ được. Nếu tính cả lực lượng này, hơn 1.000 người đã để lại xương thịt ở trận địa K’Nak.
    Cuộc điện đàm… huyền hoặc
    Chuyện tìm hài cốt liệt sĩ Phạm Văn Thành giờ tưởng chừng dễ dàng như trong lòng bàn tay. Nhưng khi đưa các nhân chứng vào K’Nak, anh Mẫn đã bật khóc nức nở. Ngót 37 năm trời dằng dặc, cảnh vật thay đổi quá nhiều. Trạm trung phẫu trước kia có 4 cây đa cổ thụ to lắm, che chắn cho trạm xá, nay chỉ còn một cây. Suối Đắc-lốp giờ đã ngăn dòng làm đập thuỷ điện. Đồng đội cũ của anh Thành giờ đều tuổi cao, sức yếu, trí nhớ giảm sút nên việc xác định vị trí ngôi mộ rất khó khăn. Nhiều lần, anh Mẫn phải cầu viện đến các nhà ngoại cảm. 9 nhà ngoại cảm nổi tiếng từ Bắc chí Nam anh đều đã vời vào nhưng không hiểu sao, người ra đến sân bay thì cáo ốm xin về, người bước đến cửa rừng thì kêu: “khu rừng này thiêng lắm, sợ lắm, không tìm được đâu” rồi hớt hải bỏ về. Có nhà ngoại cảm vừa đào đào bới bới bỗng lăn đùng ra đất, tay ôm chặt đầu lăn lộn, miệng kêu gào: “Ôi! đau đầu quá! Đau quá”. Lần cuối cùng, ngày 26 tháng 12 năm 2001, nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy cùng anh Mẫn đi Tây Nguyên. Trước khi đi, nhà ngoại cảm bằng khả năng đặc biệt đã cung cấp những thông tin ban đầu khá chính xác:
    - Nơi liệt sĩ Thành nằm còn có 7 người nữa.
    - Khu mộ cách con suối từ 20 - 50m, có nhiều bụi rậm, trong đó có một cây cụt.
    - Anh Thành nằm hàng thứ 2, ngôi thứ 2 từ phải qua trái. Ngôi đầu, hàng đầu là một người chỉ huy.
    Nhưng vào làm việc tại thực địa, nhà ngoại cảm cho khai quật một số điểm đều không thấy. Tranh luận nổ ra. Một số người trong đoàn giảm niềm tin và chán nản. Lúc đó, nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy mới gọi điện thoại di động trao đổi với thiếu tướng Nguyễn Chu Phác - chủ nhiệm Bộ môn cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người), rồi chuyển điện thoại cho anh Mẫn trực tiếp nói chuyện. Từ Hà Nội, thiếu tướng Chu Phác hỏi: “ở đấy ai là Thành?”. Anh Mẫn đáp: “Thưa chú! Thành là anh ruột cháu. Anh ấy là liệt sĩ. Chúng cháu đang tìm nhưng không thấy”. Thiếu tướng lại hỏi: “ở đấy có ông chỉ huy tên Ngô Trọng Đãi đeo súng ngắn hy sinh không?”. “Thưa chú! Chú Ngô Trọng Đãi là tiểu đoàn trưởng, hy sinh cùng anh cháu”. Thiếu tướng bảo: “Ông ấy đeo súng lục, tay cầm cái gậy, đuổi các cậu về và nói: ở đây có hàng trăm liệt sĩ, chúng nó không tìm mà chỉ nhăm nhăm đi tìm một người là Thành - anh nó thì không cho tìm”. Thiếu tướng trùng giọng: “Thôi! Các cậu về đi. Về ngay để nghiên cứu, tổ chức lại cuộc tìm mộ này”.
    Ngày 20 tháng 2 năm 2002, anh Phạm Văn Mẫn đã làm một lá đơn gửi Bộ môn cận tâm lý và Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người nhờ giúp đỡ tìm mộ anh trai và đồng đội ở K’Nak. Hơn một tháng sau, Bộ môn đã cử một đoàn công tác đặc biệt gồm 3 nhà ngoại cảm nổi tiếng: Phan Thị Bích Hằng, Thẩm Thuý Hoàn, Nguyễn Khắc Bảy do Đại tá Hàn Thuỵ Vũ phụ trách trở lại Tây Nguyên. Anh Phạm Văn Mẫn đã trực tiếp mời Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên Phó tư lệnh quân khu 5 cùng nhiều nhân chứng khác tham gia đoàn. Trước khi lên đường trở lại chiến trường xưa, Đoàn và nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, bằng khả năng đặc biệt đã mời vong linh liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, tiểu đoàn trưởng và vong linh liệt sĩ Phạm Văn Thành về nhà riêng ở Khu tập thể Kim Liên để xin ý kiến. Cuộc trò chuyện kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ trong bảng lảng hương khói và nước mắt với rất nhiều thông tin của liệt sĩ Ngô Trọng Đãi đã mở ra hướng đi mới cho việc tìm mộ tập thể liệt sĩ ở Tây Nguyên.

     
  2. tran_phuong Thành Viên Cấp 5

    Kỳ 2: Bí mật dưới dòng Đắc-lốp
    “Tìm liệt sĩ tiếng lòng vẫy gọi
    Đánh thức lương tri của mỗi con người
    Ai đem hạnh phúc cho đời
    Nhớ người chiến sĩ quên mình năm xưa”
    Trò chuyện với…vong linh liệt sĩ
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh

    Nhà ngoại cảm Bích Hằng đang “trò chuyện” cùng các LS tại K’Nack
    Cuộc “gặp gỡ” kỳ lạ đượm chất “liêu trai” giữa nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và vong linh liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, Phạm Văn Thành đã diễn ra vào hồi 16h ngày 26 tháng 3 năm 2002 tại căn phòng nhỏ của chị ở khu tập thể Kim Liên, Hà Nội. Tham gia cuộc gặp gỡ có thiếu tướng Chu Phác, chủ nhiệm bộ môn cận tâm lý, thuộc Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, Đại tá Hàn Thụy Vũ và anh Phạm Văn Mẫn. Trong không khí tĩnh lặng, thiêng liêng phảng phất hương trầm, trước di ảnh của hai liệt sĩ, nhà ngoại cảm tay chắp trước ngực thành kính, giọng đầy xúc động: “Thưa bác Ngô Trọng Đãi và anh Phạm Văn Thành! Hôm nay là ngày 26 tháng 3 năm 2002, cháu Phan Thị Bích Hằng cùng anh Phạm Văn Mẫn là em của liệt sĩ Phạm Văn Thành, Thiếu tướng Chu Phác, Đại tá Hàn Thuỵ Vũ muốn được mời bác và anh Thành về. Xin hỏi bác những thông tin có liên quan đến trận đánh căn cứ biệt kích K’Nak và đặc biệt là nơi mai táng cũng như tình trạng hiện nay của các liệt sĩ tại K’Bang”. Ngừng lời như kìm nén niềm xúc động, mắt vẫn dõi nhìn vào tấm ảnh đã ố vàng của liệt sĩ Đãi, chị đằng hắng giọng rồi nói tiếp, giọng run run: “Thưa bác Đãi! Nhiều năm qua, anh Mẫn đã bỏ ra rất nhiều công sức, tiền của để đi tìm mộ anh Thành tại khu rừng mà mọi người chỉ dẫn là nơi đặt trạm trung phẫu 37 năm về trước mà không đạt kết quả. Hôm nay, xin phép bác và anh Thành cho anh Mẫn được thưa chuyện. Mong được hai người chỉ dẫn”.
    Anh Mẫn: “Thưa bác Ngô Trọng Đãi và anh Thành! Nhiều năm qua, đã mấy chục lần cháu đi tìm anh cháu và các bác ở K’Bang. Lần gần đây nhất là tháng 12 năm 2001. Mặc dầu đã được các nhân chứng chỉ chỗ chôn cất các bác, cháu đã khai quật nhiều lần mà vẫn không thấy. Lần này, trời run rủi cho cháu được gặp nhiều đồng đội cũ của Bác, những người trực tiếp chỉ huy trận đánh, trực tiếp chiến đấu và mai táng như bác Nguyễn Văn ẩm, bác Trần Duy Trung, bác Nguyễn Trọng Bình, Châu Khải Địch, Nguyễn Văn Cán, Nguyễn Minh Sang, Trần Tấn Ước… Đặc biệt chuyến đi tới còn có Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh cùng nhiều thành viên khác. Cháu mong bác và anh linh thiêng hướng dẫn thêm để chuyến đi này đạt kết quả như mong muốn”. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, sau một hồi chăm chú nhìn bức ảnh liệt sĩ Đãi và lắng nghe, miệng “dạ, vâng” liên tục như thể hai người trần đang trò chuyện với nhau, đã quay sang anh Mẫn để truyền đạt lại lời của liệt sĩ (từ đây xin ghi là liệt sĩ Đãi - tác giả). “Tôi không nỡ bỏ anh em ở lại núi rừng để về quê hương dù rất thương em trai tôi. Cả Thành cũng vậy, dù rất thương cậu xong cũng không thể về một mình mà để lại đồng đội đâu Mẫn ạ. Lần nào cậu vào đào bới chúng tôi đều biết hết. Sự hiện diện của cậu ở K’Bang bao nhiêu năm nay ở núi rừng K’Bang là nguồn động viên an ủi vô cùng lớn đối với linh hồn các liệt sĩ. Như vậy là vẫn có người nhớ đến chúng tôi. Chúng tôi vẫn còn có cơ hội về quê. Nhưng cậu chỉ đi tìm anh cậu còn để bỏ mặc đồng đội của tôi, của anh cậu thì làm sao tìm được”. Anh Mẫn: “Thưa bác, những lần đi tìm trước, cháu có đào đúng chỗ các bác nằm không ạ?”. Liệt sĩ Đãi: “Toạ độ cậu xác định là đúng nhưng địa điểm cụ thể thì chưa. Phải lùi về phía con suối nữa, nơi có nhiều cây song le gần sát nước. Trước đây chỗ mai táng chỉ cách suối khoảng 25m thôi. Đấy là lúc suối cạn. Còn bây giờ suối đã ngập nhiều rồi. Chỗ hồ nước mênh mông ấy, hài cốt chúng mình ở dưới ấy. Cậu có đủ can đảm lặn xuống đáy không?”. Anh Mẫn: “Thưa bác, như vậy có nghĩa là các bác nằm ở dưới con suối ạ? Vì ở đó bây giờ là đập thuỷ điện”. Liệt sĩ Đãi: “Cũng gần như vậy. Duy chỉ có một điều tôi không muốn nói ra vì nếu nói, sẽ chẳng ai vào đây với chúng tôi nữa. Thôi, dù sao cũng cố gắng vào với chúng tôi đi. Tôi muốn gặp lại những đồng đội cũ của tôi còn may mắn sống sót sau trận đánh ấy và cũng để cho họ được một lần trở lại chiến trường xưa”. Anh Mẫn: “Vậy có cách nào để xả con suối đó không ạ?”. Liệt sĩ Đãi: “Thế tôi mới hỏi cậu”. Anh Mẫn: “Bác Đãi ơi! Bác hãy giúp cháu. Cháu sẽ xin xả đập nước. Nhưng nếu chính quyền họ bắt cháu thì sao. Xin bác và các liệt sĩ giúp cháu”. Liệt sĩ Đãi: “Cậu làm vì việc nghĩa thì không ai dám hại cậu đâu, miễn là hợp lý, hợp tình. Nhưng có một điều tôi muốn nói với cậu. Tôi sợ cậu lực bất tòng tâm. Tìm các liệt sĩ còn muôn vàn gian khó đấy. Nhiệt tình không chưa đủ. à, mà cậu đã qua Vĩnh Thạnh bao giờ chưa?”. Anh Mẫn ngạc nhiên hỏi: “Thưa bác, sao lại phải qua Vĩnh Thạnh xa xôi thế ạ?”. Liệt sĩ Đãi: “Cậu dốt lắm. Không qua Vĩnh Thạnh thì chuyến đi của cậu còn có ý nghĩa gì. Kiểu gì cũng phải qua đó thắp hương. Các liệt sĩ quê ở đó nhiều lắm và còn nhiều lý do khác nữa, sau này mới hiểu”.
    Anh Mẫn còn đang vân vi về lời dặn của liệt sĩ Đãi thì vong linh của liệt sĩ Thành về, nói qua nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng: “Anh không biết nói gì thêm với em cả, chỉ mong sớm được cùng em về với quê hương, cha mẹ. Khi đi em nhớ thắp hương xin phép tổ tiên để các cụ phù hộ cho em nhé. Nhà mình còn một ông chú chết trẻ nữa đấy. Chú trách là không bao giờ nói gì đến chú cả. Lần này em phải nhớ. Anh và bác Đãi sẽ phù hộ cho em”.
    Chị Hằng tay vẫn chắp trước ngực, nói: “Thưa bác Đãi! Thưa anh Thành. Lần này, anh Mẫn tổ chức đoàn đi tìm kiếm các liệt sĩ tương đối quy mô. Có sự tham gia của nhiều nhân chứng, sự giúp đỡ của quân khu 5, của địa phương tỉnh Gia Lai và các nhà ngoại cảm thuộc Bộ môn cận tâm lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người. Thành phần này rất đầy đủ và chuẩn bị rất công phu. Cháu mong các bác hãy phù hộ giúp đỡ cho đoàn đi tìm kiếm đợt này đạt được như ý muốn. Cháu cảm ơn bác Đãi, anh Thành và cảm ơn các liệt sĩ”.
    Cuộc nói chuyện kết thúc vào hồi 17h nhưng mọi người còn bịn rịn chưa muốn về. Ai cũng băn khoăn trước những câu nói khó hiểu của liệt sĩ Đãi: “Nếu tôi nói ra sẽ chẳng ai vào đây nữa”. “Nếu không đi Vĩnh Thạnh, chuyến đi của cậu sẽ chẳng còn ý nghĩa gì” và “Cậu có đủ can đảm mò xuống dưới suối không?”. Có gì ẩn chứa trong những lời nói ấy? Câu trả lời vẫn còn ở phía trước, tận núi rừng Tây Nguyên xa xôi, hùng vĩ khiến tất cả mọi người cứ khắc khoải như chính linh hồn các liệt sĩ đã từng khắc khoải đợi chờ suốt 37 năm dằng dặc.

    Nước mắt giữa rừng sâu
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 1
    Trở lại chiến trường xưa tìm đồng đội
    Ngày 27 tháng 3 năm 2002, đoàn xuất phát từ Hà Nội. Trên đường đến K’Nak, đoàn rẽ vào Nghệ An, Đà Nẵng đón thêm một số nhân chứng, trong đó có bác Ngô Trọng Quang là em ruột của liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, tổng cộng khoảng hơn 40 người, do Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh làm trưởng đoàn. Ba ngày sau, tại núi rừng K’Bang âm u, trùng điệp, tại chính mảnh đất đã thấm đẫm máu của ngót 500 chiến sĩ đặc công anh hùng, những người lính đã một thời vào sinh ra tử trong trận đánh khốc liệt K’Nak, sau 37 năm trời đằng đẵng, nay tóc bạc da mồi, bồi hồi xúc động kể lại kỷ niệm xưa. Nước mắt lăn dài, khói hương nghi ngút, những tiếng nấc nghẹn ngào cứ bật ra. Trung tá Nguyễn Văn Cán, 70 tuổi, sụt sùi kể: “Lúc đó trận đánh rát quá, quân ta thương vong quá nhiều nên tôi phải liên lạc và báo cáo cấp trên bằng bộ đàm. Đang báo cáo thì anh Ngô Trọng Đãi giật lấy máy từ tay tôi để xin ý kiến chỉ đạo. Đúng lúc đó, một quả pháo cối của địch bắn trúng anh. Bụng anh bị vỡ, máu chảy ồ ạt, ruột gan tòi hết cả ra ngoài. Tôi phải xé quần áo buộc chặt. Dân quân hoả tuyến vội vàng đưa anh về trạm trung phẫu cấp cứu nhưng không kịp. Đau xót và thương lắm các đồng chí ạ!”. Nói đoạn, trung tá Cán bật khóc nức nở như thể đang đứng trước trận chiến năm nào, đầy xác và máu đồng đội.
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 2
    ác nhân chứng đang xem lại sơ đồ trận đánh để xác định vị trí trạm trung phẫu Trung tá Nguyễn Văn ẩm, 74 tuổi, nhân vật trung tâm của chuyến đi vì ông là người trực tiếp chôn cất liệt sĩ Đãi, Thành và 6 đồng chí khác nhớ lại: “Tôi đào sẵn 50 hố. Mặc dù số lượng hy sinh quá nhiều so với dự kiến nhưng cuối cùng cũng chỉ đưa về mai táng được 8 đồng chí thôi. Sợ địch phát hiện nên chôn cất xong chúng tôi phải san phẳng ngay. Kể lại thì xót xa lắm. Lúc đó vì khó khăn nên mai táng các đồng chí ấy chẳng có quan tài, áo mưa hay tăng võng gì sất. Chỉ vỏn vẹn có 4m vải xô trắng quấn qua loa. Nếu tìm thấy bây giờ thì xương cốt chắc cũng chẳng còn gì nữa”.
    Trung tá Nguyễn Minh Sang, người trực tiếp tham gia trận đánh, sau này đã từng bám trụ chống lại bọn lâm tặc phá rừng, nơi đồng đội của bác đã đổ xương máu, hiện đang sống tại K’Bang thì vừa khóc tu tu, vừa nói: “Phải tìm bằng được các liệt sĩ rồi sau này có chết đi cũng không có gì phải áy náy. Chừng nào chưa tìm được các anh thì rừng này vẫn phải giữ nguyên không ai được chặt phá. Trong khi chúng ta còn sống thì bằng mọi cách, phải đưa các anh trở về với quê cha đất mẹ”.
    Bí mật dưới hồ Đắc-lốp
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 3

    Suối Đắc Lốp
    13h ngày 30 tháng 3 năm 2002, bắt đầu cuộc tìm kiếm hài cốt 8 liệt sĩ tại khu vực trạm trung phẫu. Trung tá Nguyễn Văn ẩm, do tuổi cao, sức yếu, trí nhớ giảm sút, cộng với địa hình thay đổi quá nhiều qua 37 năm mưa nắng nên không thể nhớ được chính xác vị trí trạm trung phẫu cũng như nơi chôn cất 8 liệt sĩ. Cả ba nhà ngoại cảm là Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Khắc Bảy và Thẩm Thuý Hoàn thì đều kêu ở đây nhiễu quá, mất hết thông tin, không ai gặp được vong. Lực lượng bộ đội và dân quân đào một số đoạn hào nhưng không phát hiện được dấu vết gì. Một số dân địa phương, người Ba Na lớn tuổi, chỉ một số điểm khác cũng không trúng.
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 4

    Vị trí trạm trung phẫu gần suối Đắc-Lốp
    Các nhà ngoại cảm đều cố gắng cầu khấn xin gặp vong người chỉ huy cao nhất là liệt sĩ Ngô Trọng Đãi. Đến 21h ngày 30 tháng 3 năm 2002, tại nhà nghỉ, Thẩm Thuý Hoàn gặp được vong liệt sĩ Ngô Trọng Đãi. Liệt sĩ dặn: “Triển khai xuống phía dưới con suối, không nên đào quá lên trên. Hôm nay đã hất một phần, ngày mai chịu khó bới lại một chút. Từ chỗ đào hôm nay hơi chéo xuống. Vì hài cốt của chúng tôi không còn nhiều nên khi đào phải chú ý thận trọng một chút. Ngày mai tìm được các liệt sĩ khác rồi mới tìm được tôi và anh Thành. Nếu không, các anh em còn lại sẽ không có ai tìm nữa”.
    Cùng thời gian đó, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng cũng được “yết kiến” vong liệt sĩ Đãi. Chị nói thêm: “Người bác rất cần gặp trong ngày hôm nay vì bác đã xanh cỏ để cho họ đỏ ngực thì không đến để nói một lời chia sẻ với các anh em ở đây. Bác ẩm là đồng đội cũ nhưng không nói thay được. Khi nghe tin đoàn vào, anh em liệt sĩ ở đây rất mừng, ra đón rất đông. Nhưng các vị tướng lại không nói một lời. Sát mép gần bờ suối còn nhiều anh em. Cháu yên tâm không đi nhầm khu vực. Bác sẽ hiệp đồng với cháu”. Hình ảnh của liệt sĩ Ngô Trọng Đãi xuất hiện mờ ảo, rất nhanh nhưng cả hai nhà ngoại cảm đều thu được trùng khớp thời gian và nét mặt.
    Chiều hôm sau, đoàn tìm kiếm quay trở lại rừng. 13h, cùng một lúc, chị Hằng và Hoàn đều reo lên: “Bác Đãi về kìa”. Việc tìm kiếm khu mộ bắt đầu chuyển hướng về phía chân đồi, nơi dòng suối Đắc-lốp. Cả đoàn túm vào phát quang hơn 100m rừng le rậm rạp, mở đường xuống suối. Các nhà ngoại cảm và trung tá Nguyễn Văn ẩm cùng chung một ý nghĩ: Dòng suối cạn khi xưa nay đã thành hồ nước rộng gần 100m2 do chính quyền huyện K’Bang ngăn nước tạo đập làm thuỷ điện. Và kia rồi, một gốc cây cổ thụ bị cưa ngang nổi lập lờ mặt nước. Bằng khả năng đặc biệt, nhà ngoại cảm Bích Hằng đã xác định được vị trí của 8 liệt sĩ đang nằm dưới lòng suối, rồi cho người cắm cọc theo các trật tự như sau: Liệt sĩ Đãi, Tất, Được, Tuyển, Hưởng, Bình, Thành và Công. Liệt sĩ Đãi là tiểu đoàn trưởng, người chỉ huy cao nhất nên được an táng đầu tiên. Người được an táng cuối cùng là liệt sĩ Công, trẻ nhất.
    Bích Hằng thắp hương tại vị trí đang khai quật để nói chuyện với các liệt sĩ. Liệt sĩ Đãi yêu cầu gặp bác Lại (em trai). Liệt sĩ nói (qua Bích Hằng): “Em mới vào đây thì biết gì đâu. Không đào chỗ này nữa. Cô Lệ dạo này ra sao?”. Bác Lại đáp: “Cô Lệ đã lấy chồng là thương binh anh ạ”. Liệt sĩ Đãi: “Trước đây, anh có người yêu tên Lý, quê ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, làm giáo viên, quen nhau ở lớp học bình dân. Cô ấy đã tình nguyện quan hệ với anh một lần. Lúc đó, hai đứa có bàn với nhau: Nếu con gái đặt tên là Hoài, con trai đặt tên là Nhơn. Nhưng trong túi anh lúc nào cũng có ảnh của cô Lệ ở quê mình đã dạm hỏi ý. Rất tiếc là lúc chôn anh, bác ẩm đã không chôn bức ảnh cùng. Giỗ anh vào ngày mồng 7 tháng 3 chứ không phải mồng 8. Làm lệch ngày, anh về, không có nén hương, anh tủi thân. Vị trí các anh em liệt sĩ ở đây là: Đãi, Tất, Được, Tuyển, Hưởng, Bình, Thành, Công. Nếu anh Chương (đồng chí Nguyễn Huy Chương, nguyên chính trị viên trưởng tiểu đoàn, người quyết định trận đánh - tác giả) mà có trách nhiệm đến thăm anh em ngay từ khi hoà bình lập lại thì có biết bao nhiêu anh em đi theo ủng hộ, chứ phải đâu như bây giờ. Nơi này tắm máu anh em xong để đấy. Y cụ, xong nồi, chảo vẫn ở dưới suối”. Liệt sĩ Thành nói chen vào: “Lúc nãy bác Đãi thấy bác Lại cứ đi vòng quanh mãi nên bác Đãi thương quá mà về gặp. Mẫn ơi! Chỉ cần em vào đây thắp hương là đủ rồi. Để cho anh ở lại đây. Không phải anh không muốn về. Anh cũng nhớ mẹ lắm chứ nhưng sợ em lực bất tòng tâm vì anh đang nằm ở dưới làn nước sâu. Chị Thường nản rồi không vào thăm anh nữa à? Chị ấy là phụ nữ, đi lại vất vả thế, chắc không chịu được. Có thằng Hải, thằng Đông vào đây là anh vui rồi. Hải nó lớt phớt, không tin là tìm được anh. Anh chỉ còn rất ít”. Liệt sĩ Đãi nói tiếp: “Khẩu súng lục anh đeo, lúc vào trạm trung phẫu, vì ruột cứ lòi ra nên đã tháo ra để quấn băng. Anh chỉ ú ớ được mấy tiếng rồi không biết gì. Cô Lý rất yêu anh nhưng nhà đã dạm hỏi coi như anh có vợ. Muốn gửi lời xin lỗi cô Lệ đã để cô ấy chờ lâu quá. Em mang về dù một nắm đất cũng nhắn Lệ đến thăm anh”.
    Bích Hằng: “Thưa bác Đãi, cháu xin phép được thỉnh cầu bác lần nữa. Mong bác cho biết, toạ độ chúng cháu cắm cọc kia đã đúng chưa ạ? Bác có thể chỉ dẫn để chúng cháu cắm lại. Và bác Lại có đôi lời muốn thưa chuyện với bác”. Liệt sĩ Đãi: “Đây là cọc đầu tiên và 6 cọc tiếp theo. Nhưng không phải chỗ này, đi tiếp cắm lại. Được rồi. Bắt đầu từ đấy kéo dài thẳng đến gốc cây. Đây là cây đa che chở cho trạm trung phẫu”. Bác Ngô Trọng Lại, chắp tay vái lia lịa, miệng mếu máo: “Anh ơi! Nếu đúng mảnh đất này là nơi lưu giữ xương thịt anh thì anh cho phép tất các các gia đình thân nhân liệt sĩ ở đây đem nắm đất này về. Mong anh trao đổi với các anh em và cho biết ý kiến. Điều kiện em rất khó khăn, tuổi cao, sức yếu, khả năng tài chính eo hẹp. Anh nên về nghĩa trang liệt sĩ Hoà Vang hoặc đài liệt sĩ xãHoà Thọ quê mình yên nghỉ”. Liệt sĩ Đãi: “Thật ra trong lòng anh đã nghĩ đến điều đó. Dù sao nơi này cũng có xương máu của anh và đồng đội. Với tình cảm của em và mọi người dành cho anh thì dù chỉ là một nắm đất cũng đầy đủ ý nghĩa rồi. Hồi xưa đi hoạt động, anh vẫn thường bảo với em là: Anh hùng xá kể chi thân xác. Mạng sống của mình còn chẳng tiếc, huống hồ một nắm xương tàn. Thôi thì sinh thổ hoá thổ. Sinh ra từ đất rồi lại trở về với đất. Với anh em ở đây, về mặt chỉ huy anh có thể nói được. Nhưng tình cảm cá nhân thì mỗi người một ý, anh không thể quyết định thay được. Riêng anh, anh đồng ý theo em về. Em mỗi tuổi mỗi yếu, đi lại nhiều, thương lắm. Quê mình là Hoà Nhơn sao bây giờ là Hoà Thọ. Dù về nghĩa trang xã hay huyện đều được còn như thế này coi như anh được thuỷ táng dưới lòng suối với anh em. Cậu Tuyển, Được cũng sẵn sàng về. Còn các anh em khác đang lưỡng lự. Em có thể bốc một nắm đất sát bờ suối. Còn vị trí vừa cắm cọc là có anh nằm ở dưới. Em cứ bốc một nắm đất lên rồi khấn: Ba hồn bảy vía anh Ngô Trọng Đãi ở đâu thì theo em về quê. Em bốc bảy lần và nói như vậy. Mỗi lần cắm một nén hương. Em chắp tay xin thần rừng, thần sông, thần suối phù hộ cho linh hồn anh được về quê. Anh không muốn về trong ngậm ngùi mà muốn có lá cờ Tổ quốc phủ lên phần đất, dù là tượng trưng, để phủ lên cho anh”.
    Bác Lại vâng lời, làm đúng lời anh dặn. Vừa bốc đất, vừa khấn, vừa khóc. Tiếng khóc nấc đớn đau chất chứa cả một đời cứ lan trong chiều tím nghe vừa ai oán, vừa xót xa. Cả đoàn không ai kìm được nước mắt. Còn anh Mẫn, lặn ngụp dưới lòng hồ suốt từ chiều đến giờ nhưng vì hồ rộng, nước sâu nên đành chịu. Nước hồ chỗn lẫn nước mắt ướt đầm. Thương anh đứt ruột nhưng đành phải gạt nước mắt tạ từ chờ đến mùa khô nước cạn.

    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 5
    Vì hồ rộng nước sâu nên anh Mẫn đành phải nuốt nước mắt lên bờ
    Kỳ 3: Trở về đất mẹ
     
  3. mrsau29 Thành Viên Cấp 4

    Hay quá!Tiếp đi bác
    Mà trong này có 1 tình tiết là ông Nguyễn Huy Chương, (nguyên chính trị viên trưởng tiểu đoàn, người quyết định trận đánh ) ko về thăm các anh em đã ngã xuống có phải vì sợ trách nhiệm ko?
     
  4. HoaThuyTinh1619 Thành Viên Chưa Kích Hoạt

    chữ nhỏ đọc fê wó
     
  5. tran_phuong Thành Viên Cấp 5

    Kỳ 3: Trở về đất mẹ
    Trả lại tên cho các anh
    Cũng trong thời gian ở K’Bang, đoàn công tác đã chia đội ngũ các nhà ngoại cảm ra làm 2 nhóm nhằm mở rộng phạm vi tìm kiếm hài cốt của gần 500 liệt sĩ còn vùi sâu đâu đó khắp K’Nak. Nhà ngoại cảm Thẩm Thuý Hoàn, Nguyễn Khắc Bảy làm một nhóm. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, đại tá Hàn Thuỵ Vũ, nhà giáo Đoàn Thanh Hương (thư ký Đoàn) làm một nhóm khác cùng đông đảo các nhân chứng. Và kỳ diệu như trong chuyện cổ tích, các nhà ngoại cảm với khả năng đặc biệt siêu phàm như thấu thị, đối thoại (nhìn thấy và trò chuyện với các vong hồn) đã nhanh chóng tìm thấy các hố chôn tập thể hài cốt liệt sĩ giữa mênh mông đồng bãi, ngút ngàn cỏ lau, điệp trùng suối, núi, hơn thế, còn xác định được danh tính của từng người, điều mà với những con mắt trần thường tình của người đời là điều không thể.

    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh
    Bích Hằng (trái) và Thuý Hoàn (phải)
    đang ngồi trò chuyện với vong linh LS Minh
    ở hố chôn thứ nhất, dọc con suối Đắc-lốp, trong lùm cây rậm rạp, dưới gò mối lớn tìm được 22 liệt sĩ. Qua Bích Hằng, các liệt sĩ cho biết: đây là hố chôn tập thể. Phần nửa phía tây, gần căn cứ K’Nak, bị địch chất đống đổ xăng đốt nhưng mùi da thịt cháy khét lẹt bốc lên đồi khiến chúng không chịu nổi nên nửa hố phía đông, chúng dùng máy xúc đào đất lấp vùi. Bích Hằng lấy được tên tuổi, địa chỉ quê quán của cả 22 người. Điều đặc biệt là sau này, khi đối chiếu những tên tuổi này với danh sách các liệt sĩ ở Trung đoàn 95A và Tiểu đoàn đặc công 409 thì trùng khít.
    ở hố chôn thứ 2, bên dãy cây bạch đàn có gò mối lớn, cách hố thứ nhất khoảng 100m, tìm được tên 12 liệt sĩ.
    8h sáng ngày 1 tháng 4 năm 2002, Đoàn lên đồi thông K’Nak để xác minh một ngôi mộ vô danh. Đây chính là cứ điểm phía Bắc của cụm cứ điểm biệt kích K’Nak. Nhà ngoại cảm Bích Hằng thắp hương mời vong liệt sĩ lên trò chuyện. Liệt sĩ cho biết tên là Nguyễn Văn Minh, chính trị viên Đại đội 40, Tiểu đoàn đặc công 409, quê ở Thạch Khê, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Nhân chứng tại chỗ, anh hùng lực lượng vũ trang, trung tá Nguyễn Ngọc Bình, nguyên Đại đội trưởng đại đội đặc công 40 (D409) xác nhận: thông tin trên hoàn toàn chính xác. Ông kể: khi quả pháo nổ trước mặt, anh Minh ngã vật xuống, anh Lê Xuân Hổ văng ra, đồng chí liên lạc hy sinh tại chỗ còn ông thì bị thương gẫy tay phải.
    Liệt sĩ Minh hỏi Trung tá Bình (qua nhà ngoại cảm): “Anh Lê Xuân Hổ thế nào?”. Trung tá Bình, tay chắp trước ngực, mắt nhìn vào làn khói hương nghi ngút trên mộ đồng đội, trả lời, giọng run run: “Anh Lê Xuân Hổ lên giúp Tây Nguyên. Năm 1972, chuyển đơn vị về Chu Lai, làm trung đoàn phó chiến đấu ở Tuyên Phước. Trong lúc đi điều tra, anh ấy đã hy sinh”. Liệt sĩ Minh: “Anh Trần Tấn Ước (tiểu đoàn phó tiểu đoàn 409 - tác giả) có khoẻ không? Tôi rất xúc động khi gặp các anh. Tuy nằm ở trên đồi này mát mẻ nhưng tôi không thích vì gần đồn địch. Tôi muốn về quê. Bố tôi là Nguyễn Văn Tỉnh ở Thạch Khê, Hà Tĩnh nhưng đã mất. Còn em là Nguyễn Văn Tiến nhà nghèo, không đủ khả năng đưa tôi về. Trước mắt cho tôi về nghĩa trang liệt sĩ với anh em. Chân phải tôi bị gãy. Tôi nằm trong một khe đá nhỏ, không có người chôn. Giỗ tôi ngày 8 tháng 3″.
    Người tìm thấy hài cốt liệt sĩ Minh là anh Giang Xuân Lâm, 40 tuổi, quê ở Thái Bình. Ngày 18 tháng 10 năm 1992 (Âm lịch), trong khi đào phế liệu, anh Lâm phát hiện cạnh tấm tôn có xương hàm nên bới cẩn thận, lật lên thấy hài cốt. Xương dài, cao. Xương chân bên trái còn có băng cuốn. Gia đình anh đã di chuyển mộ 2 lần. Năm 1995, đưa về an táng trên đồi thông.
    9h30′ cùng ngày, đoàn khảo sát một số khu vực dọc suối, thuộc phía đông đồn cũ của địch, Bích Hằng phát hiện dưới vườn khoai lang của dân có 5 liệt sĩ. Do có nhóm công binh đi cùng, đoàn cho khai quật một hố nhỏ, rộng 0,60m, dài 1,2m, sâu 0,60 m thì tìm thấy một chiếc răng và mảnh xương. Sợ không đủ sức nên đoàn không dám đào thêm.
    Sát mép suối, dưới gốc cây sung, Thẩm Thúy Hoàn đọc được tên 5 liệt sĩ. Liệt sĩ Việt bảo: “Cảm ơn đoàn đã bỏ nhiều công sức đi tìm chúng tôi. Cảm ơn anh em đồng đội đã đến đây. Tại sao khi chúng tôi đi có họ tên mà bây giờ vô danh không ai biết tới”. Thấy chị Đoàn Thanh Hương ngồi ghi chép tên tuổi, quê quán các liệt sĩ, liệt sĩ Việt nhắc: “Chị ghi nhầm quê của tôi rồi”.
    Cuộc tìm kiếm kết thúc vào ngày 2 tháng 4 năm 2002. Đoàn đã xác định được 10 hố chôn với 128 liệt sĩ trong tổng số gần 500 người hy sinh tại K’Nak. Có danh sách cụ thể và đã đối chiếu với đơn vị. Các nhân chứng từng là cán bộ chỉ huy xác nhận là phù hợp với thực tế.
    Đưa anh về với mẹ
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 1

    Đội quy tập đang tìm kiếm hài cốt 8 LS dưới lòng hồ Đắc-Lốp

    Lại một mùa mưa rừng qua đi. Giữa lúc lòng anh Mẫn nóng ran như người ngồi trên đống lửa vì hài cốt của người anh và đồng đội vẫn chìm dưới hồ nước bạc thì bất ngờ anh nhận được tin nhắn từ K’Nak: Hồ chứa nước trên dòng suối Đắc-lốp đã cạn. Anh Mẫn mừng rơn như người bộ hành trên sa mạc trong cơn khát cháy bỗng gặp nguồn nước mát. Anh tức tốc báo cáo với Ban chủ nhiệm Bộ môn cận tâm lý, đề nghị cử nhà ngoại cảm vào giúp đỡ khai quật ngay. Anh Mẫn kể lại: “Trước hôm trở lại K’Bang, tôi phải tổ chức buổi họp mặt gia đình gấp. Không hiểu sao, suốt 30 năm vượt thác băng rừng tìm anh, biết bao hiểm nguy rình rập, tôi không sợ. Vậy mà đêm ấy, lòng cứ thấp thỏm không yên. Tôi thông báo với gia đình toàn bộ việc làm của mình cùng toàn bộ hồ sơ, tài liệu, phòng khi gặp chuyện chẳng lành, con cháu có thể thay tôi tiếp tục hành trình tìm kiếm. Nửa đêm, tôi dậy thắp hương cho anh Thành, thầm cầu nguyện vong linh anh sống khôn chết thiêng phù hộ cho tôi chân cứng đá mềm để tìm thấy anh. Và lạ kỳ thay, bát hương trên bàn thờ anh bốc cháy. Tôi hiểu, ở nơi rừng rú heo hút ấy, anh đã nghe được lời nguyện cầu của tôi”.
    Sáng 27 tháng 7 năm 2002, nhà ngoại cảm Thẩm Thuý Hoàn (Bích Hằng có việc tại Liên Bang Nga nên vắng mặt) cùng bộ phận tìm kiếm vào đến suối Đắc-lốp. Nhưng đập chứa vẫn còn mênh mông nước. Bằng chính tấm tình tha thiết với các liệt sĩ, anh Mẫn đã thuyết phục được chính quyền và nhân dân huyện K’Bang làm một việc “động trời”: tháo đập nước Đắc-lốp. Sau nhiều ngày ăn trực nằm chờ, đập cạn trơ đáy. Lòng vừa khấp khởi mừng thì bất ngờ cơn mưa rừng ập đến. Mưa như trút nước. Mưa sầm sập từ ngày qua đêm. Đập nước lại đầy. Cả đoàn ngồi khóc. Anh Mẫn một lần nữa lại phải cầu xin những người giữ đập xả nước. Lần này, đích thân anh lặn xuống vực nước sâu hơn 4m ùng ục réo để nâng từng tấm gỗ chắn lên. Mọi người ngồi trên bờ sợ thót tim. Chỉ sơ sểnh một tý, cái xác thân vạm vỡ của anh sẽ bị dòng nước cuồn cuộn gào thét cuốn phăng. Nhưng cuối cùng, sức người, nói đúng hơn, lòng người đã thắng. Vài ngày sau, nước rút cạn.
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 2
    Bích Hằng đang ngồi trò chuyện với các vong linh LS
    Việc xác định các mốc: gốc cây lớn đã cưa cụt, đường xuống suối cũ, sườn đồi liên quan tới khu vực trạm trung phẫu đều khớp với những dự báo của Bích Hằng từ đợt trước. Về vị trí mộ cũng đã được xác định và cắm cọc từ đợt đó. Vậy mà 4 ngày đào bới cật lực vẫn không thấy dấu vết gì. Mọi người trong đoàn đều hoang mang. Anh Mẫn cũng nản lòng.
    Đầu giờ chiều, vừa ăn cơm trưa xong, đoàn đang chuẩn bị đào bới một lần nữa thì mây đen từ đâu ùn ùn kéo đến. Cả khu rừng tối sầm. Bầu trời đen kịt. Anh Mẫn quỳ sụp xuống lạy bốn phương, vừa lạy, vừa khóc. Lần đầu tiên anh khấn trách: “Cháu vào đây làm những việc chưa ai từng làm để tìm anh cháu và các chú, các bác. Vậy mà các bác không thương cháu. Lần này cháu lại phải về không rồi”. Đang tuyệt vọng than vãn như vậy thì bất ngờ, một tiếng reo to như thức tỉnh cả núi rừng: “Chú Mẫn ơi! Tìm thấy rồi”. Người cất tiếng reo vui ấy là Quang, một tân binh vừa tròn 20 tuổi. Cả đoàn hăm hở đào liên tục trong hai tiếng đồng hồ. Và đây rồi, các anh đã hiện ra. 8 bộ hài cốt nằm thành hai hàng, cách nhau 0,5m đều tăm tắp. Tiếng khóc xen lẫn tiếng cười cứ hoang hoải buông trong buổi chiều tàn giữa rừng sâu thăm thẳm.

    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 3


    37 năm vùi sâu dưới lòng nước bạc, hài cốt các anh còn ít quá!
    Khi đoàn làm lễ đưa các liệt sĩ lên xe về huyện đội K’Bang, trời giăng mưa trắng xoá. Thế là, sau 37 năm nằm lạnh lẽo dưới lòng nước bạc, không một nén hương tàn, không một lời thăm viếng, các anh lại trở về trong vòng tay đồng đội, trong niềm xúc động nghẹn ngào của người thân, gia đình.
    Ngày đưa anh Thành về nghĩa trang quê nhà (xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) trong không khí long trọng và trang nghiêm cũng là ngày nước mắt mặn mòi của người mẹ 84 tuổi đổ thật nhiều. 37 năm vò võ đợi tin con. 9 lần phấp phỏng chờ Mẫn vào Tây Nguyên đưa Thành về là 9 lần mẹ mừng huỵt, 9 lần mẹ khóc oà tức tưởi. Tưởng vĩnh viễn đời này, kiếp này mẹ mãi mãi mất Thành. Nên lần này, mặc dầu Mẫn điện về thông báo đã tìm được hài cốt anh Thành, chính quyền và nhân dân huyện Xuân Trường đang khẩn trương chuẩn bị đèn, hoa, kèn, trống để tổ chức đón nhận và làm lễ truy điệu cho anh, mẹ vẫn hồi hộp, thấp thỏm không yên. Mẹ sợ trái tim già nua không đủ sức chịu đựng trước trò đùa của tạo hoá lần nữa. Đầu giờ chiều, mẹ đã ra gốc đa đầu làng ngồi chờ. Đêm xuống, sương giăng lạnh, mẹ vẫn lặng câm ngồi như hoá đá. 37 năm, gần 14 nghìn đêm thâu mẹ đã chờ đã đợi. Giờ chờ thêm một đêm nữa có sao. Cho đến 1h sáng, khi chiếc xe trở Thành vừa đỗ, mẹ cuống cuồng lao đến, giang vòng tay gầy guộc ôm trùm lên chiếc tiểu sành phủ lá cờ tổ quốc. Mẹ khóc nấc lên. Ôi! Đứa con yêu của mẹ! Da thịt của mẹ! Máu xương của mẹ! Ngày tiễn con đi mẹ lén lau dòng nước mắt. Giờ đón con về nước mắt mẹ lại tuôn rơi. Có điều, nước mặt mẹ bây giờ mặn chát, chất chứa cả một đời thương đau.
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 4


    Mẹ LS Thành: “Ôi! đứa con yêu của mẹ!”
    Nỗi băn khoăn được giải toả
    Có một niềm băn khoăn, day dứt kể từ buổi trò chuyện với liệt sĩ Ngô Trọng Đãi trong buổi chiều ngày 26 tháng 3 năm 2002: “Nếu không đi Vĩnh Thạnh, chuyến đi của cậu sẽ chẳng còn ý nghĩa gì”. Mãi sau này, anh Phạm Văn Mẫn mới giải toả được. Chuyện là, được tin anh Mẫn tìm được nhiều hài cốt liệt sĩ ở trận đánh K’Nak, gia đình ông Phạm Văn Minh (cùng quê Nam Định) đã tìm gặp anh Mẫn, đề nghị giúp đỡ tìm mộ em trai là liệt sĩ Phạm Xuân Ninh cũng hy sinh trong trận đánh đó. Anh Mẫn và nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vui vẻ nhận lời.
    Ngày 18 tháng 1 năm 2003, đoàn xuất phát từ Hà Nội. Trời cuối đông rét cắt da, cắt thịt, cộng với mưa rừng khiến cuộc tìm kiếm vô cùng gian nan. Cuối cùng, Bích Hằng cũng tìm được hài cốt liệt sĩ Phạm Xuân Ninh gần rừng le phía bờ suối cạn. Hài cốt liệt sĩ còn đủ với các đặc điểm được gia đình ông Phạm Xuân Minh công nhận. Trên đường trở ra Hà Nội, anh Mẫn đề nghị đoàn đi vòng đường Vĩnh Thạnh, cách K’Nak khoảng hơn 60km. Đến nghĩa trang huyện Vĩnh Thạnh, anh Mẫn dẫn mọi người tới một ngôi mộ có bia đề tên: Liệt sĩ Phạm Văn Thành (Miền Bắc). Anh Mẫn kể: Từ năm 1995, ông đã đến đây nhiều lần thắp hương và khóc thương người anh của mình nhưng trong lòng vẫn nghi ngờ. Nay lại tìm thấy hài cốt anh Thành ở suối Đắc-lốp. Vậy ngôi mộ này là thế nào?
    Bích Hằng làm lễ và thực hiện cuộc trò chuyện với người dưới mộ. Liệt sĩ cho biết đúng tên là Phạm Văn Thành nhưng hy sinh tháng 6 năm 1966 tại trạm xá 210. Quê ở Aí Mộ, Bồ Đề, Gia Lâm (Hà Nội). Nay liệt sĩ còn người anh là Phạm Văn ất khoảng 80 tuổi. Anh Mẫn lập tức điện thoại ra Hà Nội nhờ người đến Aí Mộ để xác minh. Và thật bất ngờ, những thông tin trên hoàn toàn chính xác. Ông Phạm Văn ất hiện vẫn còn nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không có điều kiện vào thăm và đưa hài cốt em mình về quê được. Đến đây, nỗi băn khoăn, vướng mắc bao ngày, anh Mẫn mới giải toả hoàn toàn. Điều đó, càng khiến ông biết ơn vong linh liệt sĩ Ngô Trọng Đãi.
    Hành trình tìm kiếm còn dài


    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 5
    Anh Mẫn: “Chừng nào còn sức, còn tiền là tôi còn đi tìm kiếm hài cốt các LS”
    Tìm được hài cốt anh Thành, hơn thế, đưa được anh trở về quê hương, ước nguyện một đời của anh Mẫn đã hoàn thành. Nhưng đêm đêm, anh vẫn thảng thốt giật mình khi chợt nhớ, ở núi rừng K’Bang heo hút, giá lạnh, vẫn còn đó những đồng đội của anh Thành thân xác đang nằm dưới chuồng lợn, nhà xí, dưới hồ sâu, cỏ hoang. Không! Anh phải đi, phải tiếp tục đi tìm cho tới khi tất cả các liệt sĩ được về yên nghỉ tại nghĩa trang. Không thể để cho các anh hy sinh thêm một lần nữa. Và thế là, cứ một năm vài lần, tạm gác lại khối công việc đồ sộ của giám đốc S.phone Hà Nội, anh cùng nhiều cựu chiến binh một thời vào sinh ra tử, lại khoác ba lô đưa các nhà ngoại cảm vào K’Bang tìm kiếm hài cốt. Thành quả của những chuyến đi ngược ngàn ấy là hơn hài trăm hài cốt liệt sĩ đã được tìm thấy và quy tập tại nghĩa trang huyện K’Bang. Điều ấy, khiến anh Mẫn vui lắm. Anh bảo: “Chừng nào còn sức, còn tiền là tôi còn đi”.

    Để kết thúc bài viết bày, chúng tôi xin được mượn những vần thơ đong đầy nước mắt mà nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đã đọc trong buổi chiều mưa rừng mịt mù tiễn đưa linh hồn liệt sĩ Ngô Trọng Đãi về quê hương. Đây được xem như những nén tâm nhang chứa chan lòng biết ơn và cả niềm tiếc thương vô hạn đối với những chiến sĩ đã hy sinh thân mình vì nước mà xác thân còn vùi sâu dưới nước lạnh, cỏ hoang, trong sự thờ ơ, lãng quên vô cảm của người đời.
    Cầu xin cho linh hồn các anh được siêu thoát.
    Lời ru ngọn cỏ
    Cỏ xanh bên mộ khẽ ru
    à ơi! Rừng đã vào thu lá vàng
    Người ơi dù có muộn màng
    Dẫu chưa về được nghĩa trang quê nhà
    Nơi đây nhiều cỏ, ít hoa
    Hãy say giấc ngủ như là tuổi xanh
    Mặc ai xây mộng viễn hành
    Mặc ai ngắt lá, bẻ cành, rung hoa
    Đất này dù đất miền xa.
    Thân thương như đất quê nhà người ơi!
    Lá vàng lại lá vàng rơi
    Lẻ loi lại vắng xa nơi đất rừng
    Ru người giữa chốn mông lung
    Giọt sương cũng muốn đọng ngưng nỗi niềm
    Dấu chân đã trải trăm miền
    Về đây ấm với Tây Nguyên nghĩa tình
    Người hy sinh, đất hồi sinh
    Máu người hoá ngọc lung linh giữa đời
    Thương đau ru đến muôn đời
    Và xanh xanh mãi những lời ru êm
    à ơi! Ai nhớ ai quên
    Thì đây cỏ biếc vẫn bên mộ người.
    K’Bang ngày 2 tháng 4 năm 2002
    Phan Thị Bích Hằng
    Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh:
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 6

    Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh và tác giả
    “Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chưa có trận đánh nào chúng ta bị tổn thất nặng nề như trận đánh căn cứ biệt kích của địch ở K’Nak năm 1965. Việc tổ chức tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở đó là rất tốt, góp phần thực hiện chính sách của Đảng, đồng thời sẽ có thêm kinh nghiệm để chỉ đạo việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ trên phạm vi cả nước. ở riêng Quân khu 5, có khoảng 10 trận đánh tổn thất như thế này”.
    Thiếu tướng Châu Khải Địch: “Số lượng anh em hy sinh quá lớn. Nếu tính cả dân quân du kích địa phương, số hy sinh trong trận này lên tới hơn 1.000 người. Lại bị chôn tập thể. Nhiều chiến sĩ bị địch chất đống đổ xăng đốt mất xác nên dẫu tìm kiếm hết sức cũng không thể nào hết được. Cần xây dựng đài tưởng niệmi để chính quyền, nhân dân địa phương, gia đình thân nhân liệt sĩ đến viếng thăm”.
    Ông Phan Minh Túc - chủ tịch huyện K’Bang:
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 7

    Với sự giúp đỡ tận tình, đầy trách nhiệm của các đồng chí lãnh đạo Bộ quốc phòng, Bộ môn cận tâm lý - Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, đồng đội và thân nhân liệt sĩ, đặc biệt là nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và gia đình ông Phạm Văn Mẫn đã giúp cho huyện K’Bang tìm kiếm, cất bốc, quy tập và đưa vào an táng tại nghĩa trang huyện hơn 200 hài cốt liệt sĩ. Hiện nay, nghĩa trang liệt sĩ K’Bang đã bị quá tải. Việc tìm kiếm vẫn tiếp tục. Chúng tôi đang chuẩn bị mở rộng nghĩa tranh để thời gian tới, có thể quy tập thêm nhiều hài cốt liệt sĩ. Chúng tôi cũng tha thiết đề nghị Bộ lao động thương binh và xã hội sớm có kế hoạch và kinh phí đầu tư cho địa phương triển khai xây dựng Đài tưởng niệm các liệt sĩ trong trận đánh đồn K’Nak trong năm 2006 và đầu năm 2007, kịp khánh thành vào dịp kỷ niệm 60 năm ngày thương binh liệt sĩ 27 tháng 2 năm 2007.
    * Trong bài viết này, chúng tôi có sử dụng một số tư liệu của Bộ môn cận tâm lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người.
    Kỳ 4: Vượt ngàn trùng sóng tìm cha
     
  6. tran_phuong Thành Viên Cấp 5

    Kỳ 4: Vượt ngàn trùng sóng … tìm cha
    Cho đến tận bây giờ, khi nấm mồ của người cha thân yêu đã xanh rì cỏ mọc và câu chuyện đầy ly kỳ, huyền hoặc về hành trình vượt muôn trùng sóng nước tìm cha ở đảo Hòn Mê (Thanh Hoá) của ông Trần Văn Mắc đã bớt xôn xao trên những con phố nhỏ, ông vẫn không thể tin nổi rằng, có một ngày, ông lại có thể tìm thấy hài cốt của người cha bị mất tích trong cơn bão biển sau 17 năm sống trong vô vọng. Càng không thể tin nổi, người vẽ đường và giúp ông tìm cha là một người hoàn toàn xa lạ, chẳng có máu mủ hay quan hệ thân tình gì với gia đình ông, chẳng biết gì về trận bão khủng khiếp năm ấy và cũng chưa một lần đặt chân ra đảo Hòn Mê. Ngồi tít tận Hà Nội vẽ sơ đồ chỉ dẫn chi tiết, lạ kỳ thay, hành trình tìm kiếm đều diễn ra đúng như có sự sắp đặt của bàn tay tạo hoá. Một ngày cuối tháng 8 năm 2006, ngồi kể cho tôi nghe toàn bộ câu chuyện ly kỳ ấy tại nhà riêng ở ngõ 33 Kỳ Đồng, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, ông Trần Văn Mắc miệng không ngớt xuýt xoa: “Thần bí lắm! Huyền hoặc lắm! Đến mức nhiều khi không thể tin nổi. Cứ y như trong Liêu trai chí dị ấy”. Rồi giơ cánh tay chắc lẳn ra trước mặt tôi, ông thì thào: “Đấy, cứ nhắc đến chuyện ấy là tôi lại nổi hết da gà lên đây này”.
    Cơn bão tang thương năm 1985 và cuộc gặp gỡ nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy


    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh
    Ông Trần Văn Mắc tại nhà riêng ở Hải Phòng
    Ngày 20 tháng 10 năm 1985 sẽ mãi mãi đi vào lịch sử thôn Lương Khê, xã Tráng Cát, huyện An Hải (Hải Phòng), quê của ông Trần Văn Mắc. Bởi đó là một ngày buồn đau thê lương nhất. Cơn bão cuối năm với gió giật cấp 6, cấp 7 đã nuốt chìm 4 chiếc thuyền đánh cá ngoài biển khơi, vĩnh viễn cướp đi riêng của thôn Lương Khê 13 người. Ông Mắc đau đớn nhất. Mất liền một lúc 3 người thân: cha (ông Trần Văn Mặc), em út Trần Văn Sùng mới 12 tuổi và em rể Trần Văn Dũng. Em Trần Văn Sùng lần đầu tiên theo cha ra biển chơi và đó cũng là lần cuối cùng trong đời.
    Ròng rã suốt nửa tháng trời, gia đình ông Mắc cứ đội mưa dầm gió bấc, đi suốt dòng đục bến trong để tìm xác 3 người xấu số mà chỉ thấy muôn trùng sóng nước mịt mù nỗi u hoài thê lương. Ông Mắc vẫn đi, đi mãi. Đến tận mũi Cồn Mòi (vùng biển tỉnh Thái Bình) thì vớt được xác chiếc thuyền của cha.
    Thấm thoắt 17 năm trôi qua. Hy vọng tìm thấy thi hài cha và các em đã trở nên vô vọng. Mẹ thì mỗi năm một già yếu mà nỗi nhớ chồng con cứ day dứt khôn nguôi. Nhiều lần, mẹ níu tay Mắc mà khóc rằng: “Con ơi! Bằng mọi giá phải tìm được bố và em. Dù chỉ là một mẩu xương khô cũng được. Nếu không, mẹ chết không nhắm được mắt đâu con ơi!”. Thương mẹ đứt ruột nhưng biết tìm cha ở đâu bây giờ?
    Một ngày đầu tháng 5 năm 2002, trong một lần gặp gỡ ông Trần Tích Tiến, phó tổng giám đốc Công ty cao su INQUE Việt Nam, ông Mắc đã đem nỗi lòng u uẩn của mình ra giãi bày. Không ngờ, nghe chuyện xong, ông Tiến cười bảo: “Anh yên tâm! Tôi sẽ giúp anh tìm được mộ cụ”. Ông Mắc ngạc nhiên hỏi: “Bằng cách nào, thưa anh?!”. Ông Tiến bảo: “Tôi vừa nhờ nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy giúp cho bạn tôi tìm được mộ bố là liệt sĩ Vũ Duy Dư, chôn tít trên đỉnh núi bản Adiu, vùng sâu xa nhất của Đà Nẵng. Chuyện ly kỳ lắm. (Chuyện đi tìm mộ liệt sĩ Vũ Duy Dư, chúng tôi sẽ kể chi tiết ở phần sau - PV). Anh hãy tin tôi đi”. Nụ cười ấm áp và cái bắt tay xiết chặt của ông Tiến khiến ông Mắc lòng khấp khởi mừng mà vẫn thấy lo lo. Bố và em chết ngoài biển cả. Biết trôi dạt nơi nào? Mười bảy năm rồi còn gì. Thời gian quá dài đủ để xoá đi tất cả những gì gọi là dấu vết còn lại.
    Đêm ấy, về đến nhà, ông Mắc kể lại toàn bộ câu chuyện gặp gỡ ông Tiến hồi sáng cho mẹ và vợ nghe. Mẹ nghe xong khóc ầm lên, vừa khóc vừa giục ông Mắc đi gặp nhà ngoại cảm sớm. Vợ ông, bà Phan Thị Trinh thì bảo: “Em cứ thấy hoang đường thế nào ấy. Chả tin được. Ông Nguyễn Khắc Bảy có hoạ là thánh mới làm được như thế. Nhưng thôi, chiều mẹ, mình cứ đi. Được thì nhất. Không được cũng chẳng mất gì”.
    Quyết định như thế nhưng mãi đến đầu tháng 10, ông Mắc mới có cuộc gặp gỡ với nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy. Ông Mắc kể lại: “Nhìn thấy Bảy, tôi hoàn toàn bất ngờ. Bảy cao, gầy, thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, hoàn toàn trái ngược với các ông đồng bà cốt tôi vẫn thường gặp ngoài đời. Sau một hồi nhìn chằm chặp vào chán tôi, Bảy reo nhỏ: “Thấy cụ rồi anh ạ!” rồi vội vàng lôi tờ giấy A3 đặt lên mặt bàn. Miệng nói, mắt nhìn chán tôi, tay vẽ. Bảy đưa các thông tin:
    1. Bố tôi bị cá ăn mất bàn chân phải.
    2. Bố tôi có mộ vì xác trôi dạt vào đảo Hòn Mê (Tĩnh Gia, Thanh Hoá), được bộ đội vớt lên an táng.
    3. Mộ nằm trong một cụm gồm 6 ngôi nằm ở phía Đông Bắc của đảo Hòn Mê, trên một vùng đất thấp, giữa một khe nước và hai lối đi nhỏ của bộ đội.
    4. Trong 6 ngôi thì có 2 ngôi nằm song song, 2 ngôi nằm chèn ngang. Anh Dũng nằm ở ngôi thứ 3. Bố tôi nằm ở ngôi thứ nhất, cách mép nước khoảng 37m, cách khu bộ đội A9 khoảng 150m. Em ruột tôi là Trần Văn Sùng không có ở đây.
    5. Những người đã mai táng bố tôi và anh Dũng là các anh bộ đội trên đảo, trong đó có các anh tên là: Định, Tuấn, Bính, Ngơi…
    Sơ đồ Bảy vẽ khá chi tiết, chữ viết rõ ràng, rành mạch. (Xem ảnh).
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 1
    Viết xong, Bảy đưa cho tôi, bảo: “Anh cứ dựa vào sơ đồ này, thể nào cũng tìm thấy bác và anh Dũng”. Thú thực, lúc đó đầu tôi cứ mụ đi. Người cứ như nửa tỉnh nửa mê. Nhưng tiễn Bảy về rồi mà lòng vẫn cứ bán tín bán nghi. Tôi bèn nhờ các anh công nhân bên Bảo hiểm hàng hải và Nhà Đèn xác minh hộ. Thông tin nhận được thật bất ngờ: Phía Đông Bắc đảo Hòn Mê đúng là có 6 ngôi mộ của dân, trong đó có những người chết trong trận bão tháng 10 năm 1985 được bộ đội vớt lên an táng”.
    Thông tin phản hồi ấy như ánh nắng mặt trời xoá tan đám mây nghi ngờ u ám vốn bao phủ trong đầu vợ chồng ông Mặc bấy lâu. Gia đình ông vội vàng chuẩn bị và làm các thủ tục xin ra đảo Hòn Mê vì đây là hòn đảo quân sự, không có dân cư ở.
    Lần thứ nhất ra đảo: Đào mộ nhầm và 2 cuộc báo mộng kỳ lạ
    Tối ngày 5 tháng 11 năm 2002, gia đình ông Mắc gồm 7 người cùng nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy và bà Quan Lệ Lan, cán bộ nghiên cứu của Bộ môn cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người) rời Hà Nội trên chiếc xe Toyota 14 chỗ tiến thẳng về huyện Tĩnh Gia (Thanh Hoá). Mất một ngày để lo các thủ tục. Sáng sớm hôm sau, đoàn thuê một chiếc tàu đánh cá ra đảo Hòn Mê. Được anh em chiến sĩ trên đảo đón tiếp nhiệt tình, ông Mắc cũng cảm thấy yên tâm phần nào. Tới phía Đông Bắc của đảo, cả đoàn sững người. Trong mờ mịt sương giăng, 6 ngôi mộ lần lượt hiện ra. Hai bên là khe nước và lối đi. Ông Mắc vội vàng lấy thước dây ra đo. Từ mép nước đến ngôi mộ thứ nhất đúng gần 38m. Ông giật mình, chân tay cứ run bắn lên. Những thông tin anh Bảy đưa ra đã trùng khớp với địa hình, địa vật ở đây.

    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 2

    Di ảnh ông Trần Văn Mặc
    Cả 6 ngôi mộ đều được vun đắp cao ráo, chắc chắn, sạch sẽ. Bởi ngày rằm và mồng một, tháng đều đặn 2 lần, anh em bộ đội trên đảo hương khói chu toàn. Sau khi dâng lễ cúng thần linh, đoàn chuẩn bị khai quật ngôi mộ thứ nhất và thứ 3 (theo sơ đồ thì đó là mộ của bố anh Mắc và anh Dũng) thì bất ngờ, nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy bảo: “Không! Nhầm rồi. Nhầm rồi. Đào ngôi thứ 4 và thứ 2 mới đúng”. Thầy bảo sao thì nghe vậy. Gia đình ông Mắc và các chiến sĩ ở đảo nhanh chóng khai quật. “ối giời! Các ông đào nhầm mồ mả người khác rồi”. Bà Trinh hét toáng lên. Cả đoàn tá hoả. “Toàn hài cốt phụ nữ đây này”. Miệng nói, tay bà run run cầm 2 chiếc vòng tránh thai giơ lên cho cả đoàn xem. Cả đoàn chết lặng. “Đây nữa, quần áo, khăn sống vẫn còn nguyên đây này”. Giời ạ! Đúng là toàn quần áo phụ nữ. Vì khi an táng, thi hài được bọc trong những tấm tăng dày nên xương cốt, trang phục còn nguyên vẹn. Bà Trinh khóc ầm lên vì sợ hãi. Mọi người cuống cuồng vùi lấp lại, rồi làm lễ tạ tội. Nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy thành kính thắp hương mời vong người đàn bà xấu số lên nói chuyện. Chị cho biết tên là Vân, cũng bị chết biển trong trận bão năm 1985. Có lẽ, vong linh của chị thiêng quá nên đã “ốp” vào nhà ngoại cảm, buộc anh chỉ nhầm. Đang thực hiện cuộc trò chuyện bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo tới. Gió ràn rạt thổi. Anh Bảy giục cuống cả lên. Anh bảo: “Bác Mặc đang hò hét tôi đưa các anh chị vào đất liền sớm kẻo bão”. Ngay chiều hôm ấy, cả đoàn rời đảo. Về đến thành phố Thanh Hoá thì mưa giông chớp giật. Cả đoàn hoàn hồn.
    Trên đường ra Hà Nội, đoàn ghé thăm ông Trúc, nguyên đảo phó đảo Hòn Mê những năm 1980. Không hề hay biết gì về sơ đồ anh Bảy đã vẽ ở Hà Nội, ông Trúc nhiệt tình kể: Tháng 10 năm 1985, có 4 xác người chết dạt vào bờ. Anh Tuấn quân y được lệnh đi vớt và chôn cất. Sau đó, anh Tuấn về báo cáo lại, có một người đàn ông to lớn cao tuổi nhất bị cá ăn mất bàn chân phải. Xác ông cứ dập dềnh ngoài biển. Anh em bộ đội phải quăng dây câu để kéo vào thì xác lại vướng đá ngầm, không kéo vào được. Cuối cùng, anh Tuấn phải khấn xin rằng anh em sẽ an táng chu đáo, mới đưa được xác ông vào. Nghe chuyện, ông Mắc khóc oà. Người đàn ông luống tuổi cao lớn ấy đúng là bố rồi. Năm 1985, bố ông vừa tròn 51 tuổi, sức khoẻ tráng kiện, nổi tiếng cả làng chài về tài đạp sóng, vượt gió. Nếu không vì cậu con trai Trần Văn Sùng 12 tuổi, có lẽ ông không thể chết đuối được. Và phải chăng, vì không thấy xác con nên xác ông cứ nấn ná ngoài biển cả?
    Những điều ông Trúc kể càng thắp thêm niềm tin, hy vọng tìm thấy hài cốt cha trong ông Mặc. Ông quyết tâm quay lại đảo vào một ngày gần nhất.
    Có hai điều vô cùng huyền bí mà đến tận bây giờ, ông Mắc vẫn không thể nào lý giải được. Chuyện là, khi về đến nhà, đã thấy người mẹ già nước mắt vắn dài, bảo: “Đào nhầm mộ bố rồi phải không?”. Cả đoàn sửng sốt, không hiểu sao bà cụ ở nhà lại biết. Bà thở dài, bảo: “Đêm qua, u nằm mơ thấy thầy con về. Thầy đứng đầu giường u, tay phe phẩy quạt nan, cười khà khà bảo: Mộ bố không đào lại đi đào mộ hàng xóm. Nhưng không sao, rồi sẽ tìm thấy tôi”. Chưa hết ngạc nhiên. Trưa hôm sau, vừa ăn cơm xong, ông Mắc thấy một người phụ nữ chừng 35 tuổi đến nhà ông gõ cửa, xin gặp ông Mắc, bà Trinh. Hai vợ chồng ông còn đang ngơ ngác thì người phụ nữ đã hỏi: “Có phải ông bà vừa ở đảo Hòn Mê về phải không? Có phải ông bà đã đào nhầm mộ người phụ nữ tên Vân có phải không?”. Ông Mắc gật đầu xác nhận. Người phụ nữ khóc oà rồi sụt sùi kể: chị chính là em gái của chị Vân. Tối qua, chị Vân về báo mộng cho chị, rằng muốn tìm thấy mộ chị, hãy đến địa chỉ số nhà 4, ngõ 33 phố Kỳ Đồng, Quận Hồng Bàng, Hải Phòng, gặp vợ chồng ông Mắc, bà Trinh. Chị đi mà lòng dạ cứ bán tín bán nghi. Và thật kỳ lạ, mọi chuyện xảy ra đúng như lời người báo mộng.
    Lần thứ 2 ra đảo: sự trùng khớp lạ kỳ
    Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - 3
    Nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy và tác giả
    Ngày 28 tháng 11 năm 2002, được sự giúp đỡ của ông Sơn - nguyên đảo trưởng đảo Hòn Mê, ông Trúc - nguyên đảo phó, ông Tuấn - quân y, những người đã từng công tác ở đảo năm 1985 (nay đã nghỉ hưu), gia đình ông Mắc và chị Vân lại ra đảo. Xem sơ đồ anh Bảy vẽ, các ông Sơn, Trúc, Tuấn đều khẳng định đúng như thực tế lúc đó. Năm 1985, ông Sơn đang triển khai xây dựng nhà A9 còn ông Tuấn là người trực tiếp chôn 4 thi hài chết trôi. Ông Trúc là đảo phó chính trị nên nắm rất rõ các chi tiết.
    7h sáng ngày 29 tháng 11 năm 2002, ngôi mộ thứ nhất nằm cách mép nước gần 38m được khai quật. Thi hài một người đàn ông bị mất chân phải hiện ra. Lắp hai chiếc răng rụng vào hàm thì vừa khớp. Cả nhà khóc oà khi nhận ra sợi dây chun quần thắt rất nhiều nút để tăng tính đàn hồi mà ông Mắc đã làm cho cụ. Đây đích thực là xương cốt của bố rồi, không còn nghi ngờ gì nữa.
    Khai quật tiếp ngôi thứ 3, mở nắp quan tài ra, lại những tiếng khóc vỡ oà khi gia đình anh Dũng nhận ra bộ quần áo bò vá gối anh Dũng mặc hôm ra khơi.
    Khai quật lại ngôi thứ 4, gia đình chị Vân nhận ra tấm mề đay mang hình đức Mẹ mà chị luôn mang bên mình. Ba ngôi còn lại vì chưa xác định được nhân thân nên anh em chiến sĩ trên đảo khai quật lên, ghi lại những dấu vết còn lại của từng bộ hài cốt, tắm rửa, sang tiểu rồi chôn lại.
    Thế là, sau 17 năm sống trong vô vọng, cuối cùng, ông Mắc cũng tìm được và đưa hài cốt người cha thân yêu về với quê nhà, thoả một đời ước nguyện của mẹ. Ông nghẹn ngào nói: “Đời này, kiếp này, chúng tôi chịu ơn nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy và Bộ môn cận tâm lý, chịu ơn tấm tình nồng hậu mà các chiến sĩ đảo Hòn Mê đã dành cho gia đình chúng tôi. Thế giới này quả là rộng lớn và có biết bao điều lỳ lạ. Một lần nữa xin được tạ ơn với đời, với người”.
    Kỳ 5: Tìm mộ liệt sĩ qua…vong một thai nhi 3 tháng tuổi
     
  7. ruaden4 Thành Viên Kim Cương

    Thật cảm động. Đọc truyện ma thì sợ còn đọc bài viết này lại cảm động nhiều hơn sợ.
     
  8. dohieu Thành Viên Cấp 5

    ôi hết rồi àh, đọc mà xúc động quá!!
     
  9. sieutamdodoc Thành Viên Cấp 4

    đọc thấy cảo động quá. Bác còn post cho anh em đọc về cuộc chiến oai hùng của dân tộc Việt Nam.