Một thời được coi là “địa ngục trần gian”, Trại tù binh chiến tranh Phú Quốc, hay còn gọi là Nhà tù Phú Quốc, Nhà lao Cây Dừa (huyện Phú Quốc, Kiên Giang) thuộc loại tàn bạo nhất thế giới. 35 năm sau ngày đất nước thống nhất, trại tù binh này còn nhiều bí mật với những ẩn số giữa trùng khơi Tây Nam. Kỳ 1: Gặp lại cai ngục khét tiếng Những ngày đầu tháng tư lịch sử, chúng tôi vượt biển, ra Phú Quốc tìm gặp cai ngục ấy. Ông tên là Trần Văn Nhu, tức Bảy Nhu - được mệnh danh là cai ngục khét tiếng nhà tù Phú Quốc với những đòn tra tấn tàn ác, dã man; vẫn sống cuộc đời ẩn dật trên đảo Phú Quốc, bên cạnh trại tù Phú Quốc, như một hành động chuộc lỗi lầm. Ông Bảy Nhu, cai ngục duy nhất còn lại sống trên đảo Phú Quốc. Đối diện Ông là nhân chứng sống và ẩn chứa nhiều bí mật của một thời tàn bạo nhất. Chính vì thế, chúng tôi tìm gặp ông. Nhưng liệu ông có chịu nói về quá khứ đầy ắp tội ác của bộ máy nhà tù mà chính ông là một bộ phận trong đó? Chia sẻ ý định gặp Bảy Nhu, nhiều cán bộ địa phương quả quyết “ông ấy sẽ không nói”. Có nhiều đoàn đến gặp, hỏi chuyện ngày xưa, ông đều né tránh. Hằng ngày chỉ tụng kinh gõ mõ như sám hối những tội ác của quá khứ. Đêm ấy ở lại đảo, tôi nghĩ lung lắm. Cuối cùng, quyết định đến nhà ông Bảy Nhu một mình. Sáng hôm sau, tôi vượt con đường mòn, dốc, lổm ngổm ổ gà vào nhà Bảy Nhu nằm cạnh Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc. Bước vào cổng, tôi thấy ông già tóc bạc trắng đang lúi húi phơi quần áo trước sân. Trước mặt tôi là Trưởng giám thị khu biệt giam 2 khét tiếng tàn ác, gây bao căm hờn đối với các tử tù chính trị. Bàn tay chai rần, nhăn nhúm đang rót trà mời tôi đã từng cầm thước gõ gãy từng chiếc răng của các chiến sĩ cách mạng. Cũng bàn tay ấy từng đổ hắc ín lên đầu chiến sĩ cộng sản rồi châm lửa đốt. Bàn tay ấy từng dùng kìm rút từng móng tay tù binh đang hơ trong lửa rồi cười man dại. Sự tàn ác và vẻ ủ rũ già nua, quá khứ và hiện tại ở một ông già tuổi 83 như ông Nhu, khiến tôi không biết bắt đầu đặt câu hỏi từ đâu. Nhà tù Phú Quốc. Tội ác cúi đầu “Ông Bảy, bây giờ con cái lớn rồi hả ?”, tôi bắt đầu câu chuyện với ông Bảy Nhu. “Ừa, tui có 5 đứa, một đứa đã chết ở Campuchia. Mấy đứa con gái đã lấy chồng. Tui ở với thằng Út. Bà con ở Đồng Tháp nhiều lần khuyên tui về bên ấy, nhưng tôi không về”, ông trả lời. Tôi hỏi tiếp: “Ở huyện nào ở Đồng Tháp vậy ông Bảy?”. Ông bảo: “Tháp Mười chú à!”. Tôi nói: “Đó là vùng căn cứ cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ, nhân dân một lòng đi theo cách mạng. Vì sao ông lại đi phục vụ cho chính quyền Ngụy?”. “Hai em trai tôi, cháu tôi, dâu… đều hoạt động cách mạng đấy chứ. Riêng tôi bị tổng động viên đi lính cho Pháp từ lúc 20 tuổi, sau đó làm cho chính quyền ngụy. Đầu năm 1968, tôi được điều ra Phú Quốc khi Trại tù binh cộng sản Phú Quốc mới được Chính quyền Sài Gòn thành lập. Hồi đầu, chỉ huy nhà tù để ý tôi dữ lắm vì gia đình có người theo cách mạng. Tôi phải cố làm việc để chúng khỏi nghi ngờ”, ông phân bua. Ông Nhu đang ngụy biện, tôi nghĩ thầm, nhưng lại hỏi ông theo hướng khác. Vậy sau khi thống nhất, có nhiều người làm trong trại tù binh đã bằng cách này hay cách khác vượt biên, rời khỏi đất nước vì ngộ nhận sẽ bị trả thù. Sao ông không đi? Ông nói, bản thân có quá nhiều tội lỗi với đất nước, đồng bào. Ngày 30/4 giải phóng Sài Gòn thì ngày 14/5/1975, cán bộ đến gọi tôi đi học tập cải tạo, đến năm 1979 thì xong. “Hồi ấy, nói thiệt với chú, cứ mỗi lần có đoàn nào vào nhà, tôi thót cả tim. Lúc ấy, tôi nghĩ, liệu mình có bị bắt tiếp không? Những tù binh từng bị tôi tra tấn, liệu ngày nào họ quay lại trả thù? Nhưng sau này tôi mới hiểu, những tù binh cũ trở lại đều đến với tôi bằng cả tấm lòng vị tha. Sự bao dung lớn lao trong họ là điều mà tôi không bao giờ tưởng tượng nổi”, giọng Bảy Nhu chùng xuống, vẻ mặt hối hận. Ông Nhu kể tiếp, khi chiến tranh leo thang, số tù binh tăng vọt, các biệt khu giam giữ cũng được mở rộng. Các khu giam bố trí thêm thép gai bùng nhùng vòng trong, vòng ngoài từ 3-5 lớp, được gài trái sáng, người vượt ngục khó trốn thoát. Khu vực ngoài bờ rào được gài nhiều lớp mìn các loại: mìn play-more, mìn cóc, mìn râu tôm USA... Ban đêm, hệ thống đèn pha rực sáng, quét liên tục mọi ngóc ngách. Các khu giam còn được trang bị cả ống nhòm hồng ngoại tuyến quan sát về đêm. “Tăng cường chặt chẽ vậy mà mấy ông tù binh vẫn vượt ngục bằng cách đào hầm. Tài thật”, ông Nhu buột miệng, rồi nói tiếp: “Tài nhất là vụ đào hầm ở phân khu biệt giam A2, nơi tôi quản lý vào đêm 20/1/1969. Mấy người tù tổ chức đào đường hầm ở phòng 13 và 14, dài 120 m và thoát được 21 người. Ban chỉ huy, giám thị không hiểu bằng cách nào các tù binh đào hầm một cách tài tình và bí mật trong thời gian dài. Hồi trùng tu khu di tích, Ban quản lý Di tích nhà tù Phú Quốc nhờ tôi tham gia góp ý, chỉ các chi tiết cho giống nhà tù cũ và chỉ vị trí đường hầm trên. Tình cờ, ông Lê Xuân Cát (hiện ngụ thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai) là một trong những người đào đường hầm, vượt ngục thành công, dịp đó cũng ra thăm. Khi giáp mặt, ông Cát nhận ra tôi ngay, đối xử với tôi như người thân lâu ngày gặp lại và nhắc về vụ vượt ngục chấn động ấy. Cách cư xử ấy làm tôi hổ thẹn về tội lỗi của mình, không dám nhìn thẳng vào ông. Lúc ấy, tôi sợ đối diện với quá khứ, sợ nụ cười đầy bao dung ông ấy dành cho tôi. Kỳ 2: Ngược dòng... Trung Kiên
Kỳ 2: Ngược dòng Mặc dù những thông tin được cung cấp từ một người phía bên kia chiến tuyến như ông Bảy Nhu thì độ chính xác còn phải kiểm chứng thêm. Nhưng tôi nghĩ, dù sao người cai tù khét tiếng này đang sống những năm tháng cuối đời, bộc bạch những điều giấu kín trong hơn 35 năm qua, trong đó có sự hối hận của chính ông. Chuồng cọp kẽm gai tra tấn tù nhân tại Nhà tù Phú Quốc. Thông điệp cho mai sau Bảy Nhu tiếp tục cái mạch chuyện đang kể, ký ức nhà tù hiện rõ mồn một. “Chế độ nhà tù đối với tù binh ngày càng siết chặt. Ai hội họp, treo biểu ngữ, rải truyền đơn, vượt ngục… đều bị đối xử bằng vũ lực, hoặc bị bắn chết ngay”, ông Bảy nói. Khi được hỏi những tù binh chết trong tù được chôn cất như thế nào, ông cho biết, trước năm 1970, khi chôn cất không có bia mộ. Thi hài chỉ được bọc chiếu, tấm ni long, bao bố. Sau này quy tập liệt sĩ, có trường hợp phát hiện tên, ngày mất, quê quán trong hài cốt hoặc trên mộ. Nguyên nhân là do, mấy anh bạn tù đi theo lúc chôn thường lén bỏ miếng tôn khắc hoặc vẽ tên, quê quán, ngày mất vào người tù xấu số. Lúc đi chôn, mấy viên quân cảnh và người phụ trách rất sợ bị du kích phục kích, thường chỉ chú ý đến quan sát, cảnh giới, chứ ít để ý đến việc chôn lấp ra sao. Hố đào xong, mấy người tù lén bỏ những miếng tôn đó vào huyệt, hoặc nhét vào thi hài bạn tù. Chôn xong, là nhanh chóng ra về... Khi nghe ông Bảy Nhu nói đến chi tiết này, tôi chợt nhớ đến những hiện vật đang được trưng bày tại Di tích lịch sử nhà tù Phú Quốc mà tôi tìm hiểu trước đó vài ngày. Hóa ra, một số tên tuổi, ngày sinh của liệt sĩ sau này, trong quá trình qui tập mới xác định được nhờ những hiện vật nhờ các bạn tù cẩn thận tìm cách khắc vào tấm tôn, vào đế dép cao su, vào mảnh gạch hoặc mảnh gỗ, bỏ tên ghi trong lọ thuốc…chôn theo thi hài, mong để lại những thông điệp cho ngày mai. Trở lại câu chuyện, ông Bảy Nhu kể, mãi đến năm 1971, nhà tù mới có chính sách làm mộ bia cho tử tù bị chết. Thời điểm đó, chỉ huy trại tù binh mới cho dựng cổng bằng hai cây gỗ thông, treo tấm bảng ghi: Nghĩa địa tù binh cộng sản. Tái hiện cảnh tra tấn dã man tại Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc. Bao nhiêu người đã hy sinh? Sau ngày giải phóng, ông Tư Đấu, lúc đó là Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Phú Quốc mời ông Bảy Nhu cùng tham gia qui tập hài cốt liệt sĩ. Theo lời ông Bảy Nhu, trước 1968, một khu vực thuộc khu nghĩa địa đã bị cho ủi phẳng một lần, vì thế mới có tình trạng phát hiện nhiều lớp hài cốt liệt sĩ ở độ sâu 3-4 m. Cả khu nghĩa địa rộng hơn 11.000 m2. Những mộ ở phần trên được bốc hết trong mấy lần quy tập trước. Các mộ cách nhau khoảng 2-3 m hoặc có khi 6 m. Có cái khoảng cách không đều như thế cũng là vì mấy tay quân cảnh và phụ trách chôn cất sợ du kích phục kích, đào đại một lỗ, bỏ xác tù binh, lấp vội, rồi về, không chú ý khoảng cách gì cả. “Tôi kể một câu chuyện này để thấy hiện nay xác tù nhân trong rừng còn nhiều. Đó là một đợt vượt ngục ở miếu Cô Sáu. Bữa đó, các tù nhân được đưa lên dốc Cô Sáu. Do xe mất trớn, nên phải ngừng để gài số lấy đà vượt dốc. Lợi dụng lúc đó, mấy anh em tù lao vào giết 3 quân cảnh và giám thị, tài xế rồi tẩu thoát vào rừng. Chỉ 10 phút sau, còi báo động ầm vang cả khu vực. Trực thăng được điều động truy lùng. Khi phát hiện, chúng thả bom chặn đầu và khóa đuôi, một số bị giết chết mà không được chôn cất. Vì vậy, sau này rất khó cho việc tìm kiếm, quy tập hài cốt. Ngoài ra, có những trường hợp việc chôn cất lén lút, như trường hợp phát hiện nhiều hài cốt liệt sĩ ở đồi 37. Năm 1985, ở đồi 37, thuộc ấp 4, thị trấn An Thới có ông lão làm rẫy phát hiện có rất nhiều gò mả. Nhưng ông lão không kể với ai. Có bận, tôi tình cờ ghé thăm. Ông lão dẫn tôi ra rẫy bảo, ở khu vực này sao có nhiều mả quá rồi hỏi tôi hồi còn ở trong trại tù binh có nghe đến khu này không. Tôi trả lời không biết khu nghĩa địa nào ngoài khu đồi 100. Ông lão dẫn tôi ra xem thì đúng thật, có rất nhiều ngôi mộ. Sau lần ấy, tôi liên lạc ngay với anh Tư Đấu. Khi nghe tôi nhắn, anh Tư Đấu gấp gáp chạy lên nhà tôi và cùng đi xem khu mộ ở đồi 37. Sau đó, Tư Đấu đề xuất xin ý kiến và cất bốc được gần 22 hài cốt liệt sĩ”, ông Nhu kể. “Số hài cốt liệt sĩ hiện nay đã qui tập được còn chưa đủ so với con số 4.000 tù binh đã bị hi sinh”, tôi thắc mắc với ông Bảy Nhu. Ông Nhu nói: “Những con số thì cần phải kiểm chứng. Những liệt sĩ chưa tìm thấy thì cần tiếp tục tìm, quy tập. Tôi không nắm được con số tổng thể, nhưng có thể ước lượng hơn 2.000 người”. Ngừng một lát, Bảy Nhu nói tiếp: “Bây giờ, tôi muốn yên thân, không muốn nhắc lại chuyện cũ. Vì thế, suốt bao năm qua, có nhiều người hỏi chuyện về những năm tháng ở trại tù binh Phú Quốc, nhưng tôi không nói. Mấy chục năm qua tôi cố làm được điều ấy. Tôi biết mình sai, lầm đường lạc lối. Tôi không về Tháp Mười hay đi Mỹ để sống cũng vì lẽ đó. Có chết thì chết ở ngay trên đất đảo này, bên cạnh nhà tù này”. Kỳ 3: Hãy gọi đúng tên lịch sử
Kỳ cuối: Hãy gọi đúng tên lịch sử Trong 2 năm qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các cấp, ngành có hàng loạt văn bản, chỉ thị về đầu tư phát triển, đưa Phú Quốc trở thành một “thiên đường” du lịch, trung tâm du lịch thương mại trong tương lai, xứng tầm với lịch sử giữa biển Tây Nam của Tổ quốc. Hàng trăm nghìn du khách đến đảo hôm nay, trong đó có không ít người nước ngoài, kiều bào, muốn được thăm Di tích nhà tù Phú Quốc. Nhưng hiện nay, vấn đề bảo tồn, bảo tàng di tích lịch sử nhà tù Phú Quốc còn nhiều điều cần làm. Nhà tù hay Trại tù? Hiện nay, Trại tù binh cộng sản Phú Quốc đã được đặt một cái tên mới là Di tích lịch sử nhà tù Phú Quốc. Tên dù đã được công nhận, nhưng vẫn còn có rất nhiều ý kiến cho rằng nó chưa phản ánh đúng tầm mức và bản chất lịch sử vốn có của nó. Nhiều người cho rằng, Trại tù binh cộng sản Việt Nam - Phú Quốc là một điển hình của sự đàn áp những người cộng sản chân chính, dập vùi sự đấu tranh vì tự do, độc lập của dân tộc. Nơi đây từng là một địa ngục trần gian, nhưng bao năm qua chưa được gọi đúng tên. Nhà giáo ưu tú, Thượng tá Phan Tấn Thế, Nguyên Phó giám đốc bảo tàng Lực lượng vũ trang Nam bộ, đã từng kiến nghị nên gọi là Di tích lịch sử Trại giam tù binh cộng sản Phú Quốc hoặc Di tích lịch sử Trại giam tù binh Phú Quốc. Những cái tên này vừa thể hiện rõ bản chất lịch sử, niềm tự hào của các đồng chí cựu binh từng bị giam cầm tại đây, đồng thời có thể xác định tầm cỡ ở cấp nhà nước của di tích. Nếu tên gọi không chuẩn, vô tình chúng ta đánh giá thấp âm mưu thâm độc, tội ác của kẻ thù. Cần đặt đúng tên để thấy mức độ, bản chất tàn bạo của chế độ Mỹ - Ngụy thời kỳ ấy. Cần quan tâm đến công tác bảo tồn Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc. Ở một lập luận khác, bà Trương Thị Bích Khuê, Trường ĐH Văn Hóa TP HCM, cho rằng: “Đặc điểm nổi bật riêng biệt của các trại giam Phú Quốc, đó là không tự nhiên mà tên của ba trại giam tù binh đều có từ “trại”: Trại (Camp) Căng Cây Dừa (1953 - 1954), Trại chỉnh huấn cây dừa (1956 - 1957), Trại tù binh cộng sản Việt Nam - Phú Quốc (1967 - 1973). Thực chất, dưới danh nghĩa “trại giam”, địch dễ bề đàn áp dã man, thủ tiêu hàng loạt tù binh khi chưa được đưa ra xét xử. Trong 10 năm tồn tại của ba trại giam trên, có 9 năm là giam giữ tù binh. Trong số 54.000 tù binh, thì có khoảng 40.000 là tù binh thời kỳ chống Mỹ. Vì những đặc điểm đó, chúng tôi thấy nên xác định tên gọi là Di tích Trại giam tù binh Phú Quốc”. Ông Hoàng Mạnh Tùng, nguyên chuyên viên Bảo tồn, bảo tàng thuộc Bộ VH-TT (nay là Bộ TT-TT), cho rằng: “Nhà tù có nghĩa là nơi giam cầm những tù nhân đã bị kết án tù, còn trại giam là nơi giam giữ những người bị đối phương bắt chưa có án tù. Tù binh nói chung bị giam giữ, chưa có xét xử, khi chiến tranh kết thúc mới quyết định. Tuy vậy, ở trại giam tù binh Phú Quốc, địch thả sức hành hạ, tra tấn, bắn giết mà không cần án. Xuất phát từ thực tế khách quan lịch sử, tính chất của trại giam và hiện trạng di tích, tôi kiến nghị nên đặt tên Di tích lịch sử Trại giam tù binh Phú Quốc”. Vĩ thanh Đã tròn 35 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, nơi biển trời Phú Quốc hôm nay trở thành một hòn ngọc trên biển Tây Nam. Những công trình, dự án hạ tầng, du lịch với vốn đầu tư hàng triệu USD… đang hứa hẹn đưa “đảo ngọc” trở thành một “thiên đường”. Nhưng dù phát triển thế nào đi nữa, những chứng tích của “địa ngục trần gian” xưa cần được tôn tạo, bổ sung để trở thành điểm giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau. Trước sự xuống cấp của di tích lịch sử trại tù Phú Quốc, hiện nay, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, tỉnh Kiên Giang đang đã tiến hành khôi phục, tôn tạo lại khu di tích này với quy mô lớn. Ông Ba Toản, một cựu tù binh Phú Quốc hiện đang sống ở đảo tâm sự: Cần phải làm nhiều việc để khu di tích này được biết đến nhiều hơn, đi sâu vào ký ức của nhân dân Việt Nam về một giai đoạn hào hùng của các chiến sĩ cách mạng. Cần phải trùng tu toàn diện để di tích này có sự khác biệt, đáng tự hào; để du khách trong và ngoài nước đến tham quan không khỏi thất vọng. Ba Kiên
BẢY NHU: ÁC QUỶ CHIẾN TRANH HIỆN ĐANG CÒN ĂN CHAY NIỆM PHẬT TẠI PHÚ QUỐC Phóng sự dài kỳ của Phạm Thị Thao Giang Tôi đã kỳ công ra với đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang), tìm gặp bằng mọi giá, đối thoại và lén chụp ảnh viên cai ngục khét tiếng đã được sử sách, báo chí, thông tin bảo tàng và các nguồn tư liệu - nhân chứng sống hãi hùng nhắc đến quá nhiều ấy. Ông ta năm nay 83 tuổi, tên là Trần Nhu (thường gọi Bảy Nhu), sống ẩn dật trên một quả đồi hoang vắng, xanh mải miết toàn cây bạch đàn, hằng ngày ăn chay niệm Phật và nen nét với nỗi ám ảnh tội lỗi. Ông ta biết rõ mình là quỷ đội lốt người, đã hành hạ, tàn sát bao nhiêu người trẻ ưu tú của non sông Việt, nên ngay cả lúc gần đất xa trời này, Bảy Nhu vẫn cứ đeo đẳng nỗi hốt hoảng vì sợ bị “ai đó” trả thù. Ông Nhu tuyệt đối cấm chụp ảnh mình, cực kỳ hạn chế tiếp xúc với... đồng loại. Quả là, không ai ngờ viên cai ngục kỳ lạ, dị mọ, quái đản cổ đeo cả một ống bơ toàn răng tù nhân đó vẫn còn đang... sống. Viên cai ngục Bảy Nhu ở tuổi 83 tại đảo Phú Quốc(2 ảnh trên) và ông Vũ Minh Tằng, khi đem 9 cái răng "định mệnh" của mình "hiến tặng" cho bảo tàng chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày (Phú Xuyên, Hà Nội). Có chi tiết thế này: từ thế giới “địa ngục trần gian” ở ngoài hòn đảo “thiên đường du lịch” trở về, tôi trò tiếp tục chuyện người tù cộng sản ông Vũ Minh Tằng (đang sống tại xã Vĩnh Hảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). Ông Tằng mang đến “Bảo tàng Các chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày” do ông Lâm Văn Bảng xây dựng (ở xã Nam Triều, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội) tặng... 9 cái răng của mình. Ông Tằng đã “phục kích” nhiều ngày, bới các đống phân của mình trong chuồng cọp biệt giam, để tìm và giữ bọc răng đó suốt hơn 30 năm ròng, sau khi tên cai ngục kia đánh gẫy của ông, bắt ông nuốt vào bụng mình toàn răng và máu... Nghe tôi kể Bảy Nhu còn sống, tôi khoe ra những chụp ảnh và cả tiếng đồng hồ băng ghi âm từ đảo Phú Quốc, ông Tằng (71 tuổi) nghiến những chiếc răng già hổng hoác còn lại mà khóc: “Cái thằng ấy nó chưa chết ư? Ối trời ơi, nó vẫn còn sống thật không?”, rồi ông đau đớn hồi tưởng lại... 6 năm trời chết đi sống lại, bị tra tấn tàn độc bởi một bầy ác quỷ trong nhà tù. Ông Tằng lại thở hắt ra: “Nghĩ cho chùng, Nhà nước mình để cho nó (Bảy Nhu) sống, là rất nhân đạo, cũng lại hoá ra rất tốt, nếu nó không còn sống, thì ngoài hàng nghìn người đã chết thì chưa kể, còn hàng vạn người bị tra tấn bằng các trò của Quỷ Sa-tăng như tôi đây, có đem kể lại chuyện bị hành hạ, bị bắn giết, vứt xuống biển hết sức kinh dị cho con cháu nghe, chửa chắc đã có ai tin. Chuyện thật mà nó cứ xa xôi như ở cõi khác, ở kiếp khác ấy. Hoá ra, cái giống quỷ như thằng Nhu, lại vẫn có ích cho... Đời”. “Gậy biệt ly”, “Vồ sầu đời”, và cái “hữu ích” của việc Bảy Nhu còn sống ! “Bảy Nhu - viên cai ngục tàn ác nhất trong lịch sử Việt Nam!” - viết như vậy, tôi biết, sẽ có người cho tôi là hồ đồ, hoặc hơi quá... xúc động , khi gọi gọi Bảy Nhu như thế. Song, độc giả Tuổi trẻ thủ đô cứ cho phép tôi tạm gọi như vậy, vì những lý do rất đáng xem xét sau đây: bởi, “đào bới” suốt sử sách - tư liệu của ngàn năm lịch sử, từ thời nguyên thuỷ, thời phong kiến, thời bị ách xâm lược của cú diều Thực dân, Đế quốc, tôi chưa bao giờ nghe, đọc, xem được một có tù ngục nào dã man với viên cai ngục bằng xương bằng thịt mà lại kinh thiên động địa như cặp bài trùng khét tiếng: thượng sỹ Bảy Nhu - nhà tù Phú Quốc. Tôi đã nhiều lần lục tìm bằng tất cả các nguồn tư liệu, sách báo, giai thoại, mà chưa thấy ở nơi nào, có lưu hành chuyện về đủ trò 24 ngón tra tấn “danh bất hư truyền” được ghi trong nhiều sử sách và... sổ sách (của Nhà tù), được đặt tên “lâm ly bi đát” như vậy cả (kiểu như “Vồ sầu đời”, “Gậy bịêt ly”...). Các trò của Quỷ Sứ, gồm: từ đập vỡ mắt cá chân, dùng ván và đinh ốc ép cho vỡ lồng ngực tù nhân đến dùng kìm rút móng chân móng tay, dùng giẻ tẩm dầu đốt cháy… dương vật, dùng cây sắt nhổ dần từng chiếc răng chính trị phạm; thậm chí cả: móc mắt hoặc dụng bóng điện lớn để gần mắt cho đến khi mắt chín nổ “đòm đọp” mới thôi, luộc “phạm nhân” trong chảo nước sôi cho các “bạn tù” chiêm ngưỡng… Bạn đã nghe ở đâu có những chuyện như ở dưới ngục A Tỳ của ông Diêm Vương như thế chưa? - đấy là chưa kể, hàng nghìn nhân chứng còn sống sờ sờ ra đó với các phần thân thể tàn phế, câu chuyện của họ, những bức ảnh của họ, các hiện vật bảo tàng biết nói đang trưng bày ở Phú Quốc, Sài Gòn, Hà Nội. Tất cả là những lời tố cáo đanh thép nhất. Đế quốc đã cút, Nguỵ quyền đã thảm bại, đảo Phú Quốc vẫn óng ả nắng vàng, vẫn mượt mà biển xanh, đích thị là một thiên đường du lịch, một con gà đẻ trứng vàng của ngành công nghiệp không khói Việt Nam trong thế kỷ 21. Nói chuyện xưa là để ngẫm chuyện nay, không hiểu sao, trong những chuyến bay Sài Gòn - Phú Quốc, những chuyến tàu xé toang mặt biển từ Rạch Giá đi An Thới, cái dự định tìm gặp bằng được tên đao phủ khét tiếng Trần Văn Nhu cứ ám ảnh tôi mãi. Anh em công an, bộ đội biên phòng, giới nhà báo, văn nghệ sỹ ở thành phố Rạch Giá đã kể với tôi nhiều chuyện về Bảy Nhu, dù hầu hết trong số họ chưa ai trông thấy Nhu bằng xương bằng thịt bao giờ! Chuyện nào cũng ly kỳ như trong tiểu thuyết, rồi ai cũng khuyên tôi nên bỏ ý định đi tìm Bảy Nhu. Có người bảo, ông Nhu không bao giờ chấp nhận gặp một ai nữa đâu, ông ta lánh đời, ăn chay trường, niệm Phật để mong sau này về cõi âm, đỡ phải bị “đền tội” thông qua việc bọn quỷ nó cho vào cối giã sống, hoặc hai tên quỷ ngồi hai bên, nhâm nhi cứa đứt cổ Nhu bằng một sợi dây đàn khò khử đêm ngày. Có người bảo, vì quá nhiều người muốn lén giết chết Nhu cho hả lòng lương thiện của mình, nên Nhu sống biệt tăm trong hang núi giữa một bầy chó béc-giê và hệ thống súng ống cướp được từ thời loạn lạc, ông ta dữ dằn tìm phương kế tự bảo mình (?)... Lịch sử ghi rõ: Nhà tù Phú Quốc có diện tích hơn 400ha, gồm 44 phân khu, trong 7 năm tồn tại của mình (từ năm 1966 đến 1973 khi hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, các bên trao trả tù binh), nơi đây đã giam giữ và tra tấn tàn độc với ít nhất 40.000 tù nhân cộng sản và thường dân yêu nước, trong đó khoảng 4.000 người đã chết thảm vì những trò tra tấn tàn độc nhất, ác quỷ nhất. Thi thể của họ bị ném xuống biển hay vùi rấp ven các cánh rừng, rông núi ngoài đảo xa. Năm 2009, tôi cũng đã có mặt, chứng kiến đội quy tập mộ liệt sỹ (k92) của Tỉnh đội Kiên Giang cất bốc, quy tập cả nghìn bộ hài cốt tù nhân ở khu vực nhà ngục Phú Quốc; vừa rồi trở lại, nhìn những cánh rừng tan hoang hang hốc bởi cuộc khai quật mồ liệt sỹ lớn nhất trong lịch sử Việt Nam đó, tôi đã khóc và nghĩ rằng: lẽ ra Truyền hình Việt Nam phải tổ chức truyền hình trực tiếp sự kiện bi tráng quá sức tưởng tượng này. Sóng hình quốc gia ở đâu? Sao mà cứ đi “trực tiếp” quá nhiều chương trình “nực cười” đến mức bị “Táo Truyền hình” đưa ra rỉa rói rồi công luận hả hê như vậy nhỉ? Máy xúc máy ủi làm việc hết công suất, có hố chôn tập thể, gồm cả 500 bộ hài cốt, nhiều bộ xương, sau gần nửa thế kỷ bị chôn rấp, vẫn cứ đau đớn găm bên mình tới 16 cái đinh mười do cai ngục tra tấn khi xưa. Trong hồ sơ của Trại tù binh Cộng sản Phú Quốc, hiện còn lưu giữ hồ sơ về 24 ngón đòn tra tấn “bài bản và hiệu quả” mà các viên cai ngục đều đã thực hành, đúc rút, lưu truyền “nức tiếng”. Trong suốt mấy chục năm các ngón đòn độc địa kia đã giúp trại tù Phú Quốc vang danh với sứ mệnh của một địa ngục trần gian, nơi mà các viên cai ngục vào vai dã thú một cách hoàn hảo nhất. Còn các công trình, tác phẩm, tư liệu của nhiều tác giả, nhiều nhân chứng viết về nhà ngục Phú Quốc thì đều có nhắc đến 45 hình thức tra tấn tù nhân độc ác ngoài sức tưởng tượng, trong đó đặc biệt “choáng váng” là những trò “sáng tạo vượt bậc” do Bảy Nhu và đồng bọn quái đản của chúng áp dụng trên thân thể chính đồng bào yêu nước của chúng, thông qua các dụng cụ tra tấn “danh bất hư truyền”: Vồ sầu đời và gậy biệt ly. Rằng: bị cái vồ ấy đã đụng vào là coi như sầu đời, chết ném xuống biển làm mồi cho cá dữ, sống thì cũng sầu đời mãn kiếp với các thương tật khiếp vía (vồ sầu đời); còn cái gậy ấy, ai đã bị nếm, coi như ly biệt gia đình, đồng đội và cả... cõi dương gian (gậy biệt ly). Hàng chục nhân chứng đã đem thân tàn ma dại của mình ra chứng minh cho sức mạnh của gậy biệt ly, vồ sầu đời, cả các cái gậy cái vồ ấy đều đã được trưng bày tại Phú Quốc và nhiều địa phương, cả những bức ảnh nạn nhân đã chết và còn sống; cả các pho tượng tạc hình nhân bị tra tấn kinh dị nhất..., tất cả hiện lên trước mắt tôi, với lời thuyết minh của các nhân viên phòng trưng bày tại Nhà tù Phú Quốc. Nhưng, ngần ấy vẫn chưa thật sự ám ảnh và khiến tôi phải mất ăn mất ngủ vì sợ hãi, như là khi đã gặp và trò chuyện với Bảy Nhu.
Thằng già này nói thật thú chứ không phải người , người như nó thì giết mẹ đi cũng không ai thương .So với tội ác nó gây ra cho 9 đồng bào của mình thì còn ghê rợn hơn trăm,ngàn tội ác các vụ giết người,cướp của hiện giờ .Tuy chỉ là giết 1 người còn bị xử bắn , còn nó giết cả trăm người rồi mà vẫn ăn chay niệm phật , sống bình yên . 1 điều thật đáng tiếc là may mắn cho nó khi bjo là THỜI BÌNH .Mọi người còn thấy nó tội nghiệp vì thân già,lại ăn chay đọc kinh thì có ra dáng 1 người lương thiện thật đấy,nhưng nó có ăn chay đến 3 kiếp nữa cũng không hết cái tội ác mà nó gây ra đâu . Có thể tôi thực sự bức xúc , nhưng thử mọi người nghĩ xem nếu 1 ng`an chay niệm phật sẵn sàng đền tội để về với phật mà lại thủ sẵn súng ống và bầy chó becgie chỉ để "tự vệ" - hay là sẵn sàng giết thêm vài mạng nữa nếu có người tìm đến đòi "công bằng" trong quá khứ , ngay cả trong cái tuổi về chiều ntnày ?
Quã thật tinh thần người chiến sĩ khi ấy khiến chúng ta phãi khâm phục Và cái tinh thần ấy sau ngày giãi phóng còn đáng phục hơn . " Tình cờ, ông Lê Xuân Cát (hiện ngụ thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai) là một trong những người đào đường hầm, vượt ngục thành công, dịp đó cũng ra thăm. Khi giáp mặt, ông Cát nhận ra tôi ngay, đối xử với tôi như người thân lâu ngày gặp lại và nhắc về vụ vượt ngục chấn động ấy. Cách cư xử ấy làm tôi hổ thẹn về tội lỗi của mình, không dám nhìn thẳng vào ông. Lúc ấy, tôi sợ đối diện với quá khứ, sợ nụ cười đầy bao dung ông ấy dành cho tôi. "
kiếp sau và nhiều kiếp nữa "bảy nhu" sẽ chịu lại quả báo,sẽ lả chết trôi,chết...nói tóm lại là chết trong đau đớn.bởi vì nhà phật cho rằng : Sám hối chỉ giải được 1 phần,nợ thì vẫn phải trả.
Hòa bình rồi nhưng những kẻ bán nước làm tay sai cho giặc thì dù có chết hay còn sống đi chăng nữa và dù có ăn chay niệm Phật hay làm việc công đức để trả nợ đời cố tình xóa lấp đi sự tàn bạo trong ký ức chiến tranh mà mình gây ra thì có làm đến suốt đời và cả thế hệ mai sau cũng không bao giờ rửa sạch được tội ác.
--Chúng ta nên tha thứ cho ông ta. Chỉ đáng trách những kẻ đã từng hành hạ đồng bào, bgio còn sống vẫn tiếp tục chống đối chính quyền