Tìm kiếm bài viết theo id

Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi x-pro, 13/3/10.

ID Topic : 1671703
Ngày đăng:
13/3/10 lúc 11:52
  1. CPU_LINHKIENRE Thành Viên Cấp 3

    chà mình cũng có vài con cổ. Không bán cho bạn mà cho bạn luôn. Chỉ đồi lấy 1 buổi ngồi ngắm mấy con cpu được không??
     
  2. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Chào bạn!!!

    Nếu thứ bảy tuần này mình lên Nhật Tảo sưu tầm cpu cổ, mình sẽ liên lạc cho bạn lấy cpu bạn cho mình nha.

    6/1 Vường Chuối, P.4, Q3, TP.HCM (cách ngã ba Vườn Chuối - Nguyễn Đình Chiểu 25m)

    Điện thoại[FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]: 08.38398731- Mr PHÚ[/FONT]
    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]08.73059177- Mr Vinh[/FONT]

    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]Hotline: 0903651020-Mr Bảo[/FONT]


    Mình không còn làm ở ngành thuế nữa, nên không thể đi ra ngoài trong giờ hành chánh, mình chi rảnh thứ bảy và chủ nhật thôi. Nếu bạn muốn xem qua bộ sưu tập của mình, bạn cứ nhắn tin hoặc call cho mình trước nha, mình sẽ ở nhà đón bạn.
    Thank bạn nhiều Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)..
     
  3. pekun_kfc Banned

    Bạn ơi hãy bỏ vài giây ghé thăm forum của mình mới tạo. Mình đang tập tạo à Mong bạn ghé thăm đăng kí thành viên ủng hộ mình với nha. Thanks bạn nhiều lắm http://kunkfcrum.tk
     
  4. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Thank bạn nhiều Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)..
     
  5. CPU_LINHKIENRE Thành Viên Cấp 3

    Mnh se soan CPU ra roi tinh den cho cai hen. Chu hang ngay minh cung ban lam. Chi co buoi toi thoi. Ban ngay minh ban lam roi. Cam on ban!
     
  6. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Chào bạn!!!

    Vậy khi nào bạn soạn xong thì post cho mình nha.
    Thank bạn nhiều Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)..
     
  7. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Sơ lược về AMD (sưu tầm trên Net):

    AMD - Advanced Micro Devices là một công ty chuyên về sản xuất các chất bán dẫn Hoa Kì. Công ty có đại bản doanh ở Sunnyvale - California này được thành lập năm 1969 do Jerry Sanders và nhóm nhân viên cũ của Fairchild Semiconductor sáng lập, bao gồm Jerry Sanders, Ed Turney, John Carey, Sven Simonsen, Jack Gifford và ba thành viên của Gifford's team là Frank Botte, Jim Giles, và Larry Stenger. Hiện nay chủ tịch hội đồng quản trị và là tổng giám đốc là Tiến sĩ Hector Ruiz, chủ tịch tập đoàn và là giám đốc điều hành là ngài Dirk Meyer.


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)

    Sunnyvale - Đại bản doanh của AMD​

    AMD là nhà cung cấp lớn thứ hai thế giới về các bộ xử lý máy tính (CPU) trên nền x86. Đồng thời cũng là nhà cung cấp card đồ họa và bộ xử lý đồ họa (GPUs) lớn thứ ba thế giới kể từ khi nắm quyền sở hữu công ty ATI Technologies vào năm 2006. AMD cũng nắm giữ 21% cổ phần trong Spansion, một nhà cung cấp bộ nhớ flash không thay đổi (non-volatile). Năm 2007, AMD đứng thứ 11 trong các nhà SX chất bán dẫn hàng đầu thế giới.


    Một số nét về lịch sử đối đầu giữa AMD - Intel

    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 1

    1968: Intel được thành lập bởi Bob Noyce và Gordon Moore.

    1969: AMD được Jerry Sanders và nhóm nhân viên cũ của Fairchild Semiconductor sáng lập.

    Đầu những năm 80: IBM chọn sử dụng chip x86 của Intel và hệ điều hành phần mềm DOS của Microsoft. Để tránh quá phụ thuộc vào chip của Intel, IBM yêu cầu hãng này tìm cho mình một nhà cung cấp thứ hai.

    1982: Intel và AMD ký thỏa thuận trao đổi công nghệ, biến AMD thành nhà cung cấp thứ hai. Hợp đồng này tạo cơ hội cho AMD tiếp cận công nghệ chip thế hệ hai 286 của Intel.

    1984: Intel lập kế hoạch để phát triển độc lập chip 386 thế hệ ba, mà AMD khẳng định đó chính là một phần trong kế hoạch bí mật của Intel nhằm độc quyền chip máy tính.

    1987: AMD trình văn bản pháp lý tranh chấp chip 386.

    1991: AMD khởi tố Intel thực hiện những hành động trái pháp luật trong việc duy trì độc quyền.

    1992: Tòa án yêu cầu Intel bồi thường AMD 10 triệu USD cho mỗi mẫu sáng chế Intel sử dụng trong thiết bị xử lý 386.

    1995: AMD tiếp tục cuộc tranh chấp với Intel về thoả thuận chia sẻ một phần trong thiết kế chip x86 - cấu trúc chip cơ bản trong máy tính cá nhân ngày nay.

    1999: Giành được quyền tự phát triển chip x86, AMD tạo ra phiên bản mới của x86 - chip Athlon.

    2000: AMD kiện lên Ủy ban châu Âu rằng Intel xâm phạm nghiêm trọng luật chống cạnh tranh khi việc lạm dụng các chương trình tiếp thị. AMD tiến hành cuộc chiến này nhằm mục đích tiếp cận tài liệu trong vụ kiện chống độc quyền mà Intel phải trả cho Intergraph 225 triệu USD cho chip Itanium.

    2003: AMD tạo nên bước đột phá lớn khi giới thiệu phiên bản 64 bit của chip x86, chạy trên Windows, đánh bại Intel. Đây là lần đầu tiên hãng chip số một thế giới phải rượt đuổi sau AMD để phát triển công nghệ tương tự. AMD ra mắt dòng chip Operton cho hệ thống máy chủ siêu mạnh, dòng Athlon cho máy tính để bàn và xách tay.

    2004: JFTC thanh tra văn phòng đại diện của Intel tại Nhật. Intel tỏ ra hợp tác nhưng không tán thành kết luận JFTC rằng họ đã cạnh tranh thiếu lành mạnh qua việc hạ giá thành cho 5 nhà sản xuất máy tính Nhật là Fujitsu, Hitachi, NEC, Sony và Toshiba nếu những hãng này đồng ý không mua hoặc hạn chế mua chip của AMD và Transmeta.

    2005: AMD tiến hành cuộc chiến chống độc quyền với Intel tại tòa án bang Delaware.


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 2

    Sáp nhập với ATI

    AMD thông báo về việc sáp nhập với ATI vào ngày 24 tháng bảy, 2006. AMD đã trả 3,4 tỉ USD tiền mặt và 58 triệu cổ phiếu của họ để mua lại ATI, tổng giá trị của hợp đồng lên đến 5,4 tỉ USD. Việc sáp nhập hoàn tất vào ngày 25 tháng 11, 2006 và bây giờ ATI đã là một phần của AMD.

    Chế tạo và Sản xuất (Production and fabrication)

    Tất cả các bộ xử lý của AMD đều được sản xuất ở các nhà máy chế tạo chất bán dẫn (semiconductor Fabrication Plants ) của riêng họ , được gọi là “FABs”. AMD quy ước đặt tên những nhà máy của họ là “FAB x”, trong đó “x” là số năm tính từ khi thành lập AMD đến khi FAB đi vào hoạt động (ví dụ FAB 36, nơi đang nghiên cứu chế tạo Deneb 45nm).

    Trong các nhà máy của họ, AMD sử dụng một hệ thống gọi là Automated Precision Manufacturing – APM (tạm dịch là hệ thống chế tạo chính xác và tự động hóa). APM là tập hợp các công nghệ sản xuất mà AMD đã nghiên cứu trong suốt quá trình phát triển của mình (nhiều công nghệ trong số này đang được AMD giữ bằng sáng chế), chúng được thiết kế để tăng cường cho quá trình sản xuất bộ vi xử lý, chủ yếu về mặt hiệu suất.

    AMD hiện đang có một thỏa thuận hợp tác sản xuất với Chartered Semiconductor Manufacturing có trụ sở ở Singapore, cho phép Chartered có thể tiếp cận với quy trình công nghệ APM của AMD, đổi lại Chartered sẽ giúp AMD tăng cường năng lực sản xuất nhờ vào các nhà máy của mình.

    Thông qua việc sở hữu ATI, AMD cũng có những hợp đồng sản xuất với TSMC để sản xuất ra các loại chipset và BXL đồ họa ATI. Hiện tại không rõ sẽ có những yếu tố (manufacturing needs) nào của ATI sẽ được chuyển về sản xuất tại các FAB riêng của AMD và những yếu tố nào sẽ sẽ do các đối tác của họ đảm nhận việc chế tạo. Nhưng AMD đã thông báo kế hoạch trong tương lai những bộ xử lý của họ sẽ do TSMC phụ trách, và có một sự trùng hợp khi TSMC cũng thông báo về những đơn đặt hàng chế tạo các bộ xử lý x86 mà họ nhận được.

    Những nhà máy hiện tại

    Những nhà máy thiết kế và chế tạo bộ xử lý chính của AMD nằm ở vùng Dresden, phía đông Đức. Ngoài ra các bộ vi xử lý tích hợp cao (highly integrated microprocessors ) cũng đang được sản xuất bởi bên thứ ba (third-party manufacturers) dưới sự cấp phép (license) của AMD. Từ năm 2003 đến 2005, AMD cũng đã xây dựng nhà máy bán dẫn thứ hai (chế tạo wafer 300mm dùng công nghệ 90nm SOI) trong cùng khu liên hợp để tăng sản lượng chip và nhờ đó sẽ có sức cạnh tranh hơn với Intel. Nhà máy mới này được mang tên “FAB 36”, nhằm kỉ niệm 36 năm ngày AMD ra đời, và đi vào sản xuất vào giữa năm 2007. AMD cũng đã thông báo họ đã hoàn tất việc chuyển đổi đổi công nghệ từ 90nm sang 65nm ở FAB 36 và hiện nhà máy cũng đang tiến hành nghiên cứu thử nghiệm công nghệ 45nm.

    AMD cũng đang lên kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất của họ. Ngoài việc hoàn thành FAB 36, AMD cũng nâng câp FAB 30 (gần kề FAB 36) ở Dresden từ công nghệ 200mm 90nm SOI sang 300mm 65nm SOI và đổi tên nhà máy thành FAB 38. Ban đầu FAB 30 được cho là nơi bắt đầu chế tạo các sản phẩm công nghệ 65nm vào năm 2007, tuy nhiên AMD đã thông báo trì hoãn việc nâng cấp để giảm thiểu phí tổn.


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 3
    AMD Saxony ở Dresden, nơi sản xuất ra các tấm wafer chính của AMD​

    Các nhà máy lắp ráp và kiểm định chip bán dẫn của AMD được đặt ở Singapore, Malaysia và Trung Quốc.

    Bên cạnh đấy, AMD cũng dự định mở một nhà máy 3,2 tỉ USD ở khu công nghệ Luther Park, Stillwater, New York. Nhà máy FAB “4x” này sẽ sản xuất nên các sản phẩm 300mm 32nm SOI, việc xây dựng sẽ tiến hành từ năm 2009 đến 2010. Một số thông tin cho thấy nhà máy sẽ sử dụng công nghệ cổng high-k metal mà AMD tiếp thu được từ IBM.

    AMD cũng sẽ xây dựng FAB City đầu tiên của Ấn Độ, một nhà máy sản xuất chip bán dẫn với vốn đầu tư khoảng 3,2 tỉ USD.

    Tháng Sáu 2006, Chartered Semiconductor trở thành nhà phân phối các bộ xử lý của AMD, nhiều trong số chúng được gửi từ Singapore sang Đài Loan và Trung Quốc dưới dạng OEM/ODM cho các công ty lắp ráp máy tính như Levono hay Dell.

    AMD vẫn đang duy trì các nhà máy thiết kế chính của họ ở Fort Collins (Colorado), Sunnyvale (California), Austin (Texas), Boxborough (Massachusetts ), và Bangalore (Ấn Độ). Với việc sở hữu ATI Technologies, công ty có được thêm quyền sở hữu các nhà máy thiết kể ở Markham (bắc Toronto), và Santa Clara (California).

    Các đối tác

    AMD tận dụng các quan hệ đối tác chiến lược nhằm đẩy lùi thế thống trị độc tôn của Intel, Một trong các đối tác đó phải kể đến nVIDIA với dòng chipset nForce cho hệ thống AMD.

    AMD cũng hợp tác với hãng Alpha Processor trong việc nghiên cứu Hyper Transport, một chuẩn cung cấp kết nối tốc độ cực nhanh theo kiểu điểm đến điểm để kết nối các thành phần trên mainboard, được ứng dụng trong những lĩnh vực đòi hỏi dữ liệu được truyền đi với cường độ cao, tốc độ lớn và độ trễ nhỏ. Hiện công nghệ này đang được dùng trong các mainboard tương thích với bộ xử lý AMD.


    AMD cũng thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với IBM, giúp AMD có thể tiếp cận được các công nghệ mới như công nghệ sản xuất SOI (silicon on insulator), công nghệ 90nm,...Thỏa thuận hợp tác này được AMD thông báo sẽ kéo dài đến năm 2011, qua đó IBM sẽ tiếp tục hỗ trợ AMD trong việc nghiên cứu phát triển công nghệ 32nm và 22nm.Bên cạnh đó AMD cũng có quan hệ hợp tác với các hãng lắp ráp máy tính như HP, Compaq, ASUS, Alienware, Acer, Evesham Technology, Dell,...

    Vào ngày 18 tháng 5 năm 2006, Dell công bố việc phát hành các dòng máy chủ nền tảng chip Opteron của AMD, chấm dứt nhiều năm hợp tác độc quyền với Intel. Dell cũng tung ra thị trường các dòng desktop xử dụng BXL Athlon X2 vào tháng Chín, 2006.

    AMD cũng là nhà tài trợ cho đội đua xe công thức 1 Scuderia Ferrari Marlboro từ năm 2002 và đội đua xe đạp Discovery Channel Pro từ năm 2004.

    Các thế hệ bộ xử lý AMD x86

    8086, Am286, Am386, Am486, Am5x86

    Đây là các bộ xử lý nhái theo kiến trúc x86 của Intel, được SX theo những thỏa thuận về bản quyền kéo dài 17 năm giữa Intel và AMD. Thỏa thuận này cho phép AMD trở thành nhà cung cấp chip dự phòng của Intel trong trường hợp nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp.

    Điều tồi tệ đã xảy ra với AMD khi Intel chấm dứt thỏa thuận cấp phép trước thời hạn bởi Intel đã quá mạnh để không cần tới những nguồn dự phòng như AMD nữa. Cuối cùng, AMD buộc phải tự đứng lên.

    K5, K6, Athlon (K7)

    AMD phát hành bộ xử lý K5 – bộ xử lý x86 đầu tiên của riêng họ vào năm 1996. Chữ “K” là viết tắt của từ “Kryptonite”, một loại đá hư cấu được xem có thể gây hại cho Siêu Nhân trong truyện tranh Superman. Nó ám chỉ đến Intel, được xem là Superman của nền công nghiệp chip bán dẫn, vốn đang thống trị thị trường vào thuở ấy.

    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 4

    Năm 1996, AMD mua lại NexGen nhằm tiếp cận dòng chip xử lý nền x86 của hãng này. AMD đã giao cho đội ngũ thiết kế Nexgen nhà xưởng của mình, đồng thời cho họ thời gian và tiền bạc để xây dựng lại (rework) kiến trúc Nx686. Và kết quả là bộ xử lý AMD K6 được ra đời vào năm 1997.

    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 5

    K7 là thế hệ vi xử lý thứ bảy của AMD, xuất hiện lần đầu vào ngày 23 tháng Sáu, 1999, dưới tên gọi AMD Athlon. Ngày 9 tháng 11 năm 2001, Athlon XP được phát hành, tiếp sau đó Athlon XP với 512KB Cache L2 được tung ra vào ngày 10 tháng 2 năm 2003.

    Athlon 64 (K8)

    K8 là phiên bản cải tiến của kiến trúc K7, với những tính năng đáng kể nhất là hỗ trợ tập lệnh x86-64bit (với tên gọi chính thức là AMD64), tích hợp khối điều khiển bộ nhớ vào trong chip, kiến trúc kết nối trực tiếp với tốc độ cực nhanh theo kiểu điểm đến điểm HyperTransport. Những công nghệ này ban đầu được ứng dụng trong bộ xử lý dùng cho máy chủ Opteron. Một thời gian ngắn sau, chúng cũng được xuất hiện trong bộ xử lý Athlon 64 dùng cho desktop.

    AMD X2
    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 6

    AMD phát hành bộ xử lý Opteron lõi kép đầu tiên ngày 21 tháng 4 năm 2005. Một tháng sau bộ xử lý lõi kép dùng cho desktop Athlon 64 X2 ra mắt.

    Vào tháng 5 năm 2007, AMD quyết định sửa tên gọi của BXL 2 nhân desktop của mình. Theo đó chữ số 64 sẽ được bỏ qua và tên gọi chính thức chỉ còn là Athlon X2, đồng thời chuyển mục tiêu mà Athlon X2 nhắm đến trên thị trường từ mainstream sang value (từ trung cấp sang phổ thông giá rẻ).


    AMD K10

    AMD K10 hiện là kiến trúc vi xử lý mới nhất của AMD. AMD K10 là kiến trúc kế vị trực tiếp của K8. Vi xử lý đầu tiên dựa trên nền K10 được phát hành vào ngày 10 tháng 9 năm 2007, bao gồm 9 bộ xử lý lõi tứ Opeton Thế hệ III. Các bộ xử lý K10 sẽ ra mắt ở các phiên bản Dual Core, Triple Core và Quad Core, tất cả các lõi đều được triển khai trên một đế.


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 7

    (Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/AMD, PC World VN, Google.com)
     
  8. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Sơ lược về AMD (sưu tầm trên Net):

    AMD và Intel đều được thành lập từ những cựu nhân viên của Fairchild Semiconductor (đây là cty tiên phong trong công nghệ sx chất bán dẫn, 1 trong nhiều công ty của nhà đầu tư lừng danh Sherman Fairchild).

    Năm 1968, ông chủ Sherman Fairchild đã bổ nhiệm đội ngũ quản lý mới cho Fairchild Semiconductor. Đứng đầu là Lester Hogan, cựu phó chủ tịch Motorola Semiconductor.
    Hogan là 1 người cực kì bảo thủ, do đó đã gây ra xung đột với nhiều nhân vật chủ chốt. Đây chính là cột mốc đánh dấu sự ra đời của AMD, Intel. Những sáng lập viên của 2 cty mới đều bất mãn với Hogan.

    Intel: thành lập năm 1968 bởi Gordon Moore và Robert Noyce.
    G. Moore, R. Noyce là đồng sáng lập của Fairchild Semiconductor, 2 vị này chính là bộ não của Fairchild, nắm giữ mọi bí kíp công nghệ.​
    AMD: thành lập năm 1969 bởi 1 nhóm kỹ sư và nhân viên kinh doanh của Fairchild Semiconductor, dẫn đầu là Jerry Sanders và Edwin Turney.
    J. Sanders - nhân viên kinh doanh giỏi nhất của Fairchild Semiconductor.
    E. Turney - giám đốc kinh doanh, tiếp thị của Fairchild Semiconductor.​
     
  9. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Thank bạn đã đọc và up bài Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) ..
     
  10. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Sơ lược về AMD (sưu tầm trên Net):

    AMD K6

    Trong nhiều năm AMD cũng như Cyrix đã sản xuất những bộ vi xử lí 286,386 và 486 mà có nguồn gốc trực tiếp từ thiết kế của Intel . K5 là sản phẩm bộ vi xử lí độc lập đầu tiên của AMD cho dòng sản phẩm CPU x86 , nó là một trong những hy vọng vào sự thành công của AMD . Trong thời gian đó K5 có một thành công giới hạn nhưng đó là một cơ hội cho những bộ vi xử lí mà AMD tự thiết kế .

    K6 được bắt đầu bằng sự ra đời bởi Nx686 , nó được đổi tên sau khi AMD mua lại NextGen . NextGen đã tham gia thị trường CPU bằng bộ vi xử lí theo Socket của họ nhưng AMD đã thay đổi thiết kế để vừa với khe cắm chuẩn Socket 7 .
    K6 là bộ vi xử lí tương thích với MMX được phát hành giữa năm 1997 , một vài tuần sau khi được đưa ra thị trường K6 đã vượt lên trên cả Cyrix 6x86MX và ngay lập tực được thị trường chấp nhận .

    Được sản xuất dựa trên công nghệ 350nm , xử lí 5 lớp và K6 nhỏ hơn 20% so với Pentium Pro và nhiều hơn 3.3 triệu transistor ( 8.8 triệu so với 5.5 triệu transistor ) . K6 có bộ nhớ Cache L1 64KB bao gồm 32KB cache lệnh và 32KB cache Writeback . Nó nhiều gấp 4 lần so với Pentium Pro và gấp 2 lần so với Pentium MMX và Pentium II.


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)
    K6 hỗ trợ công nghệ MMX của Intel , bao gồm 57 lệnh mới x86 được thiết kế để tăng tốc độ tính toán đối với những chương trình Multimedia . Cũng như Pentium Pro K6 được thiết kế dựa trên tập lệnh RISC ( Reduced Instruction Set Computer ) .

    RISC86 của AMD có vi cấu trúc Superscalar ( thực hiện được những lệnh một cách liên tục bên trong bộ vi xử lí , ví dụ một lệnh đang được thực hiện thì một lệnh khác đang được giải mã , một lệnh khác nữa đang được phân tích để chuyển tới những mạch logic tương ứng ) . K6 có thêm những công việc OOO , đổi tên thanh ghi ( Register Renaming ) , dự đoán rẽ nhánh ( branch prediction ) , thực hiện những phép tính suy đoán (speculative )...

    K6 có những phiên bản 166MHz , 200MHz và 233MHz . Hiệu năng tính toán của nó tương đương với Pentium Pro có cùng tốc độ xung nhịp mà có bộ nhớ cache L2 512KB .

    Nó cũng có đặc điểm chung với CPU của Cyric là những phép tính dấu phảy động kém hơn so với CPU của Intel ( Pentium Pro , Pentium II ) . Quá trình xâm nhập những sản phẩm K6 của AMD từ năm 1997 đến trước năm 1998 và AMD đã phát triển công nghệ sản xuất CPU dựa trên 250nm và phát triển K6 với tốc độ 266MHz và 300MHz.

    AMD K6-2

    Bộ vi xử lí AMD K6-2 có 9.3 triệu transistor được sản xuất trên công nghệ 250nm , xử lí 5 lớp . Bộ vi xử lí được đóng gói kiểu CPGA (ceramic pin grid array) 321 chân .



    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 1

    K6-2 là sự cải tiến trong vi cấu trúc RISC86 , bộ nhớ Cache L1 84KB ( bộ nhớ Cache dữ liệu 32KB Dual Port , bộ nhớ cache lệnh 32KB , thêm 20KB cache Predecode ) , cải tiến Execution Unit liên quan đến những phép tính dấu phảy động . Tốc độ tính toán liên quan đến tập lệnh MMX so với CPU tương ứng của Intel thì kém hơn một chút . Đầu năm 1999 bộ vi xử lí nhanh hơn với tốc độ 450MHz .

    Trong CPU K6-2 thuộc thế hệ sau có sử dụng công nghệ 3DNow! , 21 lệnh mới nâng cao so với những lệnh chuẩn MMX để tăng cường tính toán những ứng dụng 3D .

    Đầu năm 2001 K6-2 tốc độ 550MHz được phát hành có tốc độ cao và là bộ vi xử lí cuối cùng cho dòng khe cắm Socket 7. Sau đó được thay thế bằng một dòng mới cho máy tính để bàn : bộ vi xử lí Duron.

    Công nghệ 3DNow!

    Cùng một lúc với phát hành phiên bản K6-2 , vào tháng 5 năm 1998 , AMD đã lấy một phần tương tự như công nghệ Katmai của Intel mà được phát hành cho tới cuối năm sau . Vào cuối tháng 3 năm 1999 , AMD đã tích hợp công nghệ 3DNow! vào K6-2 , làm tăng hiệu quả của PC và đã bán được 14 triệu đơn vị trên toàn thế giới .

    Bằng việc cải tiến bộ vi xử lí có khả năng tính toán dấu phảy động mạnh , công nghệ 3DNow! kèm theo làm tăng hiệu quả tính toán của CPU với những phép tính đồ hoạ và những chương trình Multimedia .

    Quá trình xử lí đồ hoạ sử dụng Pipeline có 04 tầng bao gồm :


    * Physics : CPU thực hiện những tính toán tập trung liên quan đến dấu phảy động để tạo nên những mô phỏng của thế giới thực và những vật thể bên trong nó .
    * Geometry - hình học : nó là sự tính toán những thuộc tính cơ bản của mỗi điểm của vật thể trong không gian 3 chiều . Những thuộc tính bao gồm : toạ độ XYZ , giá trị màu RGB , hêk số phản chiếu ....
    * Setup : CPU bắt đầu xử lí để tạo nên những hình ảnh 3D theo luật phối cảnh . Những lệnh bao gồm liên quan đến hình dáng , kích cỡ , vị trí ...
    * Rendering : cuối cùng , bộ phận tăng tốc đồ hoạ cung cấp hình ảnh thực để PC đưa lên màn hình ,tính toán từng pixel : màu sắc , độ sáng tối , vị trí .


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 2

    Mỗi một lệnh 3DNow! điều khiển hai phép toán liên quan đến dấu phảy động và vi cấu trúc K6-2 cho phép thực hiện 02 lệnh 3DNow! trong một chu kì xung nhịp đồng hồ như vậy tổng cộng nó thực hiện được 04 lệnh liên quan đến dấu phảy động trong một chu kì xung nhịp đồng hồ .

    Trong thiết kế bên trong K6-2 có những thành phần Multimedia để tính toán những lệnh MMX , cùng với 3DNow! cả hai kiểu có thể thực hiện công việc tính toán một cách liên tục .

    Tất nhiên trong Card đồ hoạ đã có phần cứng để tăng tốc quá trình tính toán nhưng đối với những phép tính liên quan đến dấu phảy động còn phải tính toán rất nặng nề . Trong cấu trúc của Intel dùng Pentium II và Celeron cũng có những phép tính hỗ trợ đến phần Trangle SetUp và AMD , Cyrix , IBM còn phải đi sau .

    Những lệnh 3DNow! mới cũng cần bằng một phần nào của những phép toán dấu phảy động Single Instruction Multiple Data (SIMD) để tăng hiệu quả tính toán hình học 3D và mã hoá MPEG.

    Ứng dụng rộng rãi của công nghệ 3DNow! cho phép Cyrix và IDT/Centaur sử dụg trong những bộ vi xử lí của họ .

    AMD K6-III

    Tháng 2 năm 1999 , AMD thông báo bắt đầu bán ra thị trường bộ vi xử lí AMD K6-III 400MHz có tên mã sản phẩm "Sharptooth" và có mẫu sản phẩm 450MHz OEM . Một điểm nhấn trong bộ vi xử lí mới này là thiết kế "TriLevel Cache ".

    Những máy tính truyền thống trước kia , CPU có 02 mức bộ nhớ Cache :

    * Cache mức 1 ( Level 1) thông thường nằm bên trong Silicon của CPU .
    * Cache mức 2 ( Level 2) nămg ở trên Mainboard hoặc là một Module hoặc nằm trên bảng đi liền với CPU .

    Trong thiết kế bộ nhớ cache có một số quy tắc như : dung lượng lớn hơn , kích thước nhỏ hơn , tốc độ nhanh hơn để tăng hiệu quả tính toán của CPU mà không cần trực tiếp truy cập vào bộ nhớ chậm của hệ thống RAM ( tăng Cache Hit ) .
    Nhận ra tầm quan trọng của bộ nhớ Cache , AMD giới thiệu "TriLevel Cache" , thiết kế để tăng hiệu quả tính toán của CPU dựa trên nền Super7 :

    * Bộ nhớ cache L2 Write-back ( dữ liệu được ghi vào Cache bằng CPU mà không ghi vào bộ nhớ của hệ thống RAM ) hoạt động cùng tốc độ xung nhịp bên trong của CPU AMD K6-III và bổ sung cho bộ nhớ Cache L1 64KB mà được chuẩn hoá trong tất cả bộ vi xử lí của AMD .
    * Thiết kế bộ nhớ Cache bên trong có nhiều cổng ( multiport ) , cho phép đọc , ghi 64-bit vào bộ nhớ Cache L1 và L2 một cách liên tục .
    * Có 04 đường để kết hợp bộ nhớ Cache L2 cho phép tối ưu việc quản lí dữ liệu và nâng cao hiệu quả Cache Hit.
    * FSB 100MHz , Mainboard Super7 có thể thiết kế bộ nhớ Cache từ 512KB mở rộng tới 2MB .

    CPU AMD K6-III thiết kế Cache bên trong Multiport cho phép cả hai 64KB Cache L1 và 256KB Cache L2 thực hiện liên tục đọc , ghi 64-bit trong một chu kì đồng hồ xung nhịp . Multiport có khả năng cho phép dữ liệu xử lí nhanh hơn và hiệu quả hơn thiết kế Non-port . Nhân AMD K6-III có thể truy cập cả hai cache L1 và L2 liên tục làm cho hiệu quả hoạt động CPU nâng cao .
    AMD tuyên bố với cấu hình Cache mức 3 , Level3, K6-III có kích thước Cache so với Pentium III của Intel là 435% .
    AMD K6-III xuất hiện trong một thời gian ngắn , trong vài tháng sau AMD đưa ra bộ vi xử lí thành công vang dội đó là Athlon.

    Duron

    AMD tìm lại vị trí của mình trên dòng Socket 7 dựa trên K6-III ngoại trừ CPU được sử dụng trong máy tính xách tay vào cuối của nửa năm 1999 , những bộ vi xử lí của Intel có tên là Celeron để hướng tới thị trường giá rẻ ( một mảng trong thị trường máy tính ) . Vào khoảng giữa năm 2000 , AMD đã sản xuất bộ vi xử lí có tên là Duron để nhắm tới thị trường giá rẻ này .


    Duron dựa trên nhiều sức mạnh của bộ vi xử lí Athlon , tên của nó bắt nguồn từ từ La tinh "Durare" có ý nghĩa là " cực kì " . Nó có bộ nhớ Cache 128/64KB cho L1/L2 , cả hai đều được tích hợp bên tỏng CPU , tốc độ xung nhịp đồng hồ 200MHz và hỗ trợ công nghệ Enhanced 3DNows . Bộ nhớ cache 64KB L2 được tách từ 256KB cache L2 của Athlon và CPU Celeron đối thủ của nó có 128Kb .

    AMD tin răng việc tung ra thị trường Duron hướng tới máy tính giá rẻ có một giá cả và hiệu năng tính toán chấp nhận được và cạnh tranh với đối thủ Intel .

    Công nghệ sản xuất CPU dựa trên xử lí 180nm cho những sản phẩm Duron đầu tiên , dựa vào nhân Spitfire , có tốc độ 600MHz , 650MHz và 700MHz .

    Thế hệ thứ hai của Duron , tên mã là "Morgan" ,có tốc độ 900MHz tới 1.3GHz , dựa trên nhân "Thunderbird " Athlon XP 180nm.

    Thế hệ cuối cùng của Duron có tên là "Applebred" thỉnh thoảng còn gọi là "Appalbred" có tốc độ 1.4GHz , 1.6GHz và 1.8GHz , dựa trên xử lí sản xuất 130nm của "Throughbred" Athlon XP.

    Duron được kết thúc vào năm 2004 và tiếp theo là Sempron.


    Palomino

    Palomino của AMD chỉ là bản nâng cấp của bộ vi xử lí trước Thunderbird mà tập trung vao giảm công suất tiêu hao và kết hợp với vấn đề tản nhiệt . Nó chỉ xuất hiện trong vòng vài tháng trước khi ra đòi một dòng bộ vi xử lí mới để hướng tới sự thay đổi công nghệ và thị trường tiêu thụ .

    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 3

    Palomino có 37.5 triệu transistor trên một diện tích 128mm2 , được sản xuất trên công nghệ kết nối bằng đồng và xử lí 180nm , tăng 0.5 triệu /8mm2 khi so sánh với bộ vi xử lí trước . AMD tuyên bố giảm 20% năng lượng sử dụng so với nhân Thunderbird có cùng tốc độ xung nhịp đồng hồ . AMD cũng đưa ra một tên mới gọi là "QuantiSpeed Architecture" để mô tả việc nâng cao khả năng làm việc của Athlon XP có IPC ( Instructions Per Clock - phép đo thực hiện bao nhiêu lệnh trong một chu kì đồng hồ của xung nhịp ) cao hơn Pentium 4 vào lúc đó .

    Thêm vào đó nó có 03 đặc diểm mới

    1.Vấn đề đầu tiên liên quan tới TLB (Transition Lookaside Buffer)

    TLB là một bộ nhớ nhỏ bên trong bộ vi xử lí , nó là một phần của bộ nhớ cache mà chuyển từ địa chỉ ảo thành địa chỉ vật lí . Sự chuyển như vậy thường rất lớn và phức tạp và cấu trúc dữ liệu để thực hiện chúng thì quá lớn để lưu trữ trong CPU . Thay vào đó chỉ có một vài phần địa chỉ được lưu trữ và CPU có thể truy cập cực nhanh . Nhiều khi TLB cũng được gọi là ATC (Address Translation Cache).

    Trong bộ vi xử lí nhân Thunderbird TLB Cache lệnh L1 chỉ có 24 đầu vào và TLB cache dữ liệu có 32 đầu vào . Nếu so sánh điều này thì thật không thuận lợi so với Pentium III có 32/72 đầu vào TLB . Palomino đã cân bằng lại vấn đề trên bằngcách cung cấp 24/40 đầu vào TLB L1 và 256/256 đầu vào TLB L2 , nó không thay đổi so với CPU trước . Một điều cải tiến hơn nữa trong Palomino là TLB của L1 và L2 có nội dung không trùng nhau .

    2.Trong khi kích thước bộ nhớ cache và vị trí của L1 và L2 không thay đổi , nhưng có một mặt khác là kỹ thuật tìm trước dữ liệu tự động trong Palomino làm việc đồng thời với bộ nhớ Cache của nó . Những công việc này để những dữ liệu mà CPU có thể yêu cầu được chuyển vào trong bộ nhớ Cache từ bộ nhớ chính của hệ thống RAM .

    3. Cho đến nay bộ vi xử lí Athlon cũng hỗ trợ một phần công nghệ SSE ( Streaming SIMD Extensions) của Intel . Palomino có 52 lệnh SIMD mới : 21 lệnh SIMD cũ để thực hiện những lệnh "3DNow!" , thêm 19 lệnh thực hiện những lệnh "Enhanced 3DNow!" và những lệnh còn lại để thực hiện lệnh kiểu SSE mà thuật ngữ của AMD gọi là "3DNow! Professional"

    Chip Palomino được đóng gói kiểu OPGA và thay thế kiểu CPGA nên nó nhẹ và rẻ hơn so với những bộ vi xử lí trước . Bằng việc gắn những tụ điện gắn liền với nhân đặt bên dưới vỏ cho phép khả năng lọc nhiễu tốt hơn . Bằng việc đóng gói vỏ kiểu OPGA dựa trên Socket A 462 chân , có nghĩa là những CPU mới dựa trên Palomino có thể cắm vừa với Mainboard Socket A . Để Mainboard có thể chạy được cần nâng cấp BIOS trên Mainboard đồng thời cho phép Mainboard làm việc với FSB bằng với FSB của CPU với tốc độ xung nhịp 133MHz .

    Từ khi PC ra đời từ năm 1980 , người sử dụng đã quen với khái niệm PC chạy tốc độ cao đồng nghĩa với tần số xung nhịp đồng hồ cao hơn . Nó chính là thước đo về hiệu quả của PC trên cùng một cấu trúc giống nhau . Điều này đã thay đổi cho đến khi những bộ vi xử lí Pentium 4 của Intel và Athlon của AMD cuối những thập kỉ 1990 khi họ thiết kế cấu trúc CPU dựa trên những nền tảng khác nhau . Những công ty đó thiết kế CPU chạy trên những tốc độ xung nhịp không đồng nhất . Một trong những nguyên nhân đó chính là đơn vị IPC ( Instructions Per Clock : thực hiện bao nhiêu lệnh trong một chu kì đồng hồ ) .

    Đó chính là nguyên nhân để so sánh hiệu quả hoạt động của những CPU khác nhau phải dựa trên những chỉ số Benchmark . Ví dụ kiểu Athlon XP dựa trên chỉ số 14 Benchmark khi thực hiện 34 ứng dụng khác nhau về : tính toán hình ảnh , tính toán Game và sử dụng các chương trình văn phòng . Họ XP gồm có kiểu :1500+ , 1600+ , 1700+ ,1800 + tương ứng với tốc độ xung nhịp đồng hồ 1.33GHz , 1.40GHz, 1.47GHz và 1.53GHz .

    Trong chiến lược của AMD về việc cung cấp ra thị trường những bộ vi xử lí như sau : Đầu tiên là Palomino sau đó giữa năm 2001 là CPU cho máy tính xách tay ,tiếp theo là CPU cho hệ thống máy chủ Athlon MP ( Dual Processor) và Duron cho dòng máy để bàn giá rẻ .

    Morgan

    Morgan là tên của nhân thuộc họ Duron đã thành công khi xuất hiện giữa năm 2000 trong thị phần của dòng PC giá rẻ cạnh tranh với Celeron của Intel . AMD tuyên bố đó là CPU có giá thấp nhất nhưng hiệu quả nhất trong dòng PC giá rẻ .

    Morgan chính là một phần của dòng CPU hiện thời được đem lại từ nhân Palomino . Nó bộ nhớ Cache L2 là 64KB . Tất cả những đặc điểm mới của Palomino vẫn được có trong Morgan với khích thước CPU là 106mm2 và 25.18 triệu transistor .

    Điện áp hoạt động của Duron dựa trên nhân Morgan là 1.75V giống như Palomino .

    Thoroughbred

    Mùa hè năm 2002 , AMD bắt đầu bán bộ vi xử lí cho máy tính để bàn đầu tiên được sản xuất dựa trên xử lí 130nm . Bộ vi xử lí có kích thước 80mm2 so với 128mm2 đối với CPU đời trước đó . Kế hoạch chuyển đổi dòng CPU Athlon sang kiểu Chip sử dụng công nghệ sản xuất 130nm cho đến cuối năm 2002 .

    Trên thực tế nhan mới này không thay đổi về cấu trúc , nó không nhanh hơn so với Palomino khi chạy cùng tốc độ xung nhịp . Nó yêu cầu điện áp làm việc với nhân là 1.65V so với CPU trước là 1.75V và là một thuận lợi để cạnh tranh với Intel trong khía cạnh này . Pentium 4 của Intel có kích thước 128mm2 và giá thành sản xuất đắt hơn .

    Barton

    Vào tháng 2 năm 2003 , AMD lần đầu tiên giới thiệu bộ vi xử lí mới với nhân Athlon XP và có tên mã " Barton " .

    Chip Athlon 3000+ có những đặc điểm của bộ vi xử lí Athlon XP trước , ngoài ra nhân mới Barton được thiết kế để sử dụng bộ nhớ RAM nhiều hơn .

    Barton có bộ nhớ Cache L2 nhiều hơn , 512KB , và có tốc độ Full-speed như với Thunderbird . Do có kích thước bộ nhớ Cache L2 lớn hơn nên kích thước vỏ của CPU cũng lớn hơn , 101mm2 , và có 54.3 triệu transistor . Với kích thước này lớn hơn so với Thoroughbres , 54.3 triệu transistor / 84mm2 , như vậy giá thành sản xuất của Barton cao hơn so với những bộ vi xử lí trước .

    Mặc dù có kích thước lớn , nhưng nhân Barton có tốc độ truy cập bộ nhớ hệ thống RAM nhanh hơn , FSB là 166MHz và 333MHz ( 166 x 2 ) được dùng để thay thế cho những bộ vi xử lí Athlon XP trước có FSB 133MHz và 266MHz ( 133 x 2 ) .

    Kết quả với Athlon XP 3000+ với tốc độ xung nhịp 2.167GHz chạy nhanh hơn Athlon XP 2800+ dựa trên Thoroughbred mà có tốc độ xung nhịp cao hơn , 2.250 GHz .

    Sự xuất hiện của bộ vi xử lí Athlon 64 vào mùa thu năm 2003 làm cho CPU dựa trên nhân Barton chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn với kiểu cuối cùng Athlon XP 3200+ .

    Hammer

    Có thể giành được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực thiết kế bộ vi xử lí đối với Chip Athlon thế hệ thứ 7 , AMD thông báo về khả năng mở rộng của mã 64-bit hỗ trợ địa chỉ bộ nhớ vào tháng 10 năm 1999 và khác xa với cấu trúc IA-64 của Intel .

    Trong khi IA-64 của Intel là một cấu trúc mới , AMD tập trung tất cả những phần mở rộng đang tồn tại của cấu trúc x86 để phát triển cho tính toán 64-bit , nó cung cấp dễ dàng để người sử dụng có thể dùng những ứng dụng đang tồn tại 32-bit và những ứng dụng 64-bit nếu thấy cần thiết .

    Về cơ bản , thiết kế AMD x86-64 , lúc đầu có tên mã là “Sledgehammer “ và tên là “Hammer” khi tất cả các chi tiết kỹ thuật được hoàn thành vào giữa năm 2000 - mở rộng x86 bao gồm kiểu 64-bit cho cả : 64-bit địa chỉ và 64-bit dữ liệu . Bộ vi xử lí 64-bit tương lai sẽ có khả năng tự động nhận biết kiểu 32-bit hay 64-bit trong những ứng dụng tính toán phù hợp .

    AMD tuyên bố rằng có nhiều tính kế thừa trong tính toán 64-bit và có một số đặc điểm cao hơn IA-64 của Intel :

    * Hỗ trợ những ứng dụng 32-bit và 64-bit .

    * Công suất tiêu thụ thấp hơn và có tốc độ xung nhịp đồng hồ cao hơn.

    * Có khả năng sản xuất nhiều bộ vi xử lí x86-64 trên cùng một Chip.

    * Công nghệ Compiler mới mà không phức tạp.

    * Giá thành rẻ.

    AMD có quyền tuyên bố cấu trúc bộ vi xử lí thế hệ thứ 8 x86 đầu tiên sẽ hỗ trợ những phần mềm 32-bit x86 đang tồn tại cùng với cấu trúc hệ thống 64-bit x86-64 thực . Mục đích sự tuyên bố hiệu quả thực hiện công việc của thế hệ tiếp theo cho khách hàng ngày nay là do giải quyết được về cấu trúc bộ vi xử lí có thể thực hiện được nhiều lệnh trong một chu kì đồng hồ xung nhịp .

    Sự thay đổi Pipelien cơ bản của Hammer , khi so sánh với những bộ vi xử lí thế hệ trước , là một ví dụ rõ ràng nhất của thiết kế này .

    Phần tìm kiếm lệnh Front-end của Pipeline và phần Logic giải mã đã được chọn lọc để chuyển những gói lệnh với mức độ cao hơn từ những phần Giải mã tới Execution Schedulers . Sự hợp lí trong sự thay đổi này yêu cầu xác định lại những tầng Pipeline với mức độ cao hơn , kết quả của nó là đối với những phép tính liên quan đến số nguyên có 12 tầng và 17 tầng đối với những phép tính liên quan đến dấu phảy động .

    Trong tháng 8 năm 2000 AMD giới thiệu mô phỏng SimNow! , nó thiết kế những tính năng kỹ thuật cho những nhà sản xuất BIOS , những nhà sản xuất hệ điều hành , những nhà lập trình ứng dụng …để họ đưa công nghệ x86-64 vào những đoạn mã phần mềm phù hợp để cho bộ vi xử lí Hammer .

    AMD đầu tiên công bố kế hoạch mở rộng sản phẩm tính toán 64-bit và dự báo cuối năm 2001 sẽ phát hành . Nhưng trên thực tế tới mùa xuân năm 2003 , chúng ta mới thấy cấu trúc K8 trên dòng máy chủ với bộ vi xử lí Opteron . Vài tháng sau , AMD mới tung ra thị trường Chip 64-bit cho máy tính để bàn và máy tính xách tay.


    Một số tính năng trong x86-64 của AMD :

    * Hỗ trợ đầy đủ những số nguyên 64-bit : tất cả những thanh ghi chung GPR (general-purpose register) được mở rộng từ 32-bit thành 64-bit và tất cả những thuật toán và phép tính logic , những công việc memory-to-register và register-to-memory … hỗ trợ trực tiếp 64-bit . Những lệnh PUSH và POP trong ngăn xếp có độ rộng 8 byte , Pointer cũng có độ rộng 8 byte .

    * Tăng thêm những thanh ghi : ngoài việc tăng tích thước GPR thì số lượng cũng được tăng thêm từ 8 trong x86-32 thành 16 .

    * Thanh ghi XMM tăng thêm : thanh ghi 128-bit XMM ( dùng cho những lệnh Streaming SIMD ) tăng từ 8 lên 16 .

    * Dung lượng địa chỉ hoá ảo lớn hơn : những bộ nhớ cấu trúc AMD64 có thể địa chỉ hoá 256 Tebibyte ( 2^48 byte ) . Trong tương lai địa chỉ hoá có thể lên tới 16 exbibyte ( 2^64 byte ) . Điều này được so sánh với 4GB cho 32-bit x86 .

    * Dung lượng địa chỉ hoá thực cao hơn : đối với cấu trúc AMD64 hiện thời có thể địa chỉ tới 1 tebibyte ( 2^40 byte ) và trong tương lai cho phép địa chỉ hoá tới 4 pebibyte ( 2^52 byte ) . Trogn kiểu hỗ trợ PAE (Physical Address Extension) trong kiểu 32-bit x86 cho phép địa chỉ hoá tới 64 Gibibyte .

    * Con trỏ lệnh liên quan đến dữ liệu truy cập : những lệnh có thể tìm kiếm đến dữ liệu liên quan trong con trỏ lệnh ( thanh ghi RIP ) . Điều này làm cho những đoạn mã ở những vị trí độc lập và thường được dùng để những thư viện được chia xẻ và đoạn mã được tải trong thời gian chạy để nâng cao hiệu quả .
    * Những lệnh SSE : những lệnh SSE và SSE2 được mở rộng để hỗ trợ cho 08 thanh ghi XMM mới .

    Athlon64

    Athlon64 có tên mã là "ClawHammer", "Newcastle", "Winchester", "Venice", and "San Diego" được AMD cho ra mắt vào tháng 9 năm 2003 là bộ vi xử lí 64-bit . Nó là bộ vi xử lí dựa trên cấu trúc AMD64 và là bộ vi xử lí thuộc thế hệ K8 đầu tiên .

    Có 03 kiểu khác nhau của Athlon64 : Athlon64 , Athlon64 FX và Dual-core Athlon64 X2 . Athlon64 FX là sản phẩm nhanh nhất trong kiểu Athlon64 . Athlon64FX có tốc độ xung nhịp đồng hồ cao hơn và là kiểu Single-core loại trừ dòng Athlon FX-60 , được phát hành vào tháng 1 năm 2006 . Bổ xung cho cấu trúc AMD64 , tất cả kiểu Athlon64 đều có thể chạy ứng dụng 32-bit x86 , 16-bit và mã AMD64 .

    Đặc điểm :

    Đặc điểm của Athlon64 là phần điều khiển bộ nhớ được thiết kế nằm bên trong vỏ CPU , đặc điểm này đối với những CPU x86 thế hệ trước không có . Phần điều khiển này chạy cùng với tốc độ xung nhịp bên trong CPU mà tín hiệu điều khiển đi với những cự ki ngắn hơn nên khi so sánh với giao diện NorthBridge kiểu cũ kết quả là thời gian truy cập bộ nhớ hệ thống RAM giảm đi .

    TLB ( Translation Lookaside Buffers ) lớn hơn , giảm thời gian tìm kiếm bên trong bộ nhớ chính của hệ thống RAM và cải thiện phần dự đoán rẽ nhánh (branch prediction ) . Làm cho tốt hơn IPC (instruction per cycle) so với bộ vi xử lí Athlon XP trước .

    Athlon64 cũng tích hợp công nghệ Cool’n’Quiet , khi CPU nghỉ hoặc ít sử dụng thì tốc độ xung nhịp và điện áp nuôi CPU giảm xuống . Điều này làm giảm công suất tiêu hao của CPU : với công suất lớn nhất là 89W khi giảm xuống tốc độ xung nhịp thì công suất tiêu hao là 32W hoặc 22W tuỳ theo kiểu Stepping .

    Hỗ trợ kỹ thuật NX bit (No Execute bit ) trong WindowsXP SP2 , Windows XP Professional x64 Edition, Windows Server 2003 x64 Edition, và Linux 2.6.8 hoặc cao hơn . Hỹ thuật này nhằm ngăn chặn những đoạn mã chương trình độc hai ( Virus , Worm …) lây lan trong hệ thống và cảnh báo cho người sử dụng .

    Bộ vi xử lí Athlon64 sử dụng công nghệ sản xuất 130nm và 90nm . đối với những Chip sau cùng đều xử dụng 90nm (Winchester, Venice ,San Diego) .

    Phần điều khiển bộ nhớ tích hợp bên trong vỏ của CPU nên không có khái niệm FSB cho bộ nhớ hệ thống.

    Khe cắm

    754 : Athlon64 loại rẻ tiền , bộ nhớ giao diện 64-bit (Single-Channel)

    939 : Athlon64 loại cao cấp , Athlon64 X2 và Athlon64 FX mới hơn , bộ nhớ giao diện 128-bit (Dual-Channel).

    940
    : Opteron và Athlon64 FX cũ bộ nhớ giao diện 128-bit , yêu cầu DDR

    Socket AM2: Athlon 64/Athlon 64 FX/Athlon 64 X2/Sempron sẽ thay thế Sockets 754 và 939 trong năm 2006 . Có 940 chân ( không tương thích với Socket940 ) và sẽ là khe cắm AMD đầu tiên sử dụng bộ nhớ DDR2.

    Những kiểu Athlon64 FX

    Sledgehammer (130 nm )

    * CPU-Stepping: C0, CG
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 1024 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX , 3DNow!, SSE, SSE2, AMD64
    * Socket 940 ,800 MHz HyperTransport (HT800)
    * DDR-SDRAM
    * VCore: 1.50/1.55 V
    * Công suất TDP 89 W
    * Phát hành : tháng 9 năm 2003
    * Tốc độ xung nhịp: 2200 MHz (FX-51, C0), 2400 MHz (FX-53, C0 ,CG)

    Clawhammer (130 nm )

    * CPU-Stepping: CG
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 1024 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2, AMD64
    * Socket 939, 1000 MHz HyperTransport (HT1000)
    * VCore: 1.50 V
    * Công suất TDP : 89 Watt (FX-55:104 W)
    * Phát hành: tháng 6 năm 2004
    * Tốc độ xung nhịp: 2400 MHz (FX-53), 2600 MHz (FX-55)

    San Diego (90 nm )

    * CPU-Stepping: E4, E6
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 1024 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2, SSE3, AMD64, Cool'n'Quiet, NX Bit
    * Socket 939, 1000 MHz HyperTransport (HT1000)
    * VCore: 1.35 V or 1.40 V
    * Công suất TDP : 104 W
    * Phát hành : tháng 4 năm 2005
    * Tốc độ xung nhịp 2600 MHz (FX-55), 2800 MHz (FX-57)

    Toledo (90 nm )

    Dual-core CPU

    * CPU-Stepping: E6
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions), per core
    * L2-Cache: 1024 KiB fullspeed, per core
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2, SSE3, AMD64, Cool'n'Quiet, NX Bit
    * Socket 939, 1000 MHz HyperTransport (HT1000)
    * VCore: 1.30 V - 1.35 V
    * Công suất TDP: 110 W
    * Phát hành: tháng 1 năm 2006
    * Tốc độ xung nhịp : 2600 MHz (FX-60)

    Những kiểu Athlon64

    Clawhammer (130 nm )

    * CPU-Stepping: C0, CG
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 1024 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2, AMD64, Cool'n'Quiet, NX Bit (chỉ có CG)
    * Socket 754, 800 MHz HyperTransport (HT800)
    * Socket 939, 1000 MHz HyperTransport (HT1000)
    * VCore: 1.50 V
    * Công suất TDP: 89 W
    * Phát hành: tháng 9 năm 2003
    * Tốc độ xung nhịp 2000 - 2600 MHz

    Newcastle (130 nm )

    Rút gọn của kiểu Clawhammer chỉ có 512KiB L2-Cache

    * CPU-Stepping: CG
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 512 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2, AMD64, Cool'n'Quiet, NX Bit
    * Socket 754, 800 MHz HyperTransport (HT800)
    * Socket 939, 1000 MHz HyperTransport (HT1000)
    * VCore: 1.50 V
    * Công suất TDP 89 W
    * Phát hành : năm 2004
    * Tốc độ xung nhịp 1800 - 2400 MHz

    Winchester (90 nm )

    * CPU-Stepping: D0
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 512 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2, AMD64, Cool'n'Quiet, NX Bit
    * Socket 939, 1000 MHz HyperTransport (HT1000)
    * VCore: 1.40 V
    * Công suất TDP: 67 W
    * Phát hành : năm 2004
    * Tốc độ xung nhịp: 1800 - 2200 MHz

    Venice (90 nm )


    * CPU-Stepping: E3, E6
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 512 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2, SSE3, AMD64, Cool'n'Quiet, NX Bit
    * Socket 754, 800 MHz HyperTransport (HT800)
    * Socket 939, 1000 MHz HyperTransport (HT1000)
    * VCore: 1.35 V or 1.40 V
    * Công suất TDP 67 W
    * Phát hành : tháng 4 năm 2005
    * Tốc độ xung nhịp: 1800 - 2400 MHz

    San Diego (90 nm SOI)

    * CPU-Stepping: E4, E6
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 1024 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2, SSE3, AMD64, Cool'n'Quiet, NX Bit
    * Socket 939, 1000 MHz HyperTransport (HT1000)
    * VCore: 1.35 V or 1.40 V
    * Công suất TDP 67 W
    * Phát hành : tháng 4 năm 2005
    * Tốc độ xung nhịp : 2200 - 2800 MHz


    Sempron

    Vào mùa hè năm 2004 , AMD thông báo về việc đưa ra thị trường bộ vi xử lí mới có tên là Sempron . Bên cạnh việc thành công khi đưa ra thị trường bộ vi xử lí giá rẻ Duron , thì Sempron là sản phẩm cạnh tranh trực tiếp Celeron D 90nm của Intel .

    Với sản phẩm đầu tiên Sempron dựa trên cấu trúc Athlon XP và dùng nhân Thoroughbres/Thorton . Những kiểu này dùng khe cắm Socket-A có bộ nhớ Cache L2 là 256KB , FSB là 166MHz . Về sau AMD giới thiệu Sempron 3000+ dựa trên nhân Barton có bộ nhớ Cache L2 là 512KB . Từ phần cứng kiểu này nhiều khi người sử dụng lại hiểu Sempron Socket A là việc đổi tên của bộ vi xử lí Athlon XP , chính vì thế mà AMD quyết định huỷ bỏ kiểu Sempron Socket A.

    Vào nửa cuối năm 2005 , AMD thêm hỗ trợ 64-bit (AMD64) vào dòng Sempron Socket 754 và được gọi là Sempron 64 để phân biệt .

    Từ năm 2005 đến 2006 Sempron kiểu nhân Paris/Palermo dựa vào cấu trúc Athlon64 Socket 754 . Những dòng Sempron này có hầu hết những tính năng mạnh của Athlon 64 như : phần điều khiển bộ nhớ bên trong vỏ CPU , Bus HyperTransport và NX-bit .

    Những kiểu SocketA


    Thoroughbred B/Thorton (130 nm)

    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 256 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE
    * Socket A (EV6)
    * FSB 166 MHz (hoặc FSB 333)
    * VCore: 1.6 V
    * Phát hành : tháng 7 năm 2004
    * Tốc độ xung nhịp: 1500 MHz - 2000 MHz (2200+ to 2800+)

    Barton (130 nm)

    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 512 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE
    * Socket A (EV6)
    * FSB 166 MHz (hoặc FSB 333)
    * VCore: 1.6 V
    * Phát hành : tháng 9 năm 2004
    * Tốc độ xung nhịp: 2000 MHz (3000+)

    Những kiểu Socket 754
    Paris (130 nm )

    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 256 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2
    * Enhanced Virus Protection (NX bit)
    * Tích hợp phần điều khiển bộ nhớ DDR
    * Socket 754, 800 MHz HyperTransport
    * VCore: 1.4 V
    * Phát hành : tháng 7 năm 2004
    * Tốc độ xung nhịp: 1800 MHz (3100+)
    * Stepping: CG (Part No.: *AX)

    Palermo (90 nm )

    * Early models (stepping D0) are downlabeled "Oakville" mobile Athlon64
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions)
    * L2-Cache: 128/256 KiB, fullspeed
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2
    * Hỗ trợ SSE3 với E3 và E6 steppings
    * Hỗ trợ AMD64 E6 stepping
    * Công nghệ Cool'n'Quiet (Sempron 3000+ và cao hơn)
    * Enhanced Virus Protection (NX bit)
    * Tích hợp phần điều khiển bộ nhớ DDR
    * Socket 754, 800 MHz HyperTransport
    * VCore: 1.4 V
    * Phát hành: tháng 2 năm 2005
    * Tốc độ xung nhịp : 1400 - 2000 MHz
    o 128 KiB L2-Cache (Sempron 2600+, 3000+, 3300+)
    o 256 KiB L2-Cache (Sempron 2500+, 2800+, 3100+, 3400+)
    * Steppings: D0 (*BA), E3 (*BO), E6 (*BX)
     
  11. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Sơ lược về AMD (sưu tầm trên Net):

    Athlon X2

    AMD lần đầu tiên đưa ra trình diễn bản thiết kế của bộ vi xử lí Dual-core vào mùa hè năm 2004 , nhưng thật là ngạc nhiên khi mùa xuân năm 2005 hãng địch thủ là Intel đã đưa ra thị trường bộ vi xử lí Dual-core . Vì thế mà AMD64 X2 đã bị đưa ra thị trượng chậm hơn so với bộ vi xử lí Pentium Extreme Edition và Pentium D .

    Athlon64 X2 là bộ vi xử lí đầu tiên Dual-core của AMD . Bản chất của nó là bộ vi xử lí có 02 nhân Athlon64 được đóng gói vào chung một vỏ và có thêm một vài mạch Logic . Những nhân này chia xẻ một phần điều khiển bộ nhớ Dual-Channel , chúng dựa trên kiểu E-stepping của Athlon64 và tuỳ thuộc kiểu để có bộ nhớ Cache L2 là 512KB hoặc 1024KB cho mỗi nhân .

    X2 có khả năng giải mã những lệnh SSE3 ( chỉ có một vài bộ vi xử lí đặc biệt của Intel có tính năng này ) do đó nó có thể chạy những phần mềm ứng dụng mà chỉ hỗ trợ bộ vi xử lí của Intel . Cải tiến này không phải chỉ có trong X2 mà còn có trong những bộ vi xử lí Single-core Athlon 64 có tên mã Venice và SanDiego .

    Sự thuận lợi của Dual-core cho phép bộ vi xử lí chạy đồng thời nhiều chương trình cùng một lúc một cách nhanh chóng . Khả năng bộ vi xử lí thực hiện nhiều Threads cùng một lúc gọi là TLP (thread-level parallelism) . Bằng việc đặt 02 nhân trên cùng một vỏ X2 chạy hiệu quả gấp đôi TLP hơn so với Athlon64 Single-core . Việc cần thiết để xử lí TLP cho các chương trình phần mềm ứng dụng thì còn xa , bởi vì các chương trình phần mềm chỉ cho 01 Thread .

    Những chương trình mà sử dụng nhiều Threads mà có thể sử dụng tốt trên bộ vi xử lí Dual-core là chương trình đồ hoạ hoặc Multimedia .

    Do có 02 nhân trong một vỏ nên Athlon64 X2 có số lượng transistor tăng lên . Bộ vi xử lí X2 có bộ nhớ Cache L2 là 1MB có 233.2 triệu transistor , trong khi Athlon64 chỉ có 114 triệu transistor .

    Những nhân CPU

    Toledo (90 nm )

    Dual-core CPU

    * CPU-Stepping: E6
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions), một lõi
    * L2-Cache: 1024 KiB fullspeed, một lõi
    * Hỗ trợ MMX, 3DNow!, SSE, SSE2, SSE3, AMD64, Cool'n'Quiet, NX Bit
    * Socket 939, HyperTransport (1000 MHz, HT1000)
    * VCore: 1.35 V - 1.4 V
    * Công suất TDP: 110 W (4400+: 89 hoặc 110 W phụ thuộc vào kiểu)
    * Phát hành : tháng 4 năm 2005
    * Tốc độ xung nhịp: 2000 - 2400 MHz
    o 4400+: 2200 MHz (ADA4400DAA5CD)
    o 4800+: 2400 MHz (ADA4800DAA5CD)

    Manchester (90 nm )

    Dual-core CPU

    * Giảm bớt của kiểu Toledos chỉ có 2× 512KB L2-Cache
    * CPU-Stepping: E4, E6
    * L1-Cache: 64 + 64 KiB (Data + Instructions), một lõi
    * L2-Cache: 512 KiB fullspeed, một lõi
    * Hỗ trợ MMX, Extended 3DNow!, SSE, SSE2, SSE3, AMD64, Cool'n'Quiet, NX Bit
    * Socket 939, HyperTransport (1000 MHz, HT1000)
    * VCore: 1.35 V - 1.4 V
    * Công suất tiêu hao TDP: 89 W (4600+: 110 W)
    * Phát hành : tháng 8 năm 2005
    * Tốc độ xung nhịp: 2000 - 2400 MHz
    o 3800+: 2000 MHz (ADA3800DAA5BV)
    o 4200+: 2200 MHz (ADA4200DAA5BV)
    o 4600+: 2400 MHz (ADA4600DAA5BV)

    Những bộ vi xử lí dựa trên cấu trúc AMD64 như Athlon 64, Athlon 64 X2, Athlon 64 FX, Opteron, Sempron và Phenom , có hai Bus ngoài . Một được dùng để trao đổi thông tin giữa CPU và bộ nhớ , và nó được gọi đơn giản là “Bus nhớ “ . Bus thứ hai được dùng để trao đổi thông tin giữa CPU và với những linh kiện PC khác qua Chipset của Motherboard và nó được gọi là HyperTransport ( HT ) - bản chất của nó chính là Bus Vào / Ra ( I/O ) . Trong phần này chúng tôi sẽ giải thích rõ việc Bus HyperTransport làm việc như thế nào và làm cho mọi người hiểu rõ khỏi nhầm lần về Bus này .



    Trong những bộ vi xử lí khác - bao gồm những bộ vi xử lí của AMD không phải dựa trên cấu trúc AMD64 , như những bộ vi xử lí ban đầu sử dụng khe cắm Socket 462 là Athlon , Athlon XP và Sempron – CPU chỉ có một Bus ngoài được biết với tên gọi FSB ( Front Side Bus ) . Bus ngoài này truyền dẫn thông tin tới cả bộ nhớ với những thiết bị I/O khác .

    Theo lí thuyết cấu trúc dùng cho bộ vi xử lí AMD64 tốt hơn , chúng có thể truyền thông tin với bộ nhớ và với các linh kiện khác của PC ( như Card màn hình ) cùng một lúc . Đó cũng là điều không thể thực hiện được bởi các CPU khác vì chỉ có 01 đường ra khỏi bộ vi xử lí bằng Bus FSB .

    Trong Hình 1 , bạn có thể thấy việc trao đổi thông tin giữa CPU AMD64 tới những linh kiện bên ngoài khác . Chip với tên gọi là “Bridge” là Chipset trên Motherboard . Phụ thuộc vào Chipset , bạn có thể có một hoặc hai Chip . Với giải pháp dùng hai Chip thì tất cả những thiết bị ngoại vi ( như ổ cứng , Card rời cắm thêm , Card âm thanh … ) được nối tới Chip thứ hai ( Chip này gọi là SouthBridge ) mà không được thể hiện trong Hình 1 . Trong khi với giải pháp một Chip thì mọi thứ sẽ được nối tới Chip duy nhất này .


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)

    Hình 1 : Vị trí của Bus HyperTransport trên những bộ vi xử lí AMD64 .​

    Những CPU của AMD cho máy chủ , ví dụ như Opteron , có thể có một , hai hoặc ba Bus HyperTransport , phụ thuộc vào kiểu của CPU . NHững Bus HT phụ thêm vào được dùng để nối liên kết vài CPU lại với nhau , cho phép chúng nói chuyện với những CPU khác , có nghĩa là dùng trên những máy chủ có nhiều hơn một CPU trên Motherboard . Với CPU dùng cho máy tính để bàn và máy tính xách tay khong hỗ trợ cấu hình loại này thì chỉ có một Bus HyperTransport .

    Để hiểu sâu hơn về cấu trúc AMD64 , các bạn hãy tìm đọc bài “ Cấu trúc bên trong của AMD64” mà chúng tôi đã đề cập trước đó .

    Bên cạnh việc cung cấp những CPU AMD64 với đường dữ liệu riêng biệt cho bộ nhớ và cho những thiết bị I/O , HyperTransport có một số thuận lợi khác như : nó cung cấp liên kết riêng biệt cho CPU với những hoạt động Vào và Ra , cho phép CPU truyền ( “Ghi” ) và nhận ( “ Đọc “ ) dữ liệu cùng một lúc ( có nghĩa là cho phép hoạt động Đọc/Ghi song song với nhau ) .

    Với cấu trúc truyền thống dùng một Bus ngoài khi đó không thể thực hiện việc Đọc/Ghi đồng thời.


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 1

    Hình 2 : Bus HyperTransport cung cấp đường dữ liệu Vào và Ra riêng biệt ​

    HyperTransport 1.x

    Bus HyperTransport có thể hoạt động với vài cấu hình tốc độ xung nhịp hoặc độ rộng Bus dữ liệu ( số lượng Bit được truyền trong một lúc ) khác nhau . Đó là nguyên nhân có nhiều điều nhầm lẫn khi nói đến .

    HyperTransport là Bus được tạo ra từ nhóm vài công ty bao gồm AMD , nVidia và Apple . Bus này được dùng cho vài ứng dụng và không chỉ giới hạn trong những bộ vi xử lí của AMD .

    Điều này có nghĩa là cấu hình thực sự của Bus HyperTransport sẽ phụ thuộc vào những nhà phát triển phần cứng . Cũng có một số nhà phát triển thông báo một cách phóng đại tốc độ truyền dữ liệu của Bus HyperTransport mà họ đang dùng .

    Những bộ vi xử lí AMD64 hiện nay dùng HyperTransport 1 ( HT1 ) và những bộ vi xử lí sắp tới của AMD dùng HyperTransport 3 ( HT3 ) .

    HT1 được dùng trong những bộ vi xử lí AMD với đường dữ liệu 16-bit , làm việc với tốc độ 800 MHz hoặc 1000 MHz , phụ thuộc vào kiểu CPU , và truyền hai dữ liệu cho một xung nhịp đồng hồ . Điều đó nó sẽ cung cấp tốc độ truyền dữ liệu lớn nhất của đường dữ liệu là 3200 MB/s hoặc 4000 MB/s .

    Công thức để tính tốc độ truyền dữ liệu lớn nhất là

    Tốc độ truyền dữ liệu = Độ rộng x Tốc độ đồng hồ x Số dữ liệu truyền trong một xung nhịp / 8

    Một số người quảng cáo tốc độ xung nhịp và tốc độ truyền dữ liệu bằng những số khác tạo ra những nhiều sự lộn xộn trong thị trường .

    * Một số người nói rằng tốc độ xung nhịp là 1600MHz hoặc 2000MHz . Điều đó xảy ra bởi vì mỗi xung nhịp có hai dữ liệu được truyền và hiệu suất của nó tương tự như đối với tốc độ 1600MHz hoặc 2000MHz mà chỉ truyền một dữ liệu bằng một chu kì xung nhịp đồng hồ . Điều này cũng xảy ra tương tự như đối với những bộ nhớ DDR sau này , khi mà tốc độ thông báo bao giờ cũng gấp đôi tốc độ thực tế . Ví dụ bộ nhớ DDR2-800 làm việc thực tế với xung nhịp có tốc độ 400MHz và nó truyền hai dữ liệu bằng một xung nhịp .

    * AMD nói rằng tốc độ xung nhịp là 1600 MT/s hoặc 2000 MT/s .

    MT/s được hiểu là Mega Transfers per Second , hoặc một triệu sự chuyển giao một giây . Đó là cách nói tương tự như đã đề cập bên trên .


    * Một số nhà sản xuất khác nói rằng tốc độ truyền dữ liệu lớn nhất là 6400 MB/s hoặc 8000 MB/s . Điều đó xảy ra khi thông báo tốc độ truyền cho mỗi đường dữ liệu ( có nghĩa là 3200MB/s hoặc 4000MB/s cho đường dữ liệu vào và 3200MB/s hoặc 4000MB/s cho đường dữ liệu ra ) , do đó một số người đơn giản là nhân tốc độ truyền dữ liệu với 2 cho cả hai đường dữ liệu . Điều này nghe có vẻ như là không hợp lí lắm khi gộp cả tốc độ dữ liệu vào và ra thành một và đó là một thủ thuật trong quảng cáo .

    Một số người hiểu nhầm khi nói rằng Bus ngoài hoặc FSB của Athlon 64 ( hoặc những CPU dựa trên AMD64) là 1600MHz hoặc 2000MHz . Đó là chỉ đùng một phần . Chúng tôi có thể nói rằng những hoạt động về I/O không phải dành cho bộ nhớ , những bộ vi xử lí dựa trên cấu trúc Athlon64 có hai Bus riêng biệt . Vì thế khi nói rằng HyperTransport không phải là “Bus ngoài “ hay cũng như không phải là “FSB” là điều đúng hơn cả .

    Một điều chúng ta cần chú ý rằng những CPU của AMD có thể làm việc với những tốc độ dưới với tốc độ đã thông báo như 1600 MT/s ( 800MHz ) hoặc 200 MT/s ( 1000 MHz ) . Trong thực tế chúng có thể làm việc với tốc độ 400 MT/s (200 MHz), 800 MT/s (400 MHz), 1,200 MT/s (600 MHz), 1,600 MT/s (800 MHz) hoặc 2,000 MT/s (1,000 MHz) .

    Dưới đây chúng tôi liệt kê ra những tốc độ mà HT1 có thể có

    * 200 MHz = 400 MT/s = 800 MB/s
    * 400 MHz = 800 MT/s = 1,600 MB/s
    * 600 MHz = 1,200 MT/s = 2,400 MB/s
    * 800 MHz = 1,600 MT/s = 3,200 MB/s
    * 1,000 MHz = 2,000 MT/s = 4,000 MB/s

    Chipset có thể có tốc độ thấp hơn với CPU thậm trí mỗi đường truyền dữ liệu chỉ rộng có 8-bit thay vì là 16-bit . Trong thực tế Chipset cho Athlon64 đầu tiên là của VIA , K8T800 , làm việc với Bus HyperTransport 1600MT/s dùng đường truyền dữ liệu có độ rộng 8-bit thay vì 16-bit .

    Tại trang web chính thức của HyperTransport , bạn sẽ thấy hai điều về HyperTransport 1.x .

    * Thứ nhất là công bố chính thức tốc độ lớn nhất của nó là 800MHz , AMD dunùg tốc độ không chính thức cao hơn là 1000MHz trong hầu hết mọi bộ vi xử lí hiện nay của mình .

    * Thứ hai bạn sẽ thấy tốc độ truyền dữ liệu lớn nhất trong danh sách là 12.8GB/s . Bạn có thể hỏi số này ở đâu ra .

    Tốc độ lớn nhất 12.8 GB/s đạt được khi đường liên kết có độ rộng 32-bit , chúng ta giải thích những bộ vi xử lí của AMD dùng đường liên kết có độ rộng 16-bit . Những nếu bạn làm phép toán thì sẽ tìm ra 6400MB/s ( 32-bit x 800MHz x 2 /8 ) . Ở đây đó chính là gộp hai đường dữ liệu ( một cho truyền dữ liệu và một cho nhận dữ liệu ) như chúng ta đã nói phần trước , có vẻ như bất hợp lí khi mà xe ô tô chạy từ A-B với tốc độ 100km/h và chạy ngược lại từ B-A cũng với tốc độ 100km/h sau đó kết luận xe ô tô này chạy với tốc độ 200km/h.


    HyperTransport 2.0 và 3.0

    HyperTransport 2.0 ( HT 2.0 ) thêm những tốc độ mới - như vậy sẽ có tốc độ truyền dữ liệu mới – và những tính năng mới như PCI Express Address Mapping . Những bộ vi xử lí hiện nay của AMD dùng HT2 với những mức tốc độ thấp hơn .
    HT2 giới thiệu những tốc độ xung nhịp mới là 1000MHz , 1200MHz và 1400 MHz , cung cấp tốc độ truyền dữ liệu lớn nhất là 4000MB/s , 4800MB/s và 5600MB/s sử dụng đường liên kết với độ rộng 16-bit .

    Với HT2 sẽ không có gì là lạ khi bạn nhìn thấy tốc độ quảng cáo là 22.4GB/s ( 1400MHz x 32 x 2 / 8 x2 liên kết )

    Hai liên kết như đã đề cập là ghép hai đường truyền dữ liệu một cho đến và một cho đi .

    PCI Express Adress Mapping cho phép chuyển đổi giao diện dễ dàng hơn giữa HyperTransport và những Bus PCI Express .

    Bên cạnh tốc độ xung nhịp mới - sẽ có tốc độ truyền dữ liệu mới – HyperTransport 3.0 sẽ có một số những tính năng mới hơn so với HT 2.0 như kiểu hoạt động AC , Link Splitting (hay còn gọi là Un-Ganging), Hot Plugging and Dynamic Link Clock/Width Adjustment . Những bộ vi xử lí của AMD sắp tới , như Phenom , sẽ dùng phiên bản HyperTransport 3.0 mới này .

    HT 3.0 có thêm những tốc độ mới , tương thích hoàn toàn với HT 1.x và HT 2.0 , 1,800 MHz, 2,000 MHz, 2,400 MHz và 2,600 MHz , cung cấp tốc độ truyền dữ liệu cao nhất là 7,200 MB/s, 8,000 MB/s, 9,600 MB/s và 10,400 MB/s khi sử dụng đường liên kết có độ rộng 16-bit , trong trường hợp của những bộ vi xử lí của AMD . Dưới đây tóm tắt những tốc độ của xung nhịp và tốc độ truyền dữ liệu mới HT 3.0

    * 1,800 MHz = 3,600 MT/s = 7,200 MB/s
    * 2,000 MHz = 4,000 MT/s = 8,000 MB/s
    * 2,400 MHz = 4,800 MT/s = 9,600 MB/s
    * 2,600 MHz = 5,200 MT/s = 10,400 MB/s

    AMD nối rằng những CPU sắp tới sẽ hỗ trợ tốc độ truyền dữ liệu cao nhất của HT3 , 10.400 MB/s , mà AMD gọi là 5.2 GT/s . Chúng ta nên nhớ tuy nhiên những CPU này vẫn tương thích với những tốc độ thấp hơn . Điều đó có hai vấn đề :

    * Những CPU mới dựa trên HT có thể được dùng với những Motherboard dựa trên HT 1 ( tất nhiên lúc đó chúng không thể đạt được hiệu suất cao nhất )
    * Thứ hai ban đầu có thể một số Chipset không thể chạy được với tốc độ 10.400 MB/s , thậm trí chúng là HT3 , điều này xảy ra tương tự những những gì đã xảy ra khi Athlon64 khi được tung ra đầu tiên .

    Bây giờ chúng ta nói đến một số tính năng mà có trong HyperTransport 3.0

    Kiểu hoạt động AC mới ( dùng hệ thống tín hiệu tương tự tới mạng ) cho phép Bus HyperTransport sử dụng với khoảng cách xa hơn . Mục đích này để cho phép HT được dùng trực tiếp trong những trường hợp nối tiếp nhau . Những bộ vi xử lí sẽ không sử dụng tính năng này .

    Hot Plugging cho phép những thiết bị HT đặc lắp đặt hoặc tháo bỏ khi hệ thống đang chạy . Nó sẽ không cho phép bạn thay thế CPU trong khi hệ thống đang chạy bởi vì CPU có một số chân khác sử dụng HT , nhưng đặc điểm này có thể sử dụng những máy chủ lưu trữ dựa trên HT3 .

    Và cuối cùng Dynamic Link Clock/Width Adjustment , mà sẽ được dùng cho những CPU của AMD dựa trên HT3 - tất nhiên phải trên Motherboard sử dụng những Chipset HT3 . Đặc điểm này cho phép CPU thay đổi tốc độ xung nhịp và số Bit được truyền trong một chu kì đồng hồ một cách linh hoạt . Ý tưởng này với mục đích tiết kiệm năng lượng . Ví dụ nếu cảm biến của CPU thấy rằng Bus HT với tốc độ 2600 MHz ( 10.400 MB/s ) là quá nhiều để thực hiện công việc , nó có thể giảm Bus xuống còn 1000MHz ( 4000MB/s ) hoặc bất kì tốc độ nào mà nó nghĩ là ổ định . Cùng cách tương tự với số lượng Bit được truyền trong một chu kì đồng hồ - nó có thể giảm xuống từ 16-bit tới bất kì số nào mà CPU cảm thấy cần , dựa trên cách sử dụng hiện tại của hệ thống .

    Một lần nữa cũng xin nhắc lại với bạn đọc về việc khi nhóm tạo ra HyperTransport thông báo về tốc độ hơi quá đó là : HT 3.0 có tốc độ truyền dữ liệu cao nhất là 41.6 GB/s . Để đạt được số này chúng ta phải sử dụng phép toán

    2600 MHz x 32 x 2 /8 x 2 liên kết = 41.6 GB

    Như chúng ta đã giải thích , CPU AMD dùng đương liên kết có độ rộng 16-bit mà khong phải là 32-bit và tốc độ đó là gộp cả Truyền dữ liệu và Nhận dữ liệu .
     
  12. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Những con chip lừng danh (Sưu tầm trên Net)

    Trong lĩnh vực thiết kế chip, cũng như trong cuộc sống, đôi khi những thứ nhỏ bé lại góp phần tạo nên những điều lớn lao.
    Trong triều đại mạch tích hợp (Intergrated Circuit – IC) hơn nửa thế kỷ qua xuất hiện nhiều con chip tuyệt vời, nhưng chỉ một số ít thật sự nổi bật bởi tính sáng tạo, đi trước thời đại. Những con chip này tạo nên xu hướng công nghệ và góp phần làm cho cuộc sống của chúng ta thêm thú vị.
    Signetics NE555 Timer

    Đó là mùa hè năm 1970, trong văn phòng chen giữa 2 nhà hàng Trung Hoa ở thị trấn Sunnyvale, California (Mỹ), nhà thiết kế chip Hans Camenzind làm việc với vai trò tư vấn cho công ty bán dẫn Signetics. Tình hình kinh tế khó khăn. Camenzind có vợ và 4 con, kiếm chưa đến 15.000 USD/năm, nên rất muốn phát minh cái gì đó có thể hái ra tiền.

    Và Camenzind đã tạo ra chip 555 - một IC đơn giản có thể làm việc như bộ đếm thời gian. Đến nay, 555 là con chip được bán chạy nhất trong ngành bán dẫn analog, hiện diện trong các thiết bị nhà bếp, đồ chơi, phi thuyền không gian và nhiều thứ khác. Có thể nói 555 là một trong những con chip xuất sắc nhất của mọi thời đại.

    "555 gần như đã không được chấp thuận chế tạo", Camenzind nhớ lại. Ông giờ đã 75 tuổi, vẫn còn thiết kế chip, dù không ở gần nhà hàng Trung Hoa nào nữa!

    Ý tưởng về chip 555 nảy sinh khi Camenzind đang làm việc trên hệ thống vòng lặp khóa pha. Với một vài điều chỉnh, hệ thống này có thể làm việc như bộ định thời gian đơn giản: kích hoạt và nó sẽ chạy trong một khoảng thời gian nhất định. Lúc đó không có chip nào giống như thế.

    Thoạt đầu, phòng kỹ thuật của Signetics từ chối ý tưởng này vì công ty đang bán linh kiện mà khách hàng có thể dùng để tạo bộ định thời gian có tính năng tương tự như 555. Camenzind không nản, ông đến gặp Art Fury, giám đốc tiếp thị của Signetics. May là Fury thích nó.

    Camenzind bỏ ra gần 1 năm thử nghiệm các bản thiết kế, vẽ các sơ đồ mạch trên giấy và tạo bản phim, "tất cả đều làm bằng tay". Thiết kế cuối cùng có 23 transistor, 16 trở kháng và 2 diod.
    Chip 555 gây chấn động khi ra mắt thị trường vào năm 1971. Năm 1975 Signectics sát nhập vào Philips Semiconductors, và sau đó NXP. Đã có hàng tỉ chip 555 được bán ra, đến nay chip này vẫn còn được dùng.
    Texas Instrument TMC0281 Speech Synthesizer
    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)Nếu không có TMC0281, E.T (sinh vật ngoài trái đất trong bộ phim nổi tiếng cùng tên) không thể "gọi về nhà”. TMC0281 là chip tổng hợp tiếng nói đầu tiên, đây chính là trái tim (hay cái miệng) của đồ chơi "học nói và đánh vần" (Speak & Spell) của Texas Instrument (TI). Trong bộ phim E.T, sinh vật ngoài trái đất dùng chip này để tạo thiết bị liên lạc liên hành tinh.
    Các biến thể của TMC0281 được dùng trong các máy chơi game của Atari và những chiếc ô-tô dòng K của Chrysler. Năm 2001, TI bán dòng chip tổng hợp tiếng nói cho Sensory, hãng này ngưng sản xuất vào cuối năm 2007. Nhưng nếu bạn cần thực hiện cuộc gọi cho khoảng cách rất xa, bạn có thể tìm thấy các con chip Speak & Spell trong tình trạng còn tốt trên eBay với giá khoảng 50USD.
    MOS Technology 6502 Microprocessor

    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 1Ngưới chuyên gia có khuôn mặt mũm mĩm đặt con chip vào chiếc máy tính và khởi động khiến cả thế giới trở nên rộn ràng... Chuyên gia đó chính là Steve Wozniak, chiếc máy tính là Apple I, còn con chip là bộ vi xử lý 8-bit 6502 do MOS Technology phát triển. Con chip này đóng vai trò bộ não của những chiếc máy tính có ảnh hưởng mạnh về sau này như Apple II, Commodore PET và BBC Micro, không kể các hệ thống chơi game như Nintendo và Atari. Chuck Peddle, một thành viên tạo ra con chip này, nhớ lại lúc giới thiệu 6502 tại một cuộc triển lãm vào năm 1975: "Chúng tôi bỏ chip vào đầy 2 lọ thủy tinh, rồi tôi và vợ ngồi bán". Vậy là 6502 trở nên nổi tiếng. Lý do: 6502 không chỉ nhanh hơn chip của các hãng khác mà còn rẻ hơn, giá chỉ có 25USD trong khi 8080 của Intel và 6800 của Motorola giá gần 200USD.

    Theo Bill Mensch, người đã tạo ra 6502 cùng với Peddle, yếu tố đột phá ở chỗ "tập lệnh tối thiểu kết hợp với qui trình sản xuất tạo ra số lượng chip tốt gấp 10 lần so với đối thủ”. Có thể nói chính 6502 đã kéo giá của các bộ xử lý (BXL) xuống, mở màn cho cuộc cách mạng máy tính cá nhân. Một số hệ thống nhúng hiện nay vẫn còn dùng chip này. Thú vị hơn, 6502 là bộ não điện tử của Bender, con robot hư hỏng trong bộ phim truyền hình "Futurama" được trình chiếu 1999.
    Texas Instruments TMS32010 Digital Signal Processor


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 2TMS32010 không phải là chip xử lý tín hiệu số (DSP) đầu tiên, danh hiệu này thuộc về DSP-1 của Western Electric được đưa ra vào năm 1980, nhưng nó là DSP nhanh nhất. Nó có thể thực hiện phép tính nhân trong 200 nano giây, một kỳ tích! Hơn nữa, nó có thể thực thi các câu lệnh cả từ ROM trong chip và RAM ngoài chip, trong khi các con chip cạnh tranh chỉ có các chức năng DSP lập trình sẵn. "Điều này cho phép phát triển chương trình (cho TMS32010) linh hoạt, giống như các bộ vi xử lý và vi điều khiển", theo Wand Gass, thành viên của nhóm thiết kế DSP, hiện vẫn làm việc cho TI. Với giá 500USD cho mỗi con chip, năm đầu TI chỉ bán được 1000 chip. Sau đó số lượng bán ra tăng vọt, và chip này được dùng trong các modem, thiết bị y tế và hệ thống quân sự. TMS32010 là chip đầu tiên trong dòng sản phẩm DSP phong phú đã và đang đem lại lợi nhuận cho TI.
    Fairchild Semiconductor µA741 Op-Amp


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 3Các chip khuếch đại tín hiệu (op-amp) có thiết kế thuộc loại analog. Bạn luôn có thể gắn các con chip này với nhau và gắn với hầu như bất cứ thứ gì để thỏa mãn yêu cầu. Các nhà thiết kế dùng chúng để tạo các bộ tiền khuếch đại âm thanh và video, bộ bù điện áp, bộ lọc chính xác và nhiều hệ thống khác là thành phần của các thiết bị điện tử thông dụng.

    Năm 1963, Robert Widlar - kỹ sư 26 tuổi làm cho hãng Fairchild Semiconductor đã thiết kế IC op-amp nguyên khối đầu tiên, µA702. Nó được bán với giá 300USD. Widlar tiếp tục cải tiến thiết kế và µA709 có giá giảm xuống còn 70USD và đạt được thành công thương mại to lớn. Tiếp theo, Widlar đòi tăng lương. Không được đáp ứng, Widlar nghỉ việc. National Semiconductors chỉ chờ có thế và chiêu mộ ngay người mà sau đó giúp công ty này thao túng lĩnh vực thiết kế IC analog. Năm 1967, Widlar đã tạo ra op-amp tốt hơn cho National, LM101.

    Trong khi các nhà quản lý Fairchild bực bội về đối thủ từ trên trời rơi xuống thì tại phòng nghiên cứu của công ty, David Fullagar, một nhân viên mới, săm soi LM101. Fullagar phát hiện con chip này tuy xuất sắc nhưng có vài khiếm khuyết. Chip này phải gắn thêm tụ ngoài để tránh việc biến dạng tần số. Hơn nữa, do chất lượng chất bán dẫn không ổn định, ngõ vào của chip này quá nhạy với nhiễu.

    Fullagar lao vào thiết kế riêng của mình, xử lý những hạn chế của qui trình sản xuất bán dẫn hiện thời bằng cách gắn thêm 1 tụ 30-picofarad vào trong chip. Giải pháp cải thiện ngõ vào hết sức đơn giản – gắn thêm vài transistor. Mạch gắn thêm này làm cho việc khuếch đại ổn định hơn.

    Fullagar trình thiết kế của mình cho Gordon Moore, trưởng bộ phận nghiên cứu của Fairchild, và thiết kế đó được gửi đến bộ phận sản xuất của công ty. Con chip mới, µA741, trở thành chuẩn mực cho các bộ khuếch đại. Chip này và các biến thể chế tạo bởi các đối thủ của Fairchild đã được bán ra hàng trăm triệu đơn vị. Hiện nay, với số tiền 300USD – mức giá của µA702 ban đầu – bạn có thể mua được 1.000 con chip 741.
    Intersil ICL8038 Waveform Generator

    ICL8038 là bộ sinh sóng sin, vuông, tam giác, răng cưa và xung nhọn, hoạt động khá thất thường, bị chê bai vì khả năng hạn chế. Nhưng các kỹ sư sớm biết cách dùng chip này một cách hiệu quả, nhờ vậy 8038 bán chạy, lên đến hàng trăm triệu đơn vị và hiện diện trong vô số thiết bị – như các bộ tổng hợp âm thanh Moog danh tiếng và "hộp xanh" mà các tay ma mãnh vẫn dùng để qua mặt các công ty điện thoại vào những năm 1980. Intersil ngưng sản xuất 8038 vào năm 2002, nhưng chip này hiện vẫn được người ta tìm để tự chế tạo những thứ nhạc cụ điện tử.
    Western Digital WD1402A UART
    Gordon Bell làm việc tại Digital Equipment Corp. nổi tiếng vì đã đưa ra dòng PDP (Programmed Data Processor) của máy tính mini vào thập niên 1960. Nhưng ông còn phát minh một kỹ thuật ít được biết đến nhưng không kém phần quan trọng: thu/phát bất đối xứng đa năng, hay UART (Universal Asynchronous, Receiver/Transmitter). Bell cần một mạch kết nối máy đánh chữ với PDP, việc này yêu cầu chuyển tín hiệu song song thành tín hiệu tuần tự và ngược lại. Ông đưa ra giải pháp dùng 50 thành phần riêng rẽ. Western Digital, một công ty nhỏ sản xuất chip máy tính tay, đề nghị chế tạo thành 1 chip UART. Western Digital giới thiệu WD1402A năm 1971, các phiên bản khác sớm nối bước sau đó. Giờ đây UART được dùng rộng rãi trong các modem, thiết bị ngoại vi và nhiều thiết bị khác.
    Acorn Computers ARM1 Processor


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 4Vào đầu thập niên 1980, Acorn Computers là một công ty nhỏ với 1 sản phẩm lớn. Công ty này, trụ sở đặt tại Cambridge, Anh, đã bán hơn 1,5 triệu máy tính để bàn BBC Micro. Và giờ là lúc thiết kế một model mới, các kỹ sư Acorn quyết định chế tạo bộ vi xử lý 32-bit riêng. Họ đặt tên cho nó là Acorn RISC Machine, hay ARM. ARM nhỏ, tiêu thụ ít điện năng và dễ lập trình. Sophie Wilson, người đã thiết kế tập lệnh, vẫn còn nhớ khi họ lần đầu kiểm thử chip trên máy tính. "Chúng tôi gõ PRINT PI ở dấu nhắc lệnh, và nó cho đáp án đúng". Năm 1990, Acorn tách bộ phận ARM ra, và kiến trúc ARM phát triển trở thành bộ xử lý nhúng 32-bit hàng đầu. Hơn 10 tỉ chip ARM đã được dùng trong đủ loại thiết bị, bao gồm một trong số những thất bại bẽ mặt nhất của Apple - thiết bị cầm tay Newton, và một trong những thành công sáng chói nhất của hãng - iPhone.

    Kodak KAF-1300 Image Sensor


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 5Ra mắt năm 1991, máy ảnh số Kodak DCS 100 có giá 13.000 USDvà cần bộ lưu trữ dữ liệu ngoài nặng 5kg mà người dùng phải vác trên vai. Bộ phận điện tử của máy ảnh này – đặt trong thân máy Nikon F3 – có 1 mẩu kim loại ấn tượng: 1 con chip bằng móng tay có khả năng "bắt" ảnh ở độ phân giải 1.3 megapixel, đủ cho ảnh rửa khổ 10x15 cm. "Vào lúc đó, 1 megapixel là con số kỳ diệu", theo Eric Steven, trưởng nhóm thiết kế con chip này, hiện vẫn còn làm việc cho Kodak. Con chip này – thiết bị tích điện kép 2 pha thực – trở thành nền tảng cho các bộ cảm biến CCD (Charge Coupled Device) sau này, mở ra cuộc cách mạng ảnh số.
    IBM Deep Blue 2 Chess Chip

    Một bên là chất xám nặng 1,5 kg. Bên kia là 480 con chip chơi cờ. Cuối cùng con người đã chịu thua máy tính vào năm 1997 khi Deep Blue, máy tính chơi cờ của IBM, đánh bại vua cờ Garry Kasparov. Mỗi con chip của Deep Blue bao gồm 1,5 triệu transistor, có thể tính 100 triệu nước đi mỗi giây. Năng lực ghê gớm đó, kết hợp với các chức năng lượng giá thông minh, đã giúp Deep Blue đưa ra những đòn quyết định.
    Transmeta Crusoe Processor

    Sức mạnh tính toán đi cùng miếng tản nhiệt khổng lồ, thời gian dùng pin ngắn ngủi và ngốn điện khủng khiếp. Từ đó mục tiêu thiết kế của Transmeta là một BXL tiêu thụ điện ít, qua mặt những BXL của Intel và AMD. Theo thiết kế: phần mềm sẽ dịch các lệnh x86 trực tiếp thành lệnh máy riêng của Crusoe có mức độ song song cao hơn, giúp tiết kiệm thời gian và điện năng. Người ta đã thổi phồng chip này là thứ vĩ đại nhất kể từ khi có silicon, và lúc đó nó thực sự như vậy. Crusoe và BXL tiếp theo của nó, Efficeon "cho thấy việc dịch động nhị phân khả thi về mặt thương mại", theo David Ditzel, nhà đồng sáng lập Transmeta hiện làm việc cho Intel. Không may là con chip này xuất hiện quá sớm, nhiều năm trước khi các máy tính tiêu thụ ít điện năng cất cánh. Cuối cùng, khi Transmeta không đưa ra được những gì hãng hứa hẹn, Intel và AMD – thông qua chính sách bản quyền và luật pháp – đã dập tắt nó.
    Texas Instruments Digital Micromirror Device

    Vào ngày 18/6/1999, Larry Hornbeck đưa vợ đi xem bộ phim Star Wars: Episode 1 – The Phantom Menace tại một rạp chiếu phim ở Burbank, California (Mỹ). Không phải người kỹ sư này hâm mộ Jedi, mà nguyên nhân thực sự là vì chiếc máy chiếu. Nó dùng con chip ánh xạ số mà Hornbeck đã phát minh tại Texas Instruments. Chip này dùng hàng triệu kính hiển vi siêu nhỏ ghép với nhau để hướng tia sáng đi qua ống kính máy chiếu. Giờ đây các máy chiếu phim dùng công nghệ xử lý ánh sáng số này, hay DLP như TI đặt tên, được dùng trong hàng ngàn rạp chiếu phim trên khắp thế giới. Nó cũng được dùng trong TV chiếu hậu, máy chiếu văn phòng và máy chiếu tí hon trong ĐTDĐ.
    Intel 8088 Microprocessor

    Con chip nào đã đưa Intel vào danh sách Fortune 500? Theo Intel đó chính là 8088. Đây là CPU 16-bit mà IBM đã chọn cho dòng máy tính cá nhân (PC) đầu tiên và sau đó thống trị thị trường máy tính để bàn.

    Như là sự kỳ lạ của số phận, con chip này tạo nên cái gọi là kiến trúc x86 lại có tên không gắn với con số "86". 8088 cơ bản chỉ là 1 cải tiến nhỏ của 8086, CPU 16-bit đầu tiên của Intel. Hay như kỹ sư Stephen Morse của Intel từng thốt ra, 8088 là "phiên bản cắt xén của 8086". Đó là vì điểm mới quan trọng của con chip này không chính xác là một bước tiến về mặt công nghệ: 8088 xử lý dữ liệu theo các từ 16-bit, nhưng nó dùng bus dữ liệu ngoài 8-bit.

    Các nhà quản lý của Intel giữ bí mật dự án 8088 cho đến khi thiết kế 8086 gần hoàn tất. Chỉ sau khi chip 8086 có thể làm việc được đầu tiên lộ diện, Intel mới gửi tài liệu 8086 cho một đơn vị thiết kế ở Haifa, Israel, ở đó 2 kỹ sư, Rafi Retter và Dany Star, đã thay đổi chip này sang bus 8-bit.

    Sự điều chỉnh này là một trong những quyết định sáng suốt nhất của Intel. CPU 8088 có 29.000 transistor cần ít chip hỗ trợ hơn và dùng chip rẻ hơn so với 8086, "tương thích hoàn toàn với phần cứng 8-bit, trong khi có khả năng xử lý nhanh hơn và chuyển đổi trơn tru sang các BXL 16-bit", theo như Robert Noyce và Ted Hoff của Intel viết trong một tài liệu năm 1981.
    PC đầu tiên dùng 8088 là Model 5150 của IBM, đây là cỗ máy đơn sắc giá 3.000 USD. Giờ đây hầu hết PC trên thế giới được xây dựng trên các CPU hậu duệ của 8088. Thật không tệ cho một con chip cắt xén!
    Micronas Semiconductor MAS3507 MP3 Decoder


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 6Bạn có nhớ trước iPod có Diamond Rio PMP300? Ra mắt vào năm 1998, PMP300 nổi ngay lập tức, nhưng rồi sau đó "xì hơi". Mặc dù vậy có một điều đáng nể của thiết bị này là nó được trang bị chip giải mã MP3 MAS2507 – 1 bộ xử lý tín hiệu số dựa trên RISC (Reduce-Instruction-Set-Computing) với tập lệnh được tối ưu cho việc nén và giải nén âm thanh. Chip này, do Micronas phát triển, cho phép Rio dồn khoảng chục bài nhạc vào bộ nhớ flash của nó – quá ít đối với ngày nay nhưng vào lúc đó vừa đủ để cạnh tranh với máy chơi CD cầm tay. Rio và các hậu duệ của nó lót đường cho iPod để giờ đây bạn có thể mang theo mình hàng ngàn bài nhạc và phim trong túi.
    Mostek MK4096 4-Kilobit DRAM

    Mostek không phải là hãng đầu tiên đưa ra DRAM mà đó chính là Intel. Nhưng chip DRAM 4 kilobit của Mostek có một sáng tạo quan trọng - kỹ thuật "ghép địa chỉ”, do Bob Proebstring, đồng sáng lập Mostek, đưa ra. Về cơ bản, chip này sử dụng cùng số chân để truy cập các hàng và cột bộ nhớ bằng cách ghép các tín hiệu định địa chỉ. Kết quả là chip này không cần nhiều chân hơn khi mật độ bộ nhớ tăng và có thể chế tạo với chi phí thấp hơn. Chỉ có một vấn đề nhỏ về tính tương thích. 4096 dùng 16 chân, trong khi các bộ nhớ chế tạo bởi TI, Intel và Motorola có 22 chân.
    Sau đó là một trong những cuộc chiến ly kỳ nhất trong lịch sử DRAM. Mostek đánh cược tương lai của mình vào con chip này, các quan chức của hãng ra sức quảng bá đến khách hàng, đối tác, báo chí, thậm chí cả nhân viên của hãng. Fred K. Beckhusen, người mới vừa được thuê để kiểm tra các thiết bị 4096, nhớ lại Proebsting và giám đốc điều hành L.J. Sevin đã đến ca đêm của anh để thuyết trình vào lúc 2 giờ sáng. "Họ đoan chắc rằng trong 6 tháng tới không còn ai nghe hay quan tâm đến DRAM 22 chân". Họ đã đúng. 4096 và các hậu duệ của nó đã thống trị DRAM nhiều năm trời.
     
  13. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Những con chip lừng danh (Sưu tầm trên Net)

    Xilinx XC2064 FPGA

    Trở lại đầu thập niên 1980, các nhà thiết kế chip cố khai thác tối đa mọi transistor trên các vi mạch. Nhưng rồi Ross Freeman có ý tưởng khác hẳn. Ông tạo ra con chip có các transistor hình thành nên những khối logic được tổ chức chặt chẽ mà có thể cấu hình và tái cấu hình bằng phần mềm. Có thể một số transistor không được dùng đến nhưng Freeman cho rằng việc này không quan trọng vì định luật Moore cuối cùng sẽ làm giá transistor trở nên thật rẻ. Đúng như vậy. Để tiếp thị con chip này, được gọi là FPGA (Field-Programmable Gate Array), Freeman đã sáng lập Xilinx. Khi sản phẩm đầu tiên của công ty, XC2064 ra mắt vào năm 1985, các nhân viên được giao 1 nhiệm vụ: họ phải vẽ mạch mẫu dùng các khối luận lý của XC2064, giống như khách hàng Xilinx sẽ làm.

    Hiện nay các con chip FGA – được bán bởi Xilinx và các hãng khác – được dùng trong rất nhiều đồ vật và thiết bị mà không thể kể hết ra đây được.

    Zilog Z80 Microprocessor

    Federico Faggin biết rõ chi phí và nhân lực cần để tiếp thị 1 bộ vi xử lý. Khi làm việc tại Intel ông đã góp phần tạo ra 2 thiết kế có ảnh hưởng lớn về sau: 4004 và 8080. Khi ông lập hãng Zilog cùng một đồng nghiệp tại Intel là Ralph Ungermann, họ quyết định khởi đầu với cái gì đó đơn giản hơn: bộ vi điều khiển 1 chip duy nhất.

    Faggin và Ungermann thuê văn phòng ở thị trấn Los Altos, California (Mỹ), phác thảo kế hoạch kinh doanh và đi tìm nguồn vốn đầu tư. Họ ăn trưa tại một siêu thị gần Safeway với “bánh quy và phó mát Camenmbert”.

    Hai kỹ sư này sớm nhận ra thị trường vi điều khiển đầy những con chip rất tốt. Thậm chí nếu con chip của họ tốt hơn chip của các hãng khác đi nữa thì họ cũng chỉ kiếm được lợi nhuận khiêm tốn và sẽ phải tiếp tục ăn trưa với phó mát và bánh quy. Họ quyết định Zilog phải hướng đến mục tiêu cao hơn - dây chuyền thực phẩm, thế là dự án vi xử lý Z80 ra đời.

    Mục tiêu của dự án này là vượt qua 8080 đồng thời có khả năng tương thích hoàn toàn với phần mềm 8080, để lôi kéo khách hàng khỏi Intel. Nhiều tháng trời, Faggin, Ungermann và Masatoshi Shima, một cựu kỹ sư Intel, 80 giờ mỗi tuần gập người trên bàn vẽ các mạch Z80.

    Nhóm làm việc vất vả suốt từ 1975 đến 1976. Cuối cùng họ có bản mẫu chip vào tháng 3 năm 1976. Z80 cùng thời với con chip 6502 của MOS Technology, và giống con chip đó, nó nổi bật không chỉ vì thiết kế xuất sắc mà còn vì giá cực rẻ (khoảng 450.000đ). Tuy nhiên, việc đưa sản phẩm này ra thị trường mất nhiều công sức. “Đó là thời gian khắc nghiệt”, Faggin nhớ lại.

    Nhưng cuối cùng việc bán chip cũng hanh thông. Z80 hiện diện trong hàng ngàn sản phẩm, bao gồm Osbone I (máy tính có thể “mang đi” đầu tiên), Radio Shack TRS 80 và các máy tính gia đình MSX, cũng như các máy in, máy fax, photocopy, modem và vệ tinh. Zilog hiện vẫn còn sản xuất Z80 được dùng phổ biến trong các hệ thống nhúng. Với cấu hình cơ bản hiện nay nó có giá 5,73 USD – rẻ hơn một bữa ăn trưa với bánh quy và phó mát.

    Sun Microsystems SPARC Processor

    Đầu thập niên 1980, các kiến trúc sư vi xử lý luôn tìm cách để tăng độ phức tạp của tập lệnh CPU nhằm cho phép thực hiện được nhiều tác vụ hơn trong mỗi xung nhịp máy tính. Nhưng rồi 1 nhóm tại đại học California, Berkerley, đề xuất giải pháp ngược lại: đơn giản hóa tập lệnh để có thể xử lý các lệnh với tốc độ cực nhanh nhờ đó thực hiện được nhiều lệnh hơn trong mỗi xung nhịp. Nhóm Berkerley, dẫn dắt bởi David Patterson, gọi giải pháp này là RISC, viết tắt của Reduce Instruction Set Computing.


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)
    Về lý thuyết, RISC có vẻ tuyệt. Nhưng liệu nó có thể thâm nhập thị trường? Sun Microsystems đã đánh cược vào điều đó. Năm 1984, một nhóm kỹ sư của Sun bắt tay phát triển bộ xử lý RISC 32-bit gọi là SPARC (Scalable Processor Architecture). Mục tiêu là dùng các chip này trong dòng máy trạm mới. Scott McNealy, khi đó là giám đốc điều hành của Sun, đã cho rằng “SPARC sẽ đưa Sun từ công ty có doanh thu 500 triệu USD/năm trở thành công ty có doanh thu 1 tỷ USD/năm”,.

    Nhưng nhiều người ngoài Sun nghi ngờ, cho rằng Sun có thể thất bại. Tệ hơn, đội ngũ tiếp thị của Sun còn có một nhận định khủng khiếp: SPARC đánh vần ngược là CRAPS! (trò chơi súc sắc). Các thành viên của nhóm phát triển phải thề không tiết lộ từ đó cho bất kỳ ai thậm chí người trong công ty – vì sợ từ này lọt đến tai của đối thủ tinh quái MIPS Technologies, hãng cũng đang khai thác ý tưởng RISC.

    Phiên bản đầu tiên của SPARC tối giản gồm “20.000 cổng, thậm chí không có các lệnh nhân/chia số nguyên”, theo Robert Garner, kiến trúc sư trưởng của SPARC, hiện nay là nhà nghiên cứu tại IBM. Tuy nhiên, với 10 triệu lệnh mỗi giây, nó chạy nhanh khoảng gấp 3 lần các BXL CISC (complex instruction set computer) hồi đó.

    Sun dùng SPARC để chạy các máy trạm và máy chủ đem lại lợi nhuận nhiều năm sau. Sản phẩm dựa trên SPARC đầu tiên, giới thiệu năm 1987, là dòng máy trạm Sun-4, sản phẩm này nhanh chóng thống trị thị trường và giúp đưa doanh thu của công ty vượt qua mốc 1 tỷ USD mà McNealy tiên đoán.

    Tripath Technology TA2020 AudioAmplifier

    Có một bộ phận những người sành nghe nhạc cho rằng các bộ khuếch đại (ampli) dùng đèn cho âm thanh là tốt nhất và sẽ không có gì hơn được. Vì vậy giới nghe nhạc xôn xao khi nghe có tuyên bố cho rằng ampli lớp D thể rắn (solid-state class-D), được chế tạo bởi 1 công ty ở thung lũng Silicon có tên là Tripath Technology, cho âm thanh không thua ampli đèn. Kỹ thuật của Tripath là dùng 1 hệ thống tạo xung 50MHz để điều khiển ampli. Công ty này khoe rằng sản phẩm TA2020 của mình cho hiệu suất tốt hơn và rẻ hơn bất kỳ ampli thể rắn tương đương nào. TA2020 sử dụng điện năng hiệu quả, không yêu cầu bộ tản nhiệt và có thể chế tạo thành một khối gọn. Phiên bản 15W cấp thấp của TA2020 được bán với giá 3USD (khoảng 48.000đ) và được dùng cho các hệ thống rạp hát gia đình, hệ thống âm thanh cao cấp và TV của các hãng Sony, Sharp, Toshiba và nhiều hãng khác. Sau đó, các công ty bán dẫn lớn theo kịp, tạo các chip tương tự và đưa Tripath vào quên lãng. Tuy nhiên, các con chip của hãng đã tạo nên dấu ấn sâu đậm. Các bộ khuếch đại âm thanh dựa trên TA2020 hiện vẫn còn được các công ty như 41 Hz Audio, Sure Electronics và Winsome Labs chế tạo.

    Amati Communications Overture ADSL Chip Set


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 1
    Khi DSL xuất hiện, các modem 56,6 Kbps bị vứt bỏ thảm hại. Hai phần ba người dùng băng rộng trên thế giới - những người dùng DSL nên cám ơn Amati Communications, một công ty nhỏ thuộc đại học Standford. Vào những năm 1990, công ty này đưa ra giải pháp điều chế DSL gọi là đa âm rời rạc, hay DMT (discrete multitone). Về cơ bản đây là phương thức làm cho một đường điện thoại hoạt động như hàng trăm kênh con và cải thiện việc truyền tải dùng giải thuật Robin Hood ngược. John M. Cioffi, người đồng sáng lập Amati và giờ là giáo sư công nghệ tại Standford, giải thích: “Các bit được lấy khỏi những kênh kém nhất để dành cho những kênh tốt nhất”. DMT đánh bại các giải pháp cạnh tranh – bao gồm các giải pháp từ các hãng khổng lồ như AT&T – và trở thành chuẩn toàn cầu cho DSL. Vào giữa thập niên 1990, bộ chip DSL của Amati (1 chip analog, 2 chip kỹ thuật số) được bán với số lượng hết sức khiêm tốn, nhưng đến năm 2000, số lượng tăng lên hàng triệu. Đầu những năm 2000, số lượng bán ra vượt 100 triệu chip mỗi năm. Texas Instruments đã mua lại Amati vào năm 1997.

    Motorola MC68000 Microprocessor


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 2
    Motorola tham gia thị trường vi xử lý 16-bit muộn, vì vậy hãng quyết định tạo phong cách riêng. MC6800 16-bit/32-bit “đóng gói” 68.000 transistor, hơn gấp đôi số transistor của Intel 8086. Nó có các thanh ghi nội 32-bit, nhưng bus 32-bit làm đội giá thành, vì vậy 68000 dùng địa chỉ 24-bit và các đường dữ liệu 16-bit. 68000 dường như là bộ xử lý quan trọng cuối cùng được thiết kế dùng bút chì và giấy. Chip 68000 tìm được cách thâm nhập các máy tính Macintosh đầu tiên, cũng như các máy Amiga và Atari ST. Và 68000 có được thành công thương mại với các ứng dụng nhúng trong các máy in laser, máy chơi game và các bộ điều khiển công nghiệp. Nhưng 68000 cũng gây nên một trong những mất mát gần như lớn nhất lịch sử, đó là Pete Best, thành viên của nhóm thiết kế, đã bị mất vị trí tay trống trong nhóm nhạc lừng danh Beatles. IBM đã muốn dùng 68000 trong dòng máy tính cá nhân của mình, nhưng hãng này đã chọn 8088 của Intel vì 68000 lúc đó còn khan hiếm. Nếu không, có thể đã không có đế chế “2 vua” Windows-Intel được biết đến với cái tên Wintel hiện nay.

    Chips & Technologies AT Chip Set


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 3
    Vào năm 1984, khi IBM giới thiệu dòng PC 80286 AT, công ty này đã nổi lên như người thống trị hiển nhiên trong địa hạt máy tính để bàn và vẫn muốn duy trì sự thống trị của mình. Nhưng kế hoạch của Big Blue bị sụp đổ bởi một công ty nhỏ xíu có tên Chips & Technologies, có trụ sở tại San Jose, California (Mỹ). C&T đã phát triển 5 chip bắt chước tính năng của bo mạch AT dùng khoảng 100 chip. Các kỹ sư của C&T đã xác định việc duy nhất phải làm đó là đảm bảo bộ chip này tương thích với IBM PC. Các chip của C&T cho phép các nhà sản xuất như Acer của Đài Loan chế tạo máy tính rẻ hơn và kích hoạt quá trình xâm lấn của PC nhái. Intel đã mua lại C&T vào năm 1997.

    Computer Cowboys Sh-Boom Processor


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 4
    Hai nhà thiết kế chip vào một quán bar. Đó là Russell H. Fish III và Chuck H. Moore, còn quán bar có tên là Sh-Boom. Đây thật sự là một phần của câu chuyện công nghệ đầy ắp những mối bất hòa và kiện tụng, rất nhiều kiện tụng. Mọi chuyện bắt đầu vào năm 1988 khi Fish và Moore tạo ra 1 BXL kỳ lạ gọi là Sh-Boom. Con chip này có thể chạy nhanh hơn đồng hồ trên bo mạch điều khiển phần còn lại của máy tính. Vì vậy 2 nhà thiết kế này đã tìm ra cách để buộc BXL này chạy đồng hồ bên trong cực nhanh của riêng nó, trong khi vẫn giữ đồng bộ với phần còn lại của máy tính. Sh-Boom không hề đạt được thành công thương mại, sau khi có bằng phát minh liên quan đến con chip này, Moore và Fish chia tay. Fish sau đó bán phát minh của mình cho Patriot Scientific, một công ty có trụ sở tại Carlsbad, California, phát minh này vẫn không đem lại lợi nhuận cho đến khi các quan chức của công ty phát hiện ra một điều: nhiều năm qua kể từ phát minh ra Sh-Boom, tốc độ các BXL đã vượt xa bo mạch chủ, vì vậy hầu như mọi nhà sản xuất máy tính và thiết bị điện tử tiêu dùng đều áp dụng giải pháp giống hệt phát minh của Fish và Moore. Vậy là Patriot xúc tiến một loạt vụ kiện chống lại các công ty Mỹ và Nhật. Việc các con chip của các công ty này có dựa trên ý tưởng Sh-Boom hay không là vấn đề gây tranh cãi. Nhưng từ năm 2006, Patriot và Moore đã thu về trên 125 triệu USD phí bản quyền cấp cho Intel, AMD, Sony, Olympus và các hãng khác. Về cái tên SH-Boom, Moore, giờ làm việc cho IntellaSys ở Cupertino, California, nói: “nó tình cờ nảy sinh từ tên của quán bar nơi Fish và tôi uống rượu”.

    Intel 1702 2048-bit EPROM Chip


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 5
    Tia tử ngoại (UV) được biết đến là công cụ diệt vi khuẩn hiệu quả. Nhưng vào thập niên 1970 và 1980, nó cũng được dùng để “diệt” dữ liệu. Các con chip nhớ chỉ đọc có thể lập trình và có thể xoá, được gọi là EPROM, có cửa sổ thạch anh nhỏ qua đó người ta chiếu tia UV để xóa sạch dữ liệu và lập trình lại. Khi Dov Frohman-Bentchkowsky, kỹ sư làm việc cho Intel, giới thiệu ý tưởng này tại hội thảo IEEE International Solid-State Circuits Conference năm 1971, nó đã gây xôn xao trong giới công nghệ. Thời đó, các chip nhớ hoặc hoàn toàn không thể lập trình lại hoặc có thể lập trình lại nhưng bị mất dữ liệu khi mất nguồn (chip ROM được ghi dữ liệu lúc sản xuất và bất biến). Intel 1702 là chip EPROM đầu tiên, nó có thể chứa 2 kilobit dữ liệu.

    Microchip Technology PIC 16C84 Microcontroller


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 6
    Những năm đầu thập niên 1990, thế giới vi điều khiển 8-bit thuộc về gã khổng lồ Motorola. Sau đó xuất hiện đối thủ nhỏ bé với cái tên rất thường, Microchip Technology. Microchip đã phát triển PIC 16C84 tích hợp một loại bộ nhớ gọi là EEPROM viết tắt của Electrical Erasable Programmable Read-Only Memory (bộ nhớ chỉ đọc có thể xóa bằng điện). Nó không cần dùng đến tia tử ngoại để xóa như các loại EPROM trước đó. Hơn nữa, chip này có giá chưa đến 5USD, chỉ bằng ¼ giá của các chip cạnh tranh khác mà hầu hết thuộc hãng Motorola. Tính đến nay đã có khoảng 6 tỉ con chip 16C84 được bán ra, nó được dùng trong các thẻ thông minh, thiết bị điều khiển từ xa, thiết bị bắn pháo hoa điều khiển bằng chip, thiết bị hàng không vận hành tự động...

    Toshiba NAND Flash Memory

    Trước khi bộ nhớ flash ra đời, cách duy nhất để lưu cái mà khi đó được cho là lượng dữ liệu lớn là dùng băng từ, đĩa mềm và đĩa cứng. Nhiều công ty cố gắng tạo giải pháp thay thế thể rắn, nhưng các lựa chọn như EPROM và EEPROM (thêm chữ E của “electrical”) không thể lưu lượng dữ liệu lớn một cách kinh tế.

    Năm 1980, một nhà quản lý phân xưởng của Toshiba tên là Fuijio Masuoka đã tuyển 4 kỹ sư cho một dự án bí mật thiết kế một chip nhớ có thể lưu trữ nhiều dữ liệu với giá chấp nhận được. Chiến lược đơn giản: “chi phí của con chip sẽ liên tục giảm khi transistor được thu nhỏ kích thước”, Masuoka cho biết. Ông giờ là giám đốc kỹ thuật của Unisantis Electronics ở Tokyo.

    Nhóm của Masuoka đưa ra nhiều biến thể EEPROM có đặc điểm 1 ô nhớ chỉ gồm 1 transistor. Vào lúc đó, EEPROM thông thường có 2 transistor mỗi ô nhớ. Một khác biệt nhỏ nhưng ảnh hưởng lớn đến chi phí.

    Để có một cái tên hấp dẫn, họ chọn “flash” vì khả năng xóa cực nhanh của chip này. Nếu bạn nghĩ Toshiba vội vã đưa phát minh này vào sản xuất và chờ tiền đổ về thì bạn không hiểu rõ về cách các tập đoàn lớn thường đối xử với những sáng tạo nội bộ. Cấp trên của Masuoka tại Toshiba đã ra lệnh cho ông từ bỏ ý tưởng đó đi.

    Dĩ nhiên Masuoka không làm như vậy. Năm 1984 ông trình tài liệu thiết kế bộ nhớ của mình tại hội thảo quốc tế về thiết bị điện tử của IEEE tổ chức tại San Francisco. Thiết kế này đã gợi ý cho Intel bắt đầu phát triển một dạng bộ nhớ flash dựa trên cổng luận lý NOR. Năm 1988, công ty này đã giới thiệu chip 256 kilobit được dùng trong xe hơi, máy tính và các vật dụng phổ thông khác, tạo nên một công việc kinh doanh tốt đẹp cho Intel.

    Điều đó làm cho Toshiba cuối cùng quyết định đưa phát minh của Masuoka ra thị trường. Chip flash của ông dựa trên công nghệ NAND, cung cấp mật độ lưu trữ lớn hơn nhưng khó sản xuất. Thành công đến vào năm 1989 khi chip flash NAND đầu tiên của Toshiba ra mắt thị trường. Đúng như Masuoka tiên đoán, giá liên tục hạ.

    Kỹ thuật ảnh số mang lại cho flash một lực đẩy lớn vào cuối thập niên 1990 và Toshiba trở thành một trong những tay chơi lớn nhất trong thị trường nhiều tỉ đô la. Tuy nhiên, đồng thời, mối quan hệ của Masuoka với các quan chức khác rạn nứt, và ông rời Toshiba.

    Giờ đây bộ nhớ flash NAND là thành phần quan trọng trong mọi điện thoại di động, máy ảnh, máy chơi nhạc và dĩ nhiên, trong các ổ USB mà dân kỹ thuật thích mang theo mình.

    IBM/Sony/Toshiba Cell Processor (2004)


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 7
    Lấy một mẩu silicon; đưa vào đó 1 bộ xử lý PowerPC; thêm 8 bộ đồng xử lý tính toán cực nhanh; và tất cả kết nối qua bus dữ liệu 300-gigabit; kết quả cho ra 1 trong những chip vi xử lý độc đáo nhất trong lịch sử bán dẫn – Cell, được phát triển bởi IBM, Sony và Toshiba. Nó ngốn của các công ty này 400 triệu USD, 400 nhân lực và 4 năm để đưa chip ra thị trường. Được thiết kế để xử lý các luồng MPEG (phim), game 3D và biến đổi Fourier, Cell được dùng trong Sony PlayStation 3, các máy chủ cao cấp và siêu máy tính. Các nhà khoa học máy tính và các nhà lập trình tranh nhau tìm cách khai thác tiềm năng của Cell. 5 năm sau, họ vẫn tiếp tục mày mò.

    Philips Semiconductors TDA93xx TV Processor

    Nhân viên tiếp thị của Philips gọi nó là “bộ xử lý TV trên 1 chip tuyệt vời”. Các kỹ sư Philips thì gọi nó là TDA93xx. Đơn giản đây là chip tích hợp 1 bộ xử lý tín hiệu TV, 1 bộ giải mã thuyết minh và 1 nhân vi điều khiển. Philips tạo ra nó bằng cách kết hợp mạch CMOS (complementary-metal-oxide semiconductor) thông thường với BiMOS analog, một sự kết hợp của công nghệ CMOS và lưỡng cực. Chip này hỗ trợ 3 chuẩn TV quốc tế (PAL, NTSC và SECAM), và bằng cách thêm bộ vi điều khiển, Philips loại bỏ nhu cầu có nhiều thành phần khác nhau. Các nhà sản xuất TV thích con chip này. Bộ phận bán dẫn của Philips, giờ đây được biết đến với cái tên NXP – ước tính đã bán ra trên 850 triệu con chip.

    Lucent WaveLAN IEEE Wi-Fi Chip Set

    Duyệt web không dây trong khi nhấm nháp cà phê thật tuyệt – rất ít người tranh cãi điều này. Nhưng việc tạo ra công nghệ không dây này lại liên quan đến những cuộc tranh cãi nảy lửa giữa các công ty công nghệ hùng mạnh nhất. Trước khi Wi-Fi xuất hiện, có rất nhiều chuẩn không dây “ngự trị” trên không; mỗi công ty dùng một công nghệ riêng của mình. Chỉ có kỹ sư người Hà Lan tên Vic Hayes – được trang bị các kỹ năng ngoại giao tầm cỡ Liên Hợp Quốc (UN) – mới có thể đưa tất cả các công nghệ trên vào “cùng 1 giỏ”. Với tư cách chủ tịch của nhóm IEEE 802.11 Working Group, Hayes tập hợp thành chuẩn mạng không dây mà sẽ hiện diện khắp nơi từ trong nhà, văn phòng, trường học, sân bay và... dĩ nhiên cả tiệm cà phê. Năm 1996, nhóm này đưa ra phiên bản đầu tiên của chuẩn 802.11. Sau đó Hayes mang nó đến phòng công nghệ của công ty mình, Lucent Technologies, và đồng sự của ông trong nhóm cũng làm tương tự. Dĩ nhiên, việc soạn thảo chuẩn là một việc; còn việc hiện thực nó trong silicon lại trong 1 sản phẩm có thể mang lại lợi nhuận là một việc khác. Lucent thuộc số công ty đầu tiên tạo ra bộ chip 802.11 được giới thiệu vào năm 1998 với cái tên WaveLAN IEEE, được bán chung với các router và modem không dây. Bộ chip này sớm được cập nhật để hỗ trợ phiên bản 802.11b cho phép truyền dữ liệu ở tốc độ lên đến 11 megabit/s và giúp công nghệ Wi-Fi trở nên phổ biến. Lucent không thu lợi nhiều từ dòng WaveLAN IEEE; hãng tách bộ phận bán dẫn thành Agere Systems vào năm 2000 và đặt lại tên chip là Orinoco, sau đó được Proxim mua lại. Từ đó, Wi-Fi có được cuộc sống riêng, và giờ đây chip Wi-Fi của các hãng Atheros, Broadcom, Cisco, Intel, Marvell và nhiều hãng khác là thành phần của mọi máy tính.

    AMD Opteron Processor


    Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 8
    Kể từ khi thành lập vào năm 1969, Advanced Micro Devices (AMD) đã có chỗ đứng trên thị trường IC. Những con chip luận lý vào thời kỳ đầu của công ty, rồi đến bộ vi xử lý AMD 9080 (một bản sao của Intel 8080 8-bit) và dòng chip 4-bit Am2900 có thể nhóm lại để tạo các bộ điều khiển 8 hay 16 bit. Nhưng gần đây nhất, chip AMD thật sự nổi bật là BXL Opteron 64-bit. CPU này mở rộng tập lệnh 32-bit sang kiến trúc 64-bit. Hơn thế nữa, nó tích hợp 1 bộ điều khiển bộ nhớ nhúng và 1 kết nối trong chip-chip tốc độ cao. Opteron nhắm đến server, nhưng AMD sớm chuyển sáng tạo của mình thành Athlon 64 nhắm đến các PC phổ thông. Hai BXL AMD mạnh mẽ này cho phép người dùng thực hiện các tác vụ tính toán mà trước đây chỉ dành cho những hệ thống RISC đắt đỏ. Chip này cũng buộc Intel bổ sung những khả năng tương tự cho các BXL x86 của mình.

    IBM POWER Processor

    Bạn đã nghe tới IBM PC. Nhưng có từng nghe về IBM RT? Đó là 1 máy trạm Unix chưa từng đem lại nhiều lợi nhuận cho IBM nhưng là một cột mốc quan trọng đối với Big Blue. Đó là vì RT dùng 1 BXL tiên phong dựa trên khái niệm RISC (RT tượng trưng cho RISC Technology). Từ đó, IBM tiếp tục phát triển các chip RISC khác có ảnh hưởng mạnh về sau: POWER và PowerPC. Hai họ CPU 32-bit này là trái tim của nhiều server, máy trạm và siêu máy tính đình đám của IBM. Dòng sản phẩm server và máy trạm đầu tiên dùng BXL POWER là RISC System/6000 (hay RS/6000) được giới thiệu năm 1990. 4 năm sau, RS/6000 được nâng cấp với BXL PowerPC mới mà IBM đã hợp tác với Apple và Motorola phát triển. Nhiều BXL tiếp sau, bao gồm các CPU chịu được phóng xạ, các phiên bản dành cho máy chơi game như Nintendo Wii, Microsoft Xbox 360 và BXL Cell đa nhân.

    Communications Services RFID

    Mario Cardullo phát minh ra thiết bị nhận dạng tần số vô tuyến (RFID) đầu tiên vào năm 1969. Đây thật sự không phải là 1 con chip mà là 1 mạch có kích cỡ 1 con chip trong đó có 1 bộ thu, 1 bộ phát và bộ nhớ 16 bit không mất. Khi đó không được gọi là RFID. Phát minh của ông được nộp vào năm 1970 và đưa ra vào năm 1973 – được gọi là “hệ thống và dụng cụ thu phát”. Cardullo thành lập Communication Services Corp. để tiếp thị hệ thống này. Ông nghĩ nó có thể dùng cho việc thu phí điện tử và nhiều thứ khác. Communication Services không hề bán được hệ thống này. Năm 1990, bằng phát minh hết hạn. Nhưng Cardullo không phải là người duy nhất nghĩ đến các thiết bị nhận dạng có thể đọc từ xa. Nhiều người khác đã làm việc trên cùng ý tưởng đó để đưa công nghệ RFID ra thị trường. Hiện nay RFID được dùng trong các thẻ thông minh, thẻ ra vào, thẻ đồ đạc và hộ chiếu. Công nghệ này được dùng để giám sát thú nuôi, súc vật, kho hàng và cả con người (các con chip RFID có thể cấy vào cơ thể người).

    RFID được đưa vào danh sách này vì chúng ta không thể bỏ qua RFID, nó hứa hẹn sẽ hiện diện khắp nơi và tạo nên ngành công nghiệp nhiều tỉ USD.

    Danh sách ở trên không sắp xếp theo thứ tự thời gian xuất hiện, cũng không sắp xếp theo mức độ quan trọng – thật sự các con chip giới thiệu ở đây đều xứng đáng có vị trí trang trọng trong trang sử công nghệ.
     
  14. forever007 Thành Viên Chưa Kích Hoạt

    bro siu tầm hàng độc thiệt ....
     
  15. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Thank bạn đã đọc và up bài Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)..
     
  16. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Cảm ơn ông anh nhiều Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)..
     
  17. C100 Thành Viên Cấp 3

    Mình có con Pentium MMX 200 với 1 em Pen4 1.8Ghz nè Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) có gì pm hộp thư mình Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 1
     
  18. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Chào bạn!!!

    Bạn gửi cho mình qua địa chỉ này nha: 19B khu phố 2, phường An Bình, Biên Hoà, Đồng Nai.
    Cảm ơn bạn nhiều Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu) - 2 ..
     
  19. x-pro Thành Viên Cấp 6

    Cảm ơn ông anh đã up bài Sưu tầm cpu cổ 186, 286, 386, 486, 586 (Giao lưu, trao đổi về cpu)..
     
  20. CPU_LINHKIENRE Thành Viên Cấp 3

    Chào bạn! Đợt 2/9 vừa rồi minh có về quê tìm được vài con CPU cổ. Nếu ngày nào bạn có dịp đi ngang qua dc chô mình thì đt co mình trước, mình sẽ mang theo cho bạn. Bạn sẽ liên hệ với mình qua số: 01645830273 (Phú) bạn đừng gọi vô những số kia, vì đó là dt chỗ mình đi làm thôi. Vì ban ngày mình làm ở đó nên bạn tìm mình sẽ gặp, Nhớ đừng đt vô số khác ngòai số mình cho bạn.
    Thank!
     

Tình hình diễn đàn

Tổng: 775 (Thành viên: 0, Khách: 770, Robots: 5)