Tìm kiếm bài viết theo id

101 câu chuyện thiền( góp nhặt cát đá)

Discussion in 'Chuyện trò' started by jimmy_vnu, Jun 11, 2009.

ID Topic : 983154
Ngày đăng:
Jun 11, 2009 at 9:51 PM
  1. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Joined:
    Aug 20, 2008
    Tuổi tham gia:
    17
    Messages:
    2,120
    Câu chuyện thứ nhất: [FONT=&quot]MỘT TÁCH TRÀ [/FONT]
    [FONT=&quot]V[/FONT]ào thời Minh Trị 1860 -1912, Nan-in một thiền sư Nhật tiếp một giáo sư Đại học đến hỏi về Thiền.
    Nan-in mời trà, ông đã rót đầy tách của khách nhưng vẫn tiếp tục rót thêm. Vị giáo sư ngồi nhìn nước trong tách tràn ra cho đến khi không kềm mình được nữa.
    - “Đầy quá rồi, xin đừng rót nữa.”
    - “Giống như cái tách này”, Nan-in nói “Ông cũng đầy ắp những quan niệm, những tư tưởng của ông, làm sao tôi có thể bày tỏ Thiền cho ông được. Trừ phi ông cạn cái tách của ông trước.”


    Đây là câu chuyện đầu tiên. Trong tập truyện này, câu chuyện này phải có một tầm quan trọng, một giá trị đặc biệt; chứ nếu không, thiền sư Mư Ju, tức thiền sư Vô Trú, ông có sưu tập, đã không để nó lên đầu. Câu chuyện này cũng đã gây hiểu lầm rất nhiều. Ta nên hiểu câu chuyện này như thế nào? Khi một vị giáo sư đến để hỏi về Thiền, thường thì khi đã là một vị giáo sư thì ông đã hiểu rất nhiều vấn đề trước khi đến với Thiền, tức là ông đã có những định kiến, đã có những chủ trương, đã có những khuynh hướng ở trong lòng mình rồi. Và những định kiến của ông cũng đã được bảo đảm bằng những bằng cấp của ông; nên ông tin chắc rằng, những điều gì mình suy nghĩ là đúng. Chẳng những như vậy, ông còn tập hợp rất nhiều tư tưởng, sách vở, kiến thức từ các nơi. Nơi một vị Giáo sư như vậy, ở con người ông, ở tâm hồn ông, ông biết quá nhiều vấn đề. Cho nên khi ông đến hỏi Thiền, thì ngài Nan-in dạy ngay một bài học đầu tiên, mà bài học của một vị Thiền sư đúng là nó đầy ấn tượng. An tượng đó là Ngài không dùng lời nói để chê trách liền, mà Ngài đã dùng hình ảnh của tách trà cứ tràn ra tràn ra để vị giáo sư có một ấn tượng rất mạnh, rồi mới nhớ được lời Ngài dạy. Ngài rót tách trà đã tràn ra rồi mà Ngài vẫn rót, để buộc cho ông nói lên. Chính ông phải nói lên: “Đừng rót nữa.” Lúc đó Ngài mới nhắc “Ông cũng đầy những quan niệm, những tư tưởng, nên tôi không thể bày tỏ Thiền cho ông được nữa. Ông chủ quan quá rồi.”
    Như vậy trong câu chuyện này, tác giả muốn nói, khi đến với Thiền, trước hết ta phải buông bỏ hết những hiểu biết của mình đã. Đây là ý nghĩa dễ hiểu nhất trong câu chuyên đầu tiên này. Và ý nghĩa này cũng đã gây hiểu lầm nghiêm trọng. Trước hết là, ai cũng có một số hiểu biết khi đến với đạo Phật, nhất là trước khi đến với Thiền, ai cũng từng có nhiều cái hiểu biết. Như người đạo Thiên Chúa cũng vậy, họ đứng trên hiểu biết về đạo Thiên Chúa, họ muốn tìm đến với Thiền. Hoặc là một người đạo Nho, hoặc một người ngoại đạo tu theo đồng bóng, tin rằng có mẫu mẹ nhập xác. Hoặc là người theo nghiên cứu khoa học, chỉ tin những gì khoa học chứng minh được, ngoài ra không tin những gì thuộc về tín ngưỡng v.v... Vô số những người đến với Thiền, với đạo Phật từ những khuynh hướng gốc của mình và họ mang cái hiểu biết, mang cái quan điểm đó rồi giống như tâm hồn đã đóng cửa, họ không còn có thể đón nhận thêm cái ánh sáng của Thiền mà chân lý đó, vốn nó bàng bạc, nó nhẹ nhàng, nó đòi hỏi cái tâm tế nhị, sâu lắng chứ không phải là một cái tâm hơn thua, hiếu thắng nông nổi mà được.

    Qua câu chuyện đầu tiên Ngài Nan-in nhấn mạnh với ông giáo sư, cũng là nhắc nhở với tất cả chúng ta là đừng có chủ quan cho là đến với Thiền với một tâm hồn đầy ắp kiến thức mà cho là đủ. Chính ra, một tâm hồn như trẻ thơ, nhẹ nhàng không cố chấp. Tâm hồn đó dễ đón nhận được chân lý của Thiền hơn.
    Cái ý nghĩa căn bản của câu chuyện này như vậy. Nhưng từ ý nghĩa đó, đã được người ta hiểu theo cách như thế này: cái việc học nó trở ngại cho việc tu Thiền. Hoặc là muốn tu Thiền thì phải bỏ hết kiến thức cũ của mình, chứ nếu còn có những kiến thức cũ thì không thể nào lĩnh hội Thiền được. Đây là một hiểu lầm nghiêm trọng. Bởi vì sao? Bởi vì cái gì mình đã hiểu biết, mình bỏ đi đâu? Làm sao bỏ được nữa? Và người không hiểu biết chắc chắn là người ngu. Bởi vì từng những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống ta phải học mới có được. Nếu không học thì mình không thể hiểu biết, không thể cư xử như một con người đàng hoàng, như một con người văn minh trong thời đại tiến bộ này. Nên có nhiều người học Thiền cực đoan, thầy gọi là cực đoan, bảo rằng phải mửa ra cho hết những kiến giải của ông, dù ông học kinh điển, học kinh Phật cũng phải mửa ra, học sách thế gian cũng phải mửa ra. Đó là lối nói cực đoan. Cái hiểu biết không phải là vô ích. Nó sẽ vô ích, nó sẽ chướng ngại khi mình cố chấp. Đây là điểm quan trọng, một người hiểu biết nhiều không có lỗi. Chỉ có lỗi khi người đó cố chấp, cho rằng những gì mình hiểu là hoàn toàn đúng, là hoàn toàn đủ. Một người cho những điều mình biết là đúng, là đủ thì người đó là người tự cao, người tự mãn, thì không thể học gì thêm được nữa; huống hồ là học Thiền. Bởi vì Thiền đòi hỏi một tâm hồn hết sức là khiêm hạ, không thấy mình là hay, không thấy mình là giỏi, mới có thể đến được với Thiền. Còn một giây phút mình chấp cái hiểu biết cuả mình là đúng, là đủ; những quan niệm từ trước của mình là hoàn hảo thì người này không thể học Thiền được.
    Cho nên cái thái độ mà trong câu chuyện này muốn nói, là nhắc nhở chúng ta một thái độ khiêm hạ khi chúng ta đến với Thiền. Nghĩa là chúng ta buông hết cái tâm cho mình là hay là giỏi, những quan niệm từ xưa mình cho là khuôn vàng thước ngọc, mình muốn lấy cái đó áp dụng cho chính mình và áp đặt lên cho người khác đều là sai lầm. Mình phải cho rằng mình hãy còn dở mà chân lý của Thiền thì cao siêu vời vợi. Phải được như vậy, mình mới có thể học Thiền được. Qua câu chuyện này, chúng ta hiểu được cái ý chính, là người có tâm hồn đơn giản rỗng rang dễ học Thiền.
    Cái thứ hai là ta cần cảnh giác, là đừng chống đối cái hiểu biết, cái kiến thức; mà chỉ là đừng cố chấp thôi. Những gì mình đã biết, đừng cố chấp nó là đúng, là hay, là đủ, thì có thể học Thiền được.
    Trong một quyển sách lớn , ông Krisnamurti có đặt tựa đề là “Freedom from the know”. Tức là “Sự tự do khỏi cái biết”. Trong cái đó không có vấn đề là phải hủy bỏ hết hiểu biết của mình, những kiến thức của mình; mà chỉ là giải thoát thôi, nghĩa là không cố chấp vào những hiểu biết của mình. Sau này có một tác giả dịch là “Giải trừ kiến thức” tức là hủy bỏ kiến thức đi. Cái lời tựa dịch như vậy là sai, sau này ông biết mình sai, nên có dịch lại là “Giải thoát tri kiến”; thì đây cũng là danh từ mượn của đạo Phật để áp đặt vào. Sự thực, giải thoát tri kiến có một ý nghĩa khác chứ không đúng cái nghĩa “Freedom from the know”.
    Bây giờ ta qua câu chuyện thứ hai.
     
  2. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    [FONT=&quot]ĐƯỢC VIÊN KIM CƯƠNG TRÊN CON ĐƯỜNG LẦY[/FONT]

    [FONT=&quot]G[/FONT]udo tuy là sư phụ của Hoàng Đế nhưng ông thưòng rong chơi một mình như tên ăn mày lang thang.
    Một hôm Gudo đang trên con đường đến Edo, trung tâm văn hóa và chính trị của một thủ phủ.
    Gudo đến một làng nhỏ tên là Takenaka. Trời chiều và mưa rơi nặng hạt Gudo bị ướt như chuột lột. Đôi dép rơm tả tơi, Gudo để ý thấy có bốn năm đôi dép trong cửa sổ một nông gia ở gần làng và định mua một đôi.
    Thiếu phụ dâng dép cho Gudo (Chữ dâng này có nghĩa là cúng dường.) Thấy ông bị ướt quá, mời ông nghỉ lại nhà đêm đó. Gudo nhận lời, cảm ơn nàng.
    Gudo bước vào nhà, tụng kinh trưóc bàn thờ của gia đình.
    Rồi thiếu phụ giới thiệu mẹ và các con của nàng với Gudo. Thấy cả nhà đều buồn, Gudo hỏi có việc gì quấy? Thiếu phụ đáp “Chồng tôi là một người đánh bạc và nghiện rượu. Khi ăn, anh ấy uống rượu và trở thành thô lỗ; khi thua anh ấy mượn tiền của nhiều người khác. Đôi khi say quá anh ấy không về nhà nổi, tôi có thể làm gì được bây giờ?”
    Gudo nói “Tôi sẽ giúp chồng chị. Đây là một ít tiền, chị hãy mua cho tôi một hũ rượu và một ít đồ ăn ngon rồi chị có thể đi nghỉ. Tôi sẽ thiền định trước bàn thơ.”
    Vào khoảng nửa đêm người chồng về, say mèm, kêu lè nhè “Nè bà ơi! Tôi đã về nè! Bà có gì cho tôi ăn không?”
    Gudo nói “Tôi có món cho anh, tôi bị mưa không đi được, vợ anh tử tế mời tôi ở lại đêm nay. Đáp lại, tôi mua một ít rượu và cá này, anh có thể dùng được.” Người đàn ông vui mừng, hắn lập tức uống rượu và rôi ngả dài xuống nền nhà thiếp đi, Gudo ngồi thiền định bên cạnh hắn.
    Sáng hôm sau khi người chồng thức dậy, hắn quên mọi chuyện đêm qua, hắn hỏi Gudo “Ông là ai? Ông ở đâu tới đây?”
    Gudo vẫn thiền định, đáp “Tôi là Gudo ở Kyoto và tôi sắp đến Edo.”
    Người đàn ông rất hổ thẹn, anh ta cung kính xin lỗi vị thầy của Hoàng Đế. Gudo mỉm cười giảng giải “Mọi sự ở đời đều vô thường, đời người chóng vánh. Nếu anh tiếp tục cờ bạc và uống rượu. Anh sẽ không còn thì giờ để làm được việc gì, và anh còn gây khổ cho gia đình nữa.”
    Người chồng chợt tỉnh dậy như trong cơn mộng. Anh ta nói: “Ngài dạy chí phải. Làm sao tôi đền đáp được lời dạy kỳ diệu của Ngài? Hãy để tôi mang đồ đạc tiễn Ngài một đoạn đường.”
    Gudo chấp thuận “Nếu anh muốn.”
    Hai người bắt đầu đi, sau khi họ đi được ba dặm đường, Gudo bảo anh ta trở lại, anh ta xin Gudo “Xin cho đi năm dặm nữa.”
    Hai người tiếp tục đi, Gudo nhắc “Bây giờ anh có thể trở về.”
    Anh ta đáp “Xin mười dặm nữa.”
    Khi mười dặm đã qua Gudo bảo “Bây giờ anh hãy về đi.” “Tôi sẽ theo Ngài trọn quãng đời còn lại của tôi.” Anh ta tuyên bố.
    Trong những Thiền sư hiện đại ở Nhật, một vị thầy nổi bật trong truyền thừa là người đắc đạo của Gudo, danh hiệu ông là Munan, hay là Vô Qui, người không bao giờ trở về. (Tức là qua một đêm, khi tiễn vị Quốc sư đi, ông theo làm đệ tử và đắc đạo luôn.)


    Cái tựa câu chuyện này là “Được viên kim cương trên con đường lầy”. Câu chuyện này có vài ý. Ý thứ nhất, là từ một người hư đốn không có tư cách, làm buồn cho mọi người trong gia đình, mà có thể chỉ trong một giây phút giác ngộ, hối hận, có thể xuất gia vàtu hành đắc đạo. Ý thứ hai là Thiền sư Gudo có lối giáo hóa rất đặc biệt. Ngài tùy thuận, tiếp tục mua rượu mua cá cho ông kia nhậu, còn Ngài cứ ngồi thiền định thôi. Rồi trrong một lời khuyên ngắn ngủi, làm cho người kia thức tỉnh. Đây là sức cảm hóa của Ngài rất là mãnh liệt mà khó có người có nổi. Ý thứ ba là, chúng ta phải biết thương yêu và hi vọng nơi con người; khi mà thấy một người lầm lỗi hoặc có những tính xấu thì mình hay bực dọc, không muốn cho người đó ở gần mình nữa. Nhưng mà cái tâm đó là sai, mình phải biết thương yêu họ và hi vọng họ có thể trở thành một người tốt. Thật ra phải là một người có tâm từ bi mới có thể được như vậy, chứ còn chúng ta sống theo cái tâm ích kỷ, hờn giận bực bội, thì không bao giờ chúng ta có được cái tâm từ bi như vậy. Hễ mà chúng ta ghét ai, chúng ta không muốn trông thấy mặt người đó nữa. Và khi có mặt người đó, chúng ta dễ nói thành những lời mích lòng, nói nhũng lời gây ác cảm, và gây nghiệp làm cho mình với người đó hết kiếp này đến kiếp khác, cứ gặp nhau là gây lộn. Còn nếu mình bình tâm, khi có mặt người đó, mình cố gắng dùng cái tâm thương yêu, giống như Ngài Gudo vậy, để mà cư xử với họ, thì mình giải được ác nghiệp, đời này, đời sau gặp nhau nó vui, gặp nhau nó trong cái tình thương yêu, cuộc đời nhờ vậy mà hạnh phúc hơn. Còn thấy mình không bằng lòng ai điểm nào, tâm mình có ganh ghét, lời nói mình hằn học, như vậy thì họ cũng ghét lại mình thôi. Mình ghét họ, thì đương nhiên họ ghét mình. Và như vậy thì sao? Như vậy nhân cách mình cũng bị giảm, mà cái nghiệp thì mình có gây thêm. Đời sau mình hay rơi vào hoàn cảnh, dễ bị người khác ganh ghét. Đó là điều mình phải để ý.

    Nên cái ý quan trọng nhất trong câu chuyện này chính là hãy thương yêu và hi vọng. Giảng thì giảng vậy, chứ chính bản thân thầy, đôi khi thầy thấy bản thân thầy không được hoàn toàn như vậy. Nhiều khi thầy xét kỹ trong cái tâm của thầy, thầy vẫn thấy có những cái bực bội thầm kín, khi mình thấy có những con người mình thấy họ không tốt. Thầy vẫn thấy thầy chưa được hoàn hảo ở điểm này, và thầy tự thú điều này, cũng là thầy khuyên mọi người, là hãy thương yêu và hi vọng dù cho người ta có xấu xa. Bởi vì cái xấu trong tâm con người, nó cũng cái bịnh thôi, mà nếu chữa được cái bịnh đó, người ta vẫn có thể trở thành người tốt được. Cho nên mọi người ngồi ở đây, hay về sau này, những người nào nghe được đoạn pháp này, thì hãy cố gắng xét lại mình; nào giờ mình có cái ganh ghét với ai, hãy nghĩ lại. Hãy thương yêu họ và hi vọng một ngày nào đó, họ cũng sẽ trở thành người tốt. Còn Ngài Gudo, Ngài cho chúng ta một bài học đặc biệt, một vị Quốc sư, thầy của Vua, mà đi lang thang, sống bình dị, như một người nghèo khổ, Ngài sống cuộc đời đạm bạc, thanh bần. Tấm gương của Ngài thật là vĩ đại. Phải dùng chữ này, bởi vì khó có ai làm được điều đó. Khi mà chúng ta có phước, chúng ta dễ dàng hưởng thụ cái phước của mình. Chứ ít có chịu khước từ cái phước đó. Như được cúng dường nhiều, những đồ sang trọng, ít có khi nào mình từ bỏ nó để mình dùng lại những đồ đơn giản hơn. Ngay như thầy thấy cũng vậy, như hồi xưa, không có chén ăn, ăn bằng chén đá, muổng dừa cũng rán ăn. Hồi mình còn nghèo, còn là Sa di không ai biết. Bây giờ người ta cúng chén kiểu, thì đâu thèm dùng chén đá nữa, cứ lấy chén kiểu mà ăn. Như vậy, thì mình thấy là ngay từ một việc nhỏ thôi, mà mình đâu chịu khước từ cái phước của mình. Mình vẫn tùy theo cái phước, mà cái phước nó đưa mình đến đời sống sang trọng. Đó cũng là cái không hay. Còn như Ngài Gudo, Ngài tuy là vị Quốc sư, cái danh vọng ngất trời, mà Ngài vẫn giữ đời sống đạm bạc, đơn giản, thật là đáng để cho chúng ta noi gương.

    Rồi cái lối hóa độ của Ngài, Ngài không nói nhiều, Ngài chỉ ngồi thiền định bên cạnh một người say rượu. Cái này cũng là hình ảnh đặc biệt. Thường thì chúng ta nghĩ rằng, chúng ta phải ngồi thiền ở một nơi nghiêm trang. Trước bàn Phật, trong một khung cảnh thật là đàng hoàng nghiêm túc; chứ cái ông say rượu, thở hơi thở ra nồng nặc mùi bia, khó chịu, mình nghĩ, nơi đó không đáng để mình tu hành. Cái sự tu hành chỉ dành cho nơi nghiêm trang, cho những ngườibiết cung kính, có tâm đạo. Chứ còn bên cạnh một anh chàng bợm rượu, đâu có đáng để mình ngồi đó mà tu. Nhưng mà Ngài xem chuyện đó bình thường, cái tâm của Ngài không có cái phân biệt đó. Ngài ngồi một bên, và trong câu chuyện này không nói; nhưng mà thầy nghĩ có lẽ là, trong suốt lúc ngồi thiền, Ngài dùng tâm lực của Ngài, để chuyển hóa tâm của người kia bằng công năng của Thiền định. Có lẽ vì lý do đó nên buổi sáng, Ngài chỉ nói một câu ngắn ngủi, làm cho người chồng thức tỉnh. Mà người này cũng đặc biệt, đặc biệt là khi thức tỉnh rồi, thì là một người quyết tâm tu hành. Chúng ta đừng coi thường những người xấu, nhiều khi họ có những ý chí ngầm, mà khi chứ tu thì thôi, khi họ đã tu rồi thì cái quyết tâm mạnh mẽ của họ làm cho họ tiến rất nhanh. Ngài Gudo đặt tên cho ông ta la Mu Nan, tức Vô Qui, là người không bao giờ trở về nữa.
    Bây giờ sang câu chuyện thứ ba.
     
  3. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ ba: [FONT=&quot]THIỀN SƯ HA KÔ IN[/FONT]



    Thiền sư Ha Kô In (nghĩa chữ Nho là Bạch An) được những người chung quanh ca tụng là một người sống cuộc đời trong sạch. Một gia đình người Nhật bán thực phẩm gần nơi Ha Kô In ơ, có cô con gái đẹp. Bất ngờ một hôm cha mẹ cô gái khám phá ra cô có thai. Việc này làm cha mẹ cô nổi giận, cô không chịu thú nhận người đàn ông cô chung đụng là ai. Nhưng sau bao nhiêu là phiền phức, cuối cùng lại là tên Ha Kô In. Phẫn nộ vô cùng cha mẹ cô gái đến ngay vị thầy này, Ha Kô In chỉ thốt lên vỏn vẹn hai tiếng “Thế à!” Rồi thôi.
    Sau khi đứa bé sinh ra nó được mang tới trao cho Ha Kô In. Lúc đó Ha Kô In đã mất hết danh dự, nhưng viêc này không làm ông buồn. Ha Kô In săn sóc đứa bé rất tử tế. Ha Kô In xin sữa của những bà mẹ hàng xóm và những đồ dùng cần thiết cho đứa bé. Một năm sau cô gái không còn chịu đựng được nữa. Nàng nói sự thật với cha mẹ nàng, rằng nguời cha thực sự của đứa bé không phải là Ha Kô In, mà là một thanh niên bán cá ngoài chợ. Lập tức cha mẹ cô gái đến ngay Ha Kô In xin Ha Kô In tha lỗi. Chuyện xin lổi dài dòng và xin đem đứa bé về. Ha Kô In ưng thuận. Khi trao đứa bé lại, Ngài cũng chỉ thốt lên hai tiếng “Thế à!”

    Câu chuyện này nói quá đủ, nhiều khi không cần phải giảng thêm. Tấm gương của Ngài đã nói lên quá nhiều điều. Chúng ta chỉ cần so sánh, là chúng ta được bao nhiêu phần so với cái hạnh nhẫn nhục của Ha Kô In thôi. Nếu có một người chỉ trích chúng ta, thì chúng ta làm sao? Chúng ta cải chính, chúng ta phản ứng. Đó là mức độ nhẹ. Còn nếu nặng hơn thì chúng ta gây lộn. nặng hơn nữa đòi đánh lộn, nặng hơn nữa thưa kiện v.v... nghĩa là đủ thứ chuyện. Thí dụ như ai nói mình cái gì thì mình nói không trước hết. Mình thuờng mắc cái bệnh đó. Là, mình luôn luôn cải chính, mình dành cái tốt cho mình, chứ mình không thể bình thản khi người ta dành cho mình tiếng xấu. Thật ra một Thiền sư tu hành thanh tịnh trong sạch mà bị gán cho cái tiếng là lấy con gái người ta có chửa, thì ta thấy cái tai tiếng này không phải là vừa. Đó là cái mà sự nghiệp một đời người sụp đổ, nhất là đối với người tu hành. Trong khi chúng ta chỉ cần bị một chỉ trích sơ sơ đã động lòng. So với Ngài, Ngài Bạch An phải chịu đựng cả cái sự nghiệp sụp đổ mà Ngài không thèm cãi, Ngài chỉ nói “Thế à!” và bình thản nhận nuôi đứa bé đàng hoàng, với cái tâm từ bi, không phải thắc mắc. Bài này không cần phải giảng, chỉ nhắc rằng từ đây về sau, nếu có ai dành cho mình cái tiếng không hay. Thì mình cũng chỉ cần nói hai tiếng “Vậy sao !”
    Bây giờ chúng ta qua câu chuyện thứ tư.
     
  4. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ tư: [FONT=&quot]VÂNG LỜI[/FONT]



    Những buổi nói chuyện của Bankei không những chỉ có những Thiền sinh mà còn có cả những người thuộc các cấp bậc và các môn phái khác theo dõi.
    Bankei không bao giờ trưng dẫn kinh điển hay đắm mình trong các cuộc tranh luận có tính cách học giả; cho nên những lời Bankei nói ra, đều trực tiếp từ tâm hồn của ông đến những kẻ lắng nghe ông nói.
    Số cử tọa đông đảo của Bankei khiến một tu sĩ môn phái Nichuen nổi giận, bởi vì những đệ tử của ông bỏ ông để theo nghe Bankei giảng Thiền.
    Tu sĩ Nichuen này bèn đến Thiền viện của Bankei với tư tâm định tranh luận cùng Bankei. Tu sĩ kêu lên “Này Thiền sư. Xin chờ một chút. Bất cứ ai kính trọng ông cũng nghe theo lời ông cả. Nhưng một người như tôi đây không kính trọng ông đâu. Làm sao ông có thể khiến tôi vâng lời ông được.”
    Bankei nói “Hãy đến đây, tôi sẽ chỉ cho anh thấy.”
    Một cách kiêu hãnh, tu sĩ xô vẹt đám đông để lấy đường đến Bankei.
    Bankei mỉm cười “Hãy qua bên trái tôi.”Tu sĩ vâng lời.
    Bankei nói “Không, nếu anh sang bên phải tôi, thì chúng ta có thể nói chuyện hay hơn. hãy bước sang đây.” Tu sĩ kiêu hãnh bước qua bên phải Bankei. Bankei nói “Anh thấy không. Anh đang nghe theo lời tôi và tôi nghĩ rằng anh là một người rất hiền ngoan. Bây giờ anh hãy ngồi xuống đó nghe đi.”


    Câu chuyện này có mấy ý. Cái ý thứ nhất là tuy là người tu nhưng mà nhiều khi mình vẫn hay ganh tị trước sự thành công của người khác. Ý thứ hai là một người chưa có sức tự chủ vẫn có thể bị người khác sai khiến.
    Bây giờ thầy nói ý thứ nhất trước. Trong con người mình luôn luôn có một bản năng, cái khuynh hướng rất tự nhiên là hay ganh tị trước sự thành công của người khác. Một nhà tâm lý người Mỹ, họ gửi trong cuốn phim “Bản năng tự nhiên” cũng nói như thế này “Ngay cả người mà mình ngưỡng mộ, cũng là người mà mình ganh tị.” Khi thầy nghe câu nói đó, thầy giật mình. Thầy nhận thấy đây là lời nhận xét về tâm lý rất sâu sắc. Mà thật đúng như vậy. Cả những người mà mình kính trọng, mình ngưỡng mộ, cũng là người mà mình ganh tị. Một điều rất là lạ, cho nên về sau, khi mình kính trọng một người nào, đôi khi có lẫn cái ganh tị đi theo. Bởi vì người đó đang thành công. Họ có những điều tốt đẹp mà mọi người qúi mến. Chính mình cũng phải qúi mến, nhưng khi mình qúi mến, mình cũng thầm có một sự ganh tị bí mật bên trong. Đó là điều rất là lạ, mà không phải là sai, đó là điều rất là hay.
    Trong giới tu sĩ cũng vậy, giữa phái này với phái kia vẫn có sự ganh tị, vẫn có sự công kích. Như vậy thật không hay, mình có thể bổ sung những điều mà phái khác chưa hoàn thiện; nhưng mình phải biết công nhận cái hay của họ. Chứ không phải vì ganh tị mà mình chỉ chú ý công kích chỉ trích những điểm dở của họ mà không biết khen ngợi những điểm hay của họ. Đó là lòng ganh tị.
    Còn người không ganh tị, mình bình tâm, mình thấy cái hay của người ta. Còn điểm mà người ta chưa đúng, thì mình đóng góp một cách nhã nhặn. Đó là tư cách của người biết tu.

    Còn cái ý thứ hai là, vị tu sĩ này đưa ra cái tiền đề là ông ta không kính trọng thầy Bankei nên ông không nghe lời. Khi thầy Bankei bảo tu như thế này, tu như thế kia, ông ta không nghe lời. Nên ông ta thách Ngài có thể sai khiển được ông ta. Ngài Bankei biết, nên Ngài khích ông ta một câu là ông ta nghe lời. Ngài nói rằng “Hãy đến đây, ta sẽ nói chuyện hay hơn.” Nghĩa là Ngài nói như thể là Ngài sẵn sàng đối thoại bình đẳng với ông ta. Lúc đó ông ta cảm thấy kiêu hãnh, cảm thấy là trước bao nhiêu đông người, ông ta có dịp đối thoại bình đẳng với Ngài, nên ông ta kiêu hãnh. Không ngờ ông lọt vào bẫy của Ngài. Thế là Ngài bảo ông đi tới thì ông đi tới, kêu bước qua bên trái thì ông bước qua bên trái, kêu bước qua bên phải thì ông bước qua bên phải. Thế là Ngài kết luận “Như vậy là ông đã nghe lời tôi đến ba lần” Bởi vì Ngài bảo ông làm cái gì, ông đều làm cái nấy. Bởi vì Ngài lừa là lừa cái ngã của ông. Ông ta đang kiêu hãnh, càng muốn chứng tỏ mình là người không kính trọng, không vâng lời. Đó là cái ta. Mà khi đã có cái ta rồi thì Ngài chỉ cần dùng một cái để kích động cái ta đó lên, là ông ta mất tự chủ ngay. Vì mất tự chủ nên Ngài sai đâu, ông ta làm đó. Đó là cái mà chúng ta phải để ý. Trong đời sống cũng vậy, chúng ta đừng để cái ngã của mình nó lừa mình. Như vậy mình mới có thể bình tĩnh, khách quan, làm chủ được mình, không bị người khác sai khiến. Còn mình có cái ngã rồi, thì chẳng những chính mình gạt mình mà người khác còn có thể gạt mình nữa.
    Bây giờ ta sang câu chuyện thứ năm.
     
  5. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ năm:

    [FONT=&quot] NẾU YÊU, HÃY YÊU CÔNG KHAI[/FONT]

    Hai chục nhà sư và một ni cô tên là Eshun theo thực tập thiền định với một nhà sư nọ. Mặc dù đầu đã cạo trọc, y phục tầm thường, Eshun vẫn rất xinh đẹp. Nhiều nhà sư thầm yêu Eshun.
    Một người trong bọn họ viết thư tỏ tình với Eshun hẹn gặp mặt riêng. Eshun không trả lời.
    Ngày hôm sau, sau khi Thiền sư giảng bài cho mọi người xong, Eshun đứng dậy, hướng về người đã viết thư cho mình nói “Nếu thật anh yêu tôi nhiều lắm, thì hãy đến ôm tôi đi.”


    Câu chuyện đến đó là hết, không một lời giải thích gì nữa. Thế là nó gây ra đủ thứ hiểu lầm. Đến đỗi mà có người cho rằng, ngay cả ôm cũng là Thiền! Mà rồi khi người ta hỏi tại sao ôm cũng là Thiền? Tu sao lại ôm? Thì được giải thích là ôm thì cứ biết rằng mình ôm thôi, cũng là Thiền! Vì người xưa đã để lại những câu chuyện thâm thúy quá, cô đọng quá, mà không giải thích.
    Câu chuyện này chứng tỏ sức hiểu đạo của Eshun, một người rất là sâu sắc. Cô đẹp mà không sa ngã trong tình cảm mà theo học Thiền, đầu cạo trọc, sống giữa một số người nam mà vẫn bình tĩnh. Đây là người rất bản lĩnh. Khi nhận được thư tỏ tình, cô không thèm trả lời. Tức là cô không có cảm tình lại. Nhưng đợi trước mặt đông người, cô nói công khai chuyện đó ra. Chuyện công khai, cái ý nghĩa nằm ở chỗ này. Là chuyện tình cảm riêng tư là chuyện thích hợp trong bóng tối, nếu đem ra ánh sáng thì nó tan biến liền. Cho nên Eshun muốn đập tan tình cảm ông sư này đi, nếu như cô gặp riêng để nói thì cũng vẫn là trong bóng tối, thì cái đó nó vẫn không hết; hoặc là cô viết thư riêng khuyên ông ta thôi đừng yêu tôi nữa, lo tu đi thì cũng không hết, vì vẫn còn trong bóng tối. Nên cô đợi lúc ánh sáng, công khai, chỗ đông người, cô bảo “Anh viết thư nói thương tôi, nếu như anh thật thương tôi thì đến ôm tôi đi.” Câu chuyện dừng ở đây, không kể nữa. Nhưng ta biết là tình cảm của ông kia sẽ biến mất. Vì cái gì được phơi ra ánh sáng, nó sẽ biến mất.
    Câu chuyện này chỉ có vậy nên nó cũng có gây ra nhiều sự hiểu lầm. Họ cho rằng, à ôm cũng không có lỗi, vẫn tu được. Có người hỏi một ông thầy “Ôm thì làm sao tu được?” Thì được trả lời “Ôm mà biết mình ôm là tu được.”
    Câu chuyện này, thầy cần phải nói thêm vì không nói thêm thì sẽ có nhiều người không chịu tu. Là những người cư sĩ, còn sống đời sống gia đình. Nhiều người đến đây, khi thầy khuyên họ ngồi Thiền. Thì trong thâm tâm họ rất ngại, vì trong đời sống vợ chồng còn phải có vấn đề chăn gối. Họ không nói ra, vì chuyện đó tế nhị quá, họ không tiện hỏi thầy. Nhưng mà thầy biết được ý định của họ, nên thầy mới giải thích luôn. Thầy nói rằng, trong giai đoạn đầu của tu Thiền, không đòi hỏi phải ăn chay trường, cũng không đòi hỏi phải tuyệt dục. Tức là vẫn có thể sống đời sống vợ chồng bình thường, nhưng mà cố gắng hai vợ chống cùng tu, cùng sắp xếp giờ ngồi Thiền ở đầu hôm và cuối hôm; và hãy xem nó như cách vệ sinh thần kinh. Nghĩa là cái dưỡng sinh trong đời sống chứ đừng nghĩ đến điều gì cao siêu hơn. Miễn làm sao áp dụng đúng phương pháp để nhiếp tâm cho được thanh tịnh. Chứ giai đoạn đầu không bắt buộc ăn chay trường hẳn, cũng không bắt buộc phải tuyệt dục. Nhưng khi cả hai vợ chồng cùng tiến tu sâu, cái sức định đã có, thì lúc đó tự nhiên mình sẽ thấy rõ cái ý nghĩa cần phải ăn chay, cần phải tuyệt dục. Lúc đó tự nhiên mình đòi hỏi phải tiến lên giai đoạn cao hơn, bởi vì đến giai đoạn cao rồi mà mình vẫn chưa ăn chay, chưa tuyệt dục thì mình sẽ đứng lại không tiến xa nữa. Nhưng lúc đó, mình làm việc đó rất dễ dàng. Tức là ăn chay rất dễ dàng, tuyệt dục rất dễ dàng. Do đã có sức định, còn trước đó, cũng chưa cần thiết lắm, nên không phải bắt buộc, đừng có ngại. Tuy nhiên khi mình còn những vấn đề đó, thì phải tự công nhận rằng mình còn dở, chứ đừng có biện minh. Ví dụ như mình còn phải ôm, thì phải biết rằng mình còn dở, chứ đừng có lấy cái lý Thiền ra biện minh, ngụy biện, chống chế là không sao, tuy tôi ôm nhưng cũng Thiền, tôi Thiền trong lúc ôm. Đó là sai, là vô tình phỉ báng Phật Pháp. Hễ mình còn ôm thì phải tự nhận là mình còn dở, chưa bỏ được, khi nào mà tâm mình có sức định, mình vượt qua được, thì là mình đã tiến được.
    Bây giờ ta qua câu chuyện thứ sáu.
     
  6. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ sáu: [FONT=&quot]KHÔNG CÓ YÊU THƯƠNG TỬ TẾ[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] Câu chuyện này không biết bản tiếng Anh viết như thế nào mà ông Đỗ Đình Đồng dịch lại thì nó không đúng như tạng của chữ Nho bên Tàu. Để thầy đọc nguyên văn trong bản dịch, rồi thầy sẽ kể câu chuyện đúng theo tục tạng.[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]


    Một bà lão Trung Hoa giúp đỡ một nhà sư hơn hai mươi năm, bà dựng cho nhà sư một căn lều và nuôi ông ăn uống đầy đủ trong lúc ông Thiền định.
    Cuối cùng bà muốn biết nhà sư đã tiến bộ như thế nào trong suốt thời gian qua. Muốn biết rõ ràng, bà lão nhờ đến một cô gái giàu dục vọng, bà bảo cô gái, hãy đến ông ta rồi bất ngờ hỏi ông “Làm gì?”
    Cô gái đến viếng nhà sư và vuốt ve một cách rất tự nhiên rồi hỏi nhà sư đối xử với mình như thế nào?
    Nhà sư đáp một cách thơ mộng “Một cây cổ thụ mọc trên núi đá lạnh lẽo vào mùa đông, không nơi nào là không ấm áp.”
    Cô gái trở về, kể lại tất cả những gì mà nhà sư đã nói.
    Bà lão giận dữ than “Nghĩ ta đã nuôi dưỡng hắn hơn hai chục năm trời, đành rằng hắn không thèm chú ý đến sự đòi hỏi của cô, hắn không có ý định cắt nghĩa những điều kiện của cô, hắn không cần đáp ứng sự đam mê; nhưng ít nhất hắn cũng phải tỏ ra có chút ít từ tâm chứ!”
    Lập tức bà lão đến đốt rụi căn lều của nhà sư.
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] Câu chuyện này không có ý nghĩa gì hết. Để thầy kể lại nguyên tác trong tạng chữ Nho. Là đúng là bà lão cũng nhờ một cô cháu gái đến hỏi nhà sư “Làm gì?” Nhà sư đáp thế này “Khô mộc ỷ hàn nham, tam xuân vô noãn khí.” Tức là cây khô dựa vào núi lạnh ba năm không có một chút hơi ấm.” Khi cô gái về thuật lại, bà lão đến đốt cái chòi, không nuôi ông nữa, cho rằng ông tu sai, không đúng với con đường của Thiền tông.[/FONT]

    Câu chuyện này, thứ nhất nói là bà lão này đã ngộ đạo, bà mới dám đánh giá được ông sư này đã tu đúng hay chưa. Khi nghe ông sư nói một câu bà biết ngay rằng ông đã tu sai. Trong khi mình nhìn nhà sư đó như thế nào? Mình rất là phục, phải vậy không? Trong một căn chòi vắng vẻ, cô gái tới mời gọi, mà bình thản đáp cái câu, nói lên công phu, nói lên cái tâm của mình; cái tâm của mình như cái cây khô rồi, nó dựa vào núi lạnh suốt ba năm nay, không có một chút máy động nào hết. Hoàn toàn bất động, người mà tu đến trình độ đó, là tâm đã lạnh lẽo bất động không còn bị lôi cuốn bởi dục vọng bên ngoài. Một người như vậy, mình phải làm sao? Mình rất là nể, phải vậy không? Vậy mà bà già không hài lòng, cho rằng ông tu sai, nên bà đốt chòi, đuổi ông đi.
    Câu chuyện này có liên quan tới Thiền, thầy phải giải thích thêm. Thật ra nhà sư không sai. Có điều ông chưa đến tiến thêm một giai đoạn nữa thôi. Ông cần một con người giúp ông vượt qua giai đoạn đó. Bởi vì người trước khi đại ngộ, đều phải trải qua giai đoạn rất là thụ động; cái tâm trong cái định rất là thụ động, không còn ham muốn đòi hỏi gì nữa, không còn khởi động gì nữa; nhưng chưa phải là sự giác ngộ thật sự. Nó đang trong trạng thái thụ động của cái “Không vô biên xứ”.
    Hôm trước thầy giảng Thiền, thầy đã giảng đến “Không vô biên xứ”. Người vào được cái định này thì họ trở nên thụ động. Nếu họ vượt qua được “Không vô biên xứ” để chứng được “Thức vô biên xứ”, lúc đó cái biết phủ trùm khắp nơi thì họ trở lại rất là linh hoạt, rất là sáng suốt. Lúc này mới đúng là chỗ ngộ của Thiền tông. Còn trước đó, họ luôn luôn ở trong trạng thái thụ động. Đây là điều không thể trách, nên nếu bảo là sai thì không đúng. Tuy nhiên nếu đốt cái chòi để kích động ông, để làm cho ông đừng thỏa mãn với cái chỗ chứng hiện tại, để ông vượt qua thêm một giai đoạn nữa, thì đúng. Chứ nếu bảo rằng là sai, là không phải. Ông đi đúng, nhưng chưa có người giúp cho ông để ông vượt qua thêm. Chứ như đến giai đoạn thụ động đó, là được xem như có kết quả rồi, tốt rồi.
    Sau này có vài Thiền sư viết thêm, không biết là chuyện có chính xác hay không. Nói rằng ông đi lang thang một thời gian, ông hiểu được cái sai của ông. Ông đến xin bà nuôi thêm mấy năm nữa. Ông tu được mấy năm thì bà lão cũng sai cô cháu gái đến hỏi ông lần nữa. Lần này ông trả lời là “Trời biết, đất biết, tôi biết, cô biết, đừng cho bà già đó biết.” Cô gái về thuật lại, bà lão hài lòng, công nhận là ông đã ngộ đạo.
    Cái chỗ này là cái biết, cái “Trời biết, đất biết, tôi biết, cô biết...” nghĩa là cái biết. Nghĩa là ông đã vượt qua được cái “Không vô biên xứ” để chứng được cái “Thức vô biên xứ”, cái biết phủ trùm khắp nơi. Đây là đạt đúng chỗ ngộ của Thiền tông. Chỉ vậy thôi, không có gì lạ.
    Bây giờ đến câu chuyện thứ bảy.[FONT=&quot][/FONT]
     
  7. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ bảy: [FONT=&quot]THÔNG BÁO[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]


    Vào ngày cuối cùng của đời mình Tanzo viết sáu chục tấm thiệp bảo một đệ tử gửi đi rồi ông qua đời. Thiệp viết “TÔI ĐANG RỜI BỎ TRẦN GIAN NÀY. ĐÂY LÀ LỜI CÁO PHÓ CỦA TÔI. TANZO. 27 THÁNG 7 NĂM 1872”


    ... không phiền ai hết, viết một cách rất bình tĩnh. Câu chuyện này không nói gì nhiều. Nghĩa là xuyên cái việc làm của thầy Tan Jô, chúng ta thấy được thái độ tự tại của Ngài trước việc sống chết. Ngài làm một chuyện hài hước là trước khi chết, viết thiệp báo cho nhũng người thân biết. Ngài viết sáu chục tấm thiệp như vậy. Một việc làm có vẻ như vui đùa, nhưng nói lên tâm hồn của một người tự tại trước việc sống chết. Ngài biết trước cái ngày Ngài sẽ mất, đồng thời Ngài bình thản, vui đùa với nó, không có thái độ sợ hãi, tiếc nuối, ham sống sợ chết. Đây là tư cách của người tu, mà người tu Thiền là phải đạt được trình độ như thế này. Là, đối với việc sống chết không có bận tâm.
    Sang chuyện thứ tám.
     
  8. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ tám: [FONT=&quot]ĐẠI LÃNG[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]


    Một tay đô vật nổi danh tên là Ô Na Mi, nghĩa là Đại Lãng (con sóng lớn), sống vào đầu thời Minh Trị. Ô Na Mi mạnh vô cùng và biết thuật đấu vật. Trong những cuộc đấu riêng tư anh ta đã đánh bại luôn cả thầy, nhưng anh ta bị học trò của mình ném xuống đài trong một cuộc đấu công khai. Anh ta cảm thấy xấu hổ vô cùng. Ô Na Mi thấy cần sự giúp đỡ của một Thiền sư. Ha Kô In (Thiền sư Bạch An trong câu chuyện “Thế à!”) một Thiền sư lang thang đang dừng bước nơi một ngôi đền nhỏ ở gần đấy. Vì thế Ô Na Mi đến viếng Ha Kô In và nói cho Ha Kô In nghe chuyện buồn của mình. Ha Kô In khuyên “Tên anh là Đại Lãng, vậy tối nay hãy ở lại đây, hãy tưởng tượng anh là những con sóng to lớn đó. Anh sẽ là một tay đấu vật không còn sợ hãi nữa. Anh sẽ là những con sóng khổng lồ đó, đang đùa quét hết tất cả mọi vật trước mặt; đang nuốt chửng tất cả con đường của chúng. Hãy làm như thế và anh sẽ là một tay đấu vật vô địch trên đất này.
    Ha Kô In rút lui. Ô Na Mi ngồi trầm tư, cố gắng tưởng tượng mình là những con sóng. Ô Na Mi nghĩ đến nhiều vật khác nhau rồ từ từ anh ta chuyển sang cảm giác thấy sóng càng lúc càng nhiều. Đêm càng khuya, sóng càng lớn. Chúng quét sạch tất cả những bông hoa cắm trong chiếc độc bình, ngay cả tượng Phật trên bàn thờ cũng bị ngập lụt. Trước khi trời sáng ngôi đền chỉ còn là một cơn thủy triều dâng lên của biển cả mênh mông.
    Sáng hôm sau Ha Kô In tìm thấy Ô Na Mi còn đang Thiền định, trên mặt anh ta thoáng nhẹ một nụ cười. Ha Kô In đập nhẹ vào vai nhà đô vật “Bây giờ thì không còn gì có thể quấy rầy anh được nữa. Anh là những con sóng đó, anh sẽ quét sạch mọi vật trước mặt anh.” Ngay hôm đó Ô Na Mi vào cuộc đấu trắc nghiệm, anh ta đã thắng. Sau đó ở Nhật, không ai đánh bại anh ta được.

    Câu chuyện này hay nhưng cũng là gây hiểu lầm. Những câu chuyện trong “Góp nhặt cát đá” thường là gây hiểu lầm.
    Cái ý thứ nhất của câu chuyện này là nói đến sức mạnh của tâm. Chúng ta có cái thể chất khỏe mạnh, đó là một điều kiện; nhưng nó cũng cần sức mạnh của tâm nữa. Sức mạnh mà, cái sức định thấy mình như một con sóng, càn quét tất cả mọi vật trước mặt. Khi mà có sức mạnh của tâm rồi thì bước ra trận đấu, thì tự nhiên người mình có sức mạnh vô hạn như vậy. Nên nguyên tắc của khí công, nội công đều dựa vào nguyên tắc của tâm linh này: lấy cái sức mạnh của tâm làm chính. Ha Kô In là một Thiền sư, nên ông biết vai trò của tâm trong việc phát huy sức mạnh của con người. Nên Ngài đã dạy cho Đại Lãng một phương pháp ám thị để mà tạo nên sức mạnh.
    Tuy nhiên ở đây cần nói là, Ô Na Mi là người có sức định bẩm sinh. Là chỉ cần qua một lời dạy, Ô Na Mi đã đạt được cái sức định qua cái sức tưởng. Muốn tưỏng ra điều này phải có sức định, chứ không có sức định, ngồi tưởng không nổi. Không có sức định, mình ngồi tưởng một lát sẽ bị nhức đầu, mà rồi những tư tưởng khác nó lãng đãng kéo lại. Nó ngăn cản, làm cho mình không tưởng được. Nếu Ô Na Mi là người có nhiều vọng tưởng thì ngồi đó cố tưởng mình là con sóng, tưởng không ra. Vì không có sức định thì không tưởng ra được như vậy. Mà nếu như có tưởng chập chờn rồi thì cũng bị những ý tưởng khác kéo vào, xóa mất, rồi lại phải giật mình nhớ lại; đó là người không có sức định Nhưng khi Ô Na Mi là người có sức định. Trong những câu chuyện của Phật Giáo, còn kể rất nhiều các trường hợp. Như có người ngồi tưởng mình là một khối vàng; thì ngay lập tức lần lần nhập vào định rồi, người ta đi ngang thấy đó là một đống vàng, một pho tượng bằng vàng, người ta bưng lên, người ta chở xe đem về. Tới chừng xuất định ra, trở về một con người bình thường. Hoặc là trong Lăng Nghiêm có câu chuyện, có một vị ngồi tưởng mình là nước, thì một chú tiểu đi ngang nhìn vô phòng thấy phòng toàn là nước không, nên đem cục ngói quăng vô trong. Hoặc như Thiền sư Hương Hải, trong một câu chuyện kể lại, khi ngồi Thiền Ngài thấy ma kéo tới phá, Ngài mới tưởng Ngài là lửa, lửa đốt sạch cả Ngài và cả thế giới này; thì ma bị ngọn lửa đó phá tan, lui ra. Cái sức tưởng của con người nó như vậy. Còn nhiều, còn nhiều nữa. Người có tâm lực họ đều dùng sức tưởng. Thí dụ như một nhà khí công, họ đưa tay ra mềm mại, nhưng họ tưởng đó là khúc cây, rồi không ai bẻ được, dù năm bảy người bẻ cũng không được. Nhưng phải do cái định. Tâm có cái định thì sức tưởng mới thành kết quả. Còn nếu không có sức định thì sức tưởng càng lúc càng loạn, mà còn bị nhức đầu hoặc điên. Với lại tu bằng cách tưởng thì lúc đầu nó nhanh, có hiệu quả. Nhưng về sau nó sinh ra cái động trong vô thức, nó dễ sinh ra nhiều cái ảo tưởng nguy hiểm. Cho nên cách dùng sức tưởng này, nó là con dao hai lưỡi. Nó được lợi trước mắt, nhưng nó hại về lâu về dài. Có người ngồi Thiền, tưởng như mình thấy Phật, tưởng cảnh giới Cực Lạc có hoa sen. Hoặc là hoa sen mọc trước biển, v.v... đều là dùng cái tưởng để tu. Thì bước đầu thường làm cho mình thích thú mình tu; nhưng về lâu về dài sinh ra cái động trong tâm hoặc là cái động thô, làm cho mình nhức đầu, bị điên. Hoặc là những cái động tế, sinh ra ảo tưởng trong vô thức, cũng bị điên, như vậy không hay.
    Nên nhiều người đọc câu chuyện Đại Lãng này nghĩ là, à, yếu chỉ của Thiền là ngồi và tưởng; nên mỗi người tìm một đề tài để họ tưởng. Có người tưởng ánh mặt trời, có người tưởng ánh mặt trăng, có người tưởng nước mênh mông, v.v... họ cứ dựa vào câu chuyện này để lập ra một pháp tu mà không có kinh nghiệm, không có người thấy hướng dẫn. Cho nên rất là nguy hiểm. Cho nên trong “Góp nhặt cát đá” toàn những câu chuyện hay thâm thúy, nhưng rất dễ gây hiểu lầm. Đây là lý do tại sao thầy phải giảng bộ tập truyện này.
    Bây giờ sang chuyện thứ chín.
     
  9. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Tạm thế đã, rùi sẽ úp từ từ các phần sau. Các bác ủng hộ nhé!
     
  10. Nobel Thành Viên Cấp 1

    Hay lắm bác Jimmy_vnu, mấy bài giảng nghĩa cho "Góp nhặt cát đá" rất là hay và bổ ích.
     
  11. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    [FONT=&quot] NGƯỜI TA KHÔNG THỂ ĂN CẮP MẶT TRĂNG[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] R[/FONT]

    i Ô Ô Cam là một Thiền sư sống cuộc đời đơn giản nhất căn lều nhỏ dưới chân núi. Vào một buổi chiều, có một tên trộm viếng lều của Li Ô Ô Cam, lục soát để lấy đồ, Ri Ô Ô Cam bắt gặp hắn đang lục soát nói “Có lẽ anh từ xa đến đây để viếng tôi, không lẽ anh trở về tay không sao? Hãy lấy quần áo của tôi để làm một món quà.” Tên trộm ngạc nhiên. hắn lấy quần áo của Ri Ô Ô cam rồi tẩu thoát. Ri Ô Ô Cam ngồi trần truồng, ngước mắt nhìn trăng thơ mộng “Hỡi người bạn nghèo khổ, ước gì ta có thể cho anh mặt trăng đẹp này!”

    Câu chuyện này thầy không biết có thật hay không, nhưng cũng có thể là có thật. Cũng có thể có ông Thiền sư tu đắc đạo như vậy. Có một bộ quần áo duy nhất mà dám cởi cho người ta luôn. Trên đời, chuyện gì cũng có thể xảy ra, nên chuyện này cũng có thể là chuyện thật. Chuyện được viết lại thì cũng có thể là chuyện thật. Một người sống với trình độ như vậy, thì mình thấy là vị này cũng thật là giải thoát; tâm hồn không còn vướng bận chuyện gì trên trần gian này nữa. Sống trong một căn lều nhỏ, đã là lều mà còn là lều nhỏ nữa; và chỉ có một bộ quần áo duy nhất mà dám cởi cho luôn. Chúng ta không thể nào làm được cái hạnh như thế này.
    Nhưng ý câu chuyện là nằm ở chỗ này, là nhìn mặt trăng thơ mộng mà không cho được. Mặt trăng này có hai ý. Thứ nhất là giá trị tinh thần. tên trộm có lấy thì chỉ lấy được mảnh vật chất. Mà món vật chất ấy là tạm bợ, không tồn tại lâu dài được. Trong khi cái niềm vui tinh thần, trong cái việc chiêm ngưỡng thiên nhiên thì không thể nào ông dạy cho tên trộm đó được. Không làm sao cho tên trộm biết hưởng cái thanh bình của thiên nhiên, hay thưởng thức cái vẻ đẹp trong nghệ thuật thì ông không cho được.
    Mặt trăng còn chỉ cái Phật tánh, chơn tâm nữa; nghĩa là cái ngộ trong tâm linh thì không ai có thể lấy đi được. Cái câu chuyện này nói chuyện trộm, chuyện cho; nhưng sự thực cái chính của nó nói thế này: cái vật chất của mình có thể mất, cái thể xác của mình có thể mất, có thể bị lấy đi được, nhưng cái chỗ giác ngộ của mình bên trong không ai có thể ăn cắp được. Đó là chỗ có giá trị vĩnh viễn, đó là giá trị thật sự mà mình không sợ bị mất đi nếu mình tìm được nó. Đó là tài sản, là chỗ quí giá nhất.
    Câu chuyện này tuy ngắn, nhưng thâm thúy. Nên chúng ta cũng vậy, chúng ta có đồ quí, đôi khi cũng còn bị trrộm lấy đi, hay bị rơi mất, hay bị để quên, v.v... Nhưng nếu chúng ta tìm được một cái giác ngộ trong tâm mình thì không ai có thể lấy đi được. Nước không cuốn trôi, lửa không thể đốt cháy, trộm không thể ăn cắp; mà mình sống được với cái tâm giác ngộ đó thì cái hạnh phúc nó tràn đầy.
    Qua câu chuyện thứ mười.
     
  12. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    [FONT=&quot]BÀI THƠ CUỐI CÙNG CỦA HOSHIN[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] Thiền sư Hoshin đã sống ở Trung Hoa nhiều năm, rồi Hoshin trở về miền Đông Bắc Nhật Bản. Ở đây Hoshin dạy nhiều đệ tử, khi thấy mình đã già lắm rồi Hoshin kể lại cho các đệ tử một câu chuyện mà Hoshin đã nghe được lúc còn đang ở Trung Hoa. Câu chuyện như thế này:[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] Vào ngày 25 tháng Chạp một năm nọ, Tokufu thấy mình đã quá già và biết mình sắp chết, ông nói với các đệ tử “Ta sẽ không sống đến sang năm. vậy các anh hãy cư xử tốt với ta trong năm này đi.” [/FONT]
    [FONT=&quot] Các đệ tử tưởng ông nói đùa, nhưng Tokufu là một bậc thầy có tấm lòng đại độ, nên mỗi người trong bọn họ thay phiên đãi tiệc Tokufu vào những ngày cuối năm. [/FONT]
    [FONT=&quot] Vào một buổi chiều năm mới, Tokufu kết luận “Các con đã đối xử tốt với ta. Ta sẽ giã từ vào chiều mai khi tuyết ngừng rơi.” [/FONT]
    [FONT=&quot] Các môn đệ đều cười cho rằng Tokufu đang đóng trò và nói chuyện vô lý, bởi vì đêm nay trời rất quang đãng thì làm gì có tuyết rơi.[/FONT]
    [FONT=&quot] Và ngày kế, các đệ tử không tìm thấy Tokufu ở đâu cả. Họ chạy vào Thiền phòng. Tokufu đã qua đời ở đó.[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] Hoshin, người đã kể lại câu chuyện này, nói với các đệ tử mình “Một Thiền sư không cần phải nói trước việc từ giã cõi đời của mình. Nhưng nếu ông ta thực sự muốn làm thế, ông ta có thể làm được.” [/FONT]
    [FONT=&quot] Một đệ tử hỏi “Thầy làm được không?” [/FONT]
    [FONT=&quot] Hoshin đáp “Được.” Ta sẽ nói cho các con biết những gì ta có thể làm được trong bảy ngày sắp tới ngay từ bây giờ đây.” [/FONT]
    [FONT=&quot] Không một đệ tử nào tin lời Hoshin. hầu hết họ đã quên hết câu chuyện hôm trước khi ông gọi họ đến quanh mình. [/FONT]
    [FONT=&quot] Hoshin nhắc “Bảy ngày đã qua, thầy đã nói thầy sẽ giã biệt các con. Theo thường lệ, thầy sẽ viết một bài thơ để vĩnh biệt nhưng thầy không phải là thi sĩ, cũng không phải là người viết chữ đẹp. Vậy một anh nào trong các con hãy viết lại những lời cuối cùng của thầy.” [/FONT]
    [FONT=&quot] Các đệ tử cho rằng Hoshin đùa, nhưng một người trong bọn họ bắt đầu viết. Hoshin hỏi “Con sẵn sàng chưa?” Người viết đáp “Vâng, bạch thầy.” Rồi Hoshin đọc: [/FONT]
    [FONT=&quot] “Ta đến từ tánh sáng[/FONT]
    [FONT=&quot] và trở về với tánh sáng.[/FONT]
    [FONT=&quot] Tánh sáng là gì?”[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] Bài thơ là một dòng ngắn gồm bốn hàng như thường lệ. Vì thế người đệ tử nói “Bạch thầy, chúng con là một dòng ngắn.” [/FONT]
    [FONT=&quot] Hoshin hét lên một tiếng “Kaa!” như tiếng gầm của một con sư tử đã chiến thắng, rồi ra đi.[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] Tức là một Thiền sư muốn chết là chết, muốn sống là sống. Biết trước lúc nào mình sẽ chết. Và nếu muốn chết, nhiếp tâm, thu thần lại là nhập diệt luôn. Nên đây cũng là cái đặc biệt của người tu mà kết quả phải rõ ràng thật sự như vậy.[/FONT]
    [FONT=&quot] Ở đây, câu chuyện này có hai ý. cái ý thứ nhất là nói người tu đắc đạo, tự tại trong việc sinh tử. Sống chết tùy theo ý mình. Muốn sống là sống. Muốn chết là chết. Đó là ý thứ nhất.[/FONT]
    [FONT=&quot] Ý thứ hai là bài kệ, và câu trả lới của người đệ tử. Bình thường bài kệ phải có bốn câu. Ở đây Ngài đọc ba câu, Ngài chừa cho đệ tử một câu trả lời xem ai trả lời đúng:[/FONT]
    [FONT=&quot] Ta đến từ tánh sáng[/FONT]
    [FONT=&quot] Và trở về với tánh sáng.[/FONT]
    [FONT=&quot] Tánh sáng là gì?[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot]Câu thứ tư là câu trả lời. Người đệ tử viết chữ, người đó trả lời luôn. “Bạch thầy, chúng con là một dòng ngắn.” Thì Hoshin hét lên một tiếng hài lòng, tức là cuộc đời mình giáo hóa, có được người ngộ đạo, có người hiểu được ý mình. Thế là Ngài nhiếp tâm, tịch, ra đi. Có ai hiểu được? Tại sao nói “chúng con là một dòng ngắn” mà làm cho Ngài Hoshin hài lòng?[/FONT]
    [FONT=&quot] Thầy sẽ không giảng câu này, vì nếu thầy giảng là thầy phản bội Chư tổ. Những bí mật trong nhà Thiền này là để cho những người tu, ngộ đạo tự hiểu. Còn nếu giảng ra là phản bội. Nên thầy không giảng.[/FONT]
    [FONT=&quot] Sang câu chuyện thứ mười một.[/FONT]
     
  13. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    [FONT=&quot]CHUYỆN SHUNKAI[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] T[/FONT]

    uyệt đại mỹ nhân Shunkai có một tên khác là Xuzu, bị bắt buộc phải lập gia đình trái với ý muốn của nàng khi Shunkai còn nhỏ tuổi quá. Sau này, khi cuộc hôn nhân đã kết thúc Shunkai theo học Triết tại một trường Đại học.
    Nhìn thấy Shunkai là phải yêu nàng, luôn luôn bất cứ nơi nào nàng bước chân đến là có kẻ yêu nàng và chính nàng cũng yêu nhiều người. Tình yêu đã đến với Shunkai ở Đại học, và sau này khi Triết học không làm Shunkai thỏa mãn, Shunkai đến viếng một ngôi đền để học Thiền. Nhiều Thiền sinh cũng yêu nàng.
    Toàn thể cuộc đời Shunkai đẫm ướt tình yêu.
    Cuối cùng đến Kyoto, Shunkai mới trở thành một Thiền sinh thật sự. Những sư huynh sư đệ của Shunkai ở một ngôi đền phụ thuộc của đền Kennin đã ca ngợi lòng chân thành của Shunkai. Một người trong bọn họ đã chứng tỏ lòng đồng chí hướng với Shunkai, bằng cách đã giúp đỡ Shunkai trong việc nắm vững căn bản Thiền học.
    Sư trưởng của đền Kennin, Mokurai, có nghĩa là “im lặng sấm sét” là một người nghiêm khắc. Mokurai tự giữ giới luật rất nghiêm trang và muốn các đệ tử cũng làm như mình. Ở nuớc Nhật hiện thời, dù bất cứ nhiệt tâm nào, dường như các tu sĩ đánh mất tinh thần Phật giáo vì họ có vợ. Mokurai thường xách chổi đuổi những người đàn bà nếu ông tìm thấy họ ở bất ciứ nơi nào trong ngôi đền của ông. Nhưng Mu Ku Rai càng quét đuổi nhiều bà vợ đó chừng nào, thì dường như họ càng trở lại nhiều chừng nấy.
    Trong ngôi đền đặc biệt này, bà vợ của tu sĩ trưởng nổi ghen với sự chăm chỉ và sắc đẹp của Shunkai. Nghe các đệ tử ca ngợi sự hành Thiền trang nghiêm của Shunkai, bà vợ của tu sĩ trưởng thấy ngứa ngáy khó chịu.
    Cuối cùng bà phao đồn tùm lum về việc Shunkai với một thanh niên bạn Shunkai. Vì thế anh ta và Shunkai bị trục xuất ra khỏi đền. Shunkai nghĩ, có thể ta đã gây một lỗi lầm về chuyện yêu đương, nhưng bà ấy sẽ không thể ở lại ngôi đền đó được, nếu bạn ta bị đối xử quá bất công như thế.
    Đêm đó, Shunkai đem một thùng dầu hỏa châm lửa đốt rụi ngôi đền đã xây được hai muơi lăm năm này.
    Sáng hôm sau, Shunkai thấy mình bị cảnh sát bắt giữ, một luật sư trẻ thích Shunkai và cố gắng giúp nàng được nhẹ tội. Nhưng Shunkai bảo vị luật sư rằng “Đừng, đừng giúp tôi làm gì. Biết đâu tôi lại quyết định làm một việc khác rồi tôi lại ngồi tu nữa, vô ích.”
    Cuối cùng Shunkai bị tuyên án bảy năm tù. Shunkai lại được một cai tù sáu mươi tuổi thả ra vì ông ta cũng say mê nàng. Nhưng bây giờ người ta xem nàng như một con chim tù, không ai muốn kết giao với Shunkai. Cả đến các Thiền sinh, những người được cho là tin vào sự giác ngộ ngay trong thời này và với thân này. Tất cả đều tránh nàng.
    Shunkai đã nhìn thấy Thiền là một việc và những kẻ theo Thiền lại là một việc khác hẳn hoàn toàn. Những nguời thân thuộc của Shunkai cũng không còn gì với nàng.
    Shunkai trở thành một người bệnh tật, nghèo nàn và yếu đuối. Shunkai gặp một tu sĩ Shinshu (tức Tịnh độ tông) dạy nàng niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà và Shunkai đã tìm được nơi đây, một chút an ủi và thanh bình của tâm hồn.
    Shunkai qua đời khi nàng còn đẹp tuyệt trần và chưa đầy ba mươi tuổi. Shunkai đã viết lại câu chuyện của đời nàng trong một sự cố gắng hữu ích để hỗ trợ cho chính nàng. Một phần nhỏ câu chuyện nàng kể cho một người đàn bà khác ghi lại. Vì thế câu chuyện đã đến tai nhưng người dân Nhật. Những người đã chối từ Shunkai, những người đã phỉ báng và oán ghét Shunkai; bây giờ đọc lại cuộc đời Shunkai với những giọt lệ ăn năn.


    Câu chuyện này hơi dài dòng, có nhiều ý. Thứ nhất là thường thì người đẹp hay dính líu tới chuyện tình cảm, khó tu. Thứ hai là bên Nhật có một phái Thiền là phái Tân Tăng, cho phép tu sĩ có vợ, giống như Mục sư của đạo Tin Lành. Nên câu chuyện này cũng phê phán việc thầy tu có vợ, nhưng vì phái đó họ cho phép. Thứ ba là chuyện mấy người đàn bà hay ganh tị với nhau.
    Câu chuyện dài dòng, nhưng ý chính nằm ở cuối, là khi Shunkai mất niềm tin với Thiền thì nàng còn chút an ủi nơi Tịnh Độ Tông. Tông Tịnh Độ dạy cho người ta niệm danh hiệu Phật A Di Đà, tin rằng Phật A Di Đà sẽ cứu vớt họ khi họ mất, đưa họ về cõi Cực Lạc để sống cuộc sống thanh bình. Đó là một niềm tin, sự hứa hẹn, giống như các tôn giáo khác. Bên đạo Thiên Chúa cũng vậy, hứa hẹn đưa về cõi trời sống với Chúa. Rất nhiều tôn giáo có tín ngưỡng giống như Tông Tịnh Độ, vì tín ngưỡng này không đòi hỏi người ta triết lý nhiều mà chỉ cần người ta có niềm tin, sống đơn giản. Đôi khi cái niềm tin đơn giản không có nhiều lý luận làm cho người ta tìm được sự bình an, niềm vui, một sự an ủi; khi mà người ta không còn gì để bám víu nữa. Trường hợp của Shunkai là vậy. Nàng rất là tin Thiền, nhưng mà rồi thấy những người tu theo Thiền làm không đúng nữa, nàng mất niềm tin, rồi nàng tìm an ủi tạm bợ theo Tông Tịnh Độ.
    Câu chuyện này không phê phán Tịnh Độ Tông mà chỉ nói rằng Tông đó đôi khi cũng có ích lợi với con người đã bế tắc.
    Ta sang câu chuyện thứ muời hai.[FONT=&quot][/FONT]
     
  14. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ muời hai:

    [FONT=&quot]NGƯỜI TRUNG HOA HẠNH PHÚC[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] B[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]ất cứ kẻ nào đến Chinatown ở Mỹ Châu cũng sẽ chú mắt đến những thân tượng một người béo phệ mang một chiếc bị vải bự.
    Những người thương gia Trung Hoa gọi ông ta là “Người Trung Hoa Hạnh Phúc” hay “Ông Phật cười” vì Hoà Thượng này sống vào đời nhà Đường, ông không muốn tự gọi mình là Thiền sư, cũng không muốn thu nhận đệ tử. Cho nên ông thường đi lang thang trên đường phố với một cái bị vải lớn, trong đó ông đựng những món quà như kẹo, trái cây hay hạt dẻ. Ông tặng những món quà này cho những đứa trẻ con vây quanh ông để vui đùa. Ông đã tạo những đường phố thành một khu vườn trẻ.
    Bất kỳ lúc nào ông gặp những nguời hiến mình cho Thiền, ông cũng chìa tay ra nói “Hãy cho tôi một xu” và nếu có kẻ nào ngỏ ý mời ông về một ngôi đền để dạy cho những kẻ khác, ông bèn đáp “Hãy cho tôi một xu”.
    Một lần nọ, ông đang bận việc vui đùa, một Thiền sư khác bất ngờ theo hỏi ông “Ý nghĩa của Thiền là gì?”
    Lập tức vị Hòa Thượng này thả rơi cái bị xuống mặt đất im lặng trả lời. Người kia hỏi “Rồi sự hoạt dụng của Thiền là gì?”
    Lập tức người Trung Hoa hạnh phúc này đu chiếc bị vải lên vai rồi tiếp tục bước đi. (Người hỏi là Thiền sư Thảo Đường, người mà sau này sang Việt Nam lập một phái Thiền gọi là phái Thiền Thảo Đường).


    Đây là câu chuyện, một truyền thuyết mà người Trung Hoa rất tin cho rằng Bồ Tát Di Lặc đã một lần hóa thân thành một vị Hòa Thượng mà không biết gọi tên là gì, nên gọi Ngài là Bố Đại (nghĩa là cái bao bằng vải bố lớn). Ngài có phong cách vui đùa với trẻ con, thường có túi vải, hay tặng quà cho trẻ con, thường vui vui đùa đùa; nhưng thần thông của Ngài thật quảng đại phi thường, ai làm chuyện gì Ngài cũng biết. Khi Ngài hiện nơi này, khi Ngài ẩn nơi kia, không ai lường trước được. Những câu chuyện về Ngài thành cả một kỳ tích, rất là đặc biệt hấp dẫn, mà người Trung Hoa rất tín ngưỡng Ngài. Bởi vì Ngài đã sinh tại Trung Hoa, còn các quốc gia Phật Giáo khác không thờ Ngài, vì không có biết. Mặc dù trong kinh của đạo Phật thì Phật Thích Ca có thọ ký rằng “Sau này sẽ có một vị Phật khác ra đời, gọi là Phật Di Lặc.” Nhưng thời điểm thì người ta chưa xác định được. Thỉnh thoảng có người ta đồn, có Phật Di Lặc ra đời, nhưng đó chỉ là chuyện đồn nhảm, không có thật.
    Theo truyền thuyết, Bồ Tát Di Lặc tuy chưa ra đời làm Phật nhưng Ngài thường hay hóa hiện vào trong cuộc đời với những hình thức mà mình không thể ngờ được, không thể lường được để hóa độ chúng sinh. Thì hiện thân mà Hòa Thượng Bố Đại được coi là một trong những hóa thân của Ngài. Đến lúc Ngài sắp mất, sắp tịch, Ngài mới đọc lên một bài kệ để mà tiết lộ thân phận của Ngài, lúc đó người ta mới biết, người ta mới thờ hình ảnh Phật Di Lặc theo hình ảnh của vị Hòa Thượng Bố Đại này; là mập mạp, mặc áo thì hay hở trần phía trên, đeo cái túi vải, cười toe toét với con nít. Đó là hình ảnh của Ngài.
    Ở đây, câu chuyện này tập trung vào những câu hỏi đáp “Thiền là gì? Ý nghĩa của Thiền là gì?” Thì Ngài buông rơi cái bị xuống mặt đất, im lặng trả lời. Câu trả lời của Ngài là cái hành động buông thõng xuống, im lặng. Thí dụ như mình buông cái phiền não trong lòng xuống, im lặng, không la, không nói. Hay là mình có những suy nghĩ, mình buông xuống như Ngài buông cái túi vải xuống, im lặng, tâm không nói, và miệng không nói. Đó là ý nghĩa của Thiền. Buông hết cái cố chấp thầm kín của mình, bởi vì đôi khi tâm mình không suy nghĩ nhưng cái chấp thầm kín vẫn còn, chưa hết. Người khéo là buông bỏ những thầm kín bên trong xuống, tâm không suy nghĩ. Đó là ý nghĩa của Thiền. Thầy nói toạc ra hết như vầy cũng chưa hết được cái ý nghĩa của Thiền, chỉ khi nào người tu, mới cảm nhận được.
    Còn nói cái dụng của Thiền là gì? Mình đừng tưởng Thiền là sự im lặng, bất động. Hiểu như vậy là hiểu một chiều. Trong sự im lặng bất động đó, Thiền vẫn có sự hoạt dụng. Cho nên nhiều người không hiểu cứ thấy đạo Phật kêu gọi người ta cứ thanh tịnh nội tâm đi, ngồi yên lặng đi. Nói như vậy là tu một cách thụ động, không có tích cực như các tôn giáo khác là bước ra đời làm việc từ thiện xã hội. Không phải vậy. Nói như thế là người chưa hiểu đạo Phật. Cái hành động của đạo Phật phải được đặt trên nền tảng của sự thanh tịnh nội tâm. Làm cái gì mà thiếu sự thanh tịnh nội tâm thì cái đó không phải ý nghĩa của đạo Phật. Cho nên chúng ta không nóng ruột mà chạy ra bên ngoài lo làm việc từ thiện như các tôn giáo khác, mà chúng ta muốn lập một nền tảng trước, cái nền tảng của sự thanh tịnh tâm hồn, trước khi chúng ta bước ra bên ngoài khởi lên cái hoạt dụng của mình để mà làm mọi việc ích lợi cho cuộc đời này.
    Cho nên Hòa Thượng Bố Đại khi được hỏi hoạt dụng của Thiền là gì, thì Ngài kéo chiếc túi vải lên vai, Ngài đi tiếp. Không trả lời, không nói. Làm thôi, không nói. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta chỉ nói thôi chứ không làm.[FONT=&quot][/FONT]
     
  15. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ muời ba:

    [FONT=&quot]MỘT ÔNG PHẬT[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] Ở[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]Tokyo thời Minh Trị có hai Thiền sư nổi bật với hai cá tính trái ngược hẳn nhau.
    Một người tên là Unsho, một đại sư của Shingon (là Chơn Ngôn Tông, Mật Tông). Unsho giữ gìn giới luật của Phật một cách nghiêm chỉnh. Unsho không bao giờ uống rượu, dù chỉ một giọt nhỏ, ông cũng không dùng cơm sau mười một giờ vào buổi sáng.
    Một người khác tên là Tanzan, là một giáo sư Triết ở Đại học Hoàng Gia Nhật, ông không bao giờ để ý đến giới luật. Khi nào thích ăn, Tanzan ăn. Khi nào thích ngủ ngày Tanzan ngủ.
    Một hôm Unsho đến viếng Tanzan nhằm lúc Tanzan đang uống rượu, mặc dù lưỡi của một Phật tử thì không được nhiễm một giọt nhỏ nào cái thứ nước độc hại đó. Tanzan đón mừng Unsho “Ồ, chào sư huynh. Anh uống rượu không?”
    Unsho nghiêm giọng phàn nàn “Tôi không bao giờ uống rượu!”
    Tanzan nói “Một người không biết uống rượu không phải là người”
    Unsho nổi sùng kêu lên “Anh muốn bảo tôi bất nhân hả? Đúng! Bởi vì tôi không dầm mình trong thứ nuớc độc ấy. Rồi nếu tôi không là người, tôi là cái gì?” Tanzan tươi cười đáp “Là một ông Phật”.


    Câu chuyện đến đó là hết. Đúng là câu chuyện trong “Góp nhặt cát đá” dễ gây hiểu lầm.
    Cái ý chính của câu chuyện là thế này, Thiền chú trọng cái tâm. Hai người, theo hình thức bề ngoài thì Tanzan thua, vì là người giữ không tròn, còn Unsho thì giữ được giới. Nhưng mà bên trong thì Tanzan hơn, bởi vì tâm của Tanzan không phiền não. Mà Unsho bên ngoài thì giữ giới, mà bên ngoài thì khi người ta mới nói kích một cái thì nổi sung lên. Mới chỉ nghe là “Người không biết uống rượu thì không phải là người” là nổi sung thiên lên; nên trong tâm ông thua. Mà Thiền thì chú trọng đến nội tâm. Cho nên câu chuyện này cũng ngỏ ý như vậy. Rán làm sao mà tâm được bình an hoan hỉ, không bị động. Đó là yếu chỉ tu hành.
    Vậy thì ta học từ câu chuyện này như thế nào? Mình sẽ nói “A! Mình bắt chước ông Tanzan. Mua rượu về uống!” Nhưng mình làm sao? Mình vừa giống Tanzan chỗ uống rượu, vừa giống ông Unsho chỗ nổi sùng, ai đụng đến là nổi sùng liền. Ở đây, câu chuyện này, mình nên giống cả hai ông, mà giống ở hai cách khác, là phải giống ông Unsho ở chỗ là không uống rượu và giống ông Tanzan ở chỗ không nổi sùng.
    Qua câu chuyện thứ mười bốn.
     
  16. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ muời bốn:

    [FONT=&quot]ĐƯỜNG LẦY[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] M[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]ột lần nọ Tanzan và Ekido cùng thong dong bước xuống một con đường lầy. Cơn mưa nặng hạt vẫn còn rơi, đến khúc đường quẹo, hai người gặp một cô gái xinh xắn trong chiếc áo Kimono và chiếc khăn quàng cổ bằng lụa đang đứng bên lề đường vì không thể băng qua ngã tư đường lầy được. Lập tức Tanzan bảo “Đi này cô bé.”
    Tanzan đưa tay nhấc bổng cô gái lên và đưa qua quãng đường lầy.
    Ekido từ đó không buồn nói một tiếng nào cho đến khi cả hai dừng lại trong một ngôi đền.
    Rồi không còn chịu được nữa, Ekido lên tiếng nói với Tanzan “Chúng ta là những nhà sư, không được phép gần đàn bà, nhất là với những người đàn bà trẻ đẹp, nguy hiểm lắm. Sao anh lại làm như vậy?”
    Tanzan mỉm cười đáp “Tôi đã bỏ nàng ở chỗ đó rồi, anh còn mang nàng theo đấy sao?”


    Ở đây cũng vậy, cũng nhấn mạnh cái tâm. Tức là cái giải thoát nằm ở cái tâm, chứ không phải nằm ở bên ngoài. Ở đây, ông Tanzan thấy người ta cần thì ông giúp, ông bất kể mọi thứ, mà tâm ông không dính. Nên khi được hỏi ông trả lời “Tôi đã bỏ cô gái ở đó rồi, sao anh còn mang cái tâm bực bội tới đây, mang cái phiền não tới đây. Anh không hiểu được tôi, anh không hiểu được là cái tâm của tôi nó không dính. Anh cứ trách tôi hoài, cái tâm anh trách tôi nãy giờ, anh mang theo tới đây rất là phiền toái. Còn tôi, tôi bồng lên để xuống cái mất liền, không dính gì nữa hết.”
    Có câu chuyện cũng giống câu chuyện này. Có một cô gái đưa đò qua sông, cô đẹp ghê lắm, nên nhiều người đi đò thường hay ngắm nghía cô. Thường đi đò là một xu, nhưng có mấy ông sư đi đò mà cứ dòm dòm cô, cô đòi hai xu. Được hỏi “Tại sao người ta đi một xu mà tôi phải trả đến hai xu?” Thì cô trả lời “Trả cái tiền dòm tôi.” Có một lần, một ông sư qua đò không nhìn cô nữa mà quay nhìn chỗ khác, xuống đò, cô đòi bốn xu, được hỏi “Tại sao tôi không dòm cô mà cô đòi bốn xu?” Cô trả lời “Nhưng nãy giờ, trong tâm ông cũng dòm tôi hoài nên phải trả mắc hơn.”
    Cho nên cái giải thoát, là nằm ở trong tâm. Tuy nhiên người khéo là mình giữ được bên ngoài lẫn bên trong.
    Ta qua câu chuyện thứ mười lăm.
     
  17. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5


    Câu chuyện thứ muời sáu :

    [FONT=&quot]KHÔNG XA PHẬT TÁNH[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] M[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]ột sinh viên đến viếng Gasan và hỏi “Thầy đã đọc Thánh kinh Ky Tô chưa?”
    Gasan bảo “Chưa. Hãy đọc tôi nghe.”
    Sinh viên mở Thánh Kinh ra và đọc sách Thánh Matthew “Còn phần quần áo, các ngươi lo lắng làm chi, hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào. Chẳng làm khó nhọc, cũng không kéo chỉ; nhưng ta phán cùng các ngươi, dẫu Vua Salomon sang trọng đến đâu cũng không mặc được áo tốt như một hoa nào trong giống đó. Vậy chớ lo lắng chi ngày mai. Vì ngày mai sẽ lo về việc ngày mai.” Gasan nói “Ai nói những lời đó, tôi cho là một người đã giác ngộ.” (Lời vừa rồi là lời của Chúa Jesu.)
    Sinh viên đọc tiếp “Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ sẽ mở. Bởi vì hễ ai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai gõ thì được mở.”
    Gasan phê bình “Thật là tuyệt! Ai nói điều đó không xa Phật tánh.”


    Câu chuyện này ngắn, mà nó có mấy ý. Thứ nhất là chúng ta đừng tưởng sự giác ngộ chỉ có trong đạo Phật, hoặc là chỉ có trong Thiền Tông mà nó có thể có nơi bất cứ một người nào đã đi đúng hướng, dù ở thời gian nào, hoặc không gian nào. Câu chuyện này dạy cho chúng ta đừng có chủ quan, đừng có độc tôn. Tại vì có nhiều người theo đạo Phật, nhưng có quan niệm độc tôn, cực đoan; cho rằng chỉ có đạo Phật mới có giải thoát giác ngộ; còn các tôn giáo khác không có. Đây là sự hiểu lầm.
    Qua câu chuyện này ta thấy chính một Thiền sư, không biết gì về Thánh kinh, Phúc Âm, không biết gì về Chúa; chỉ nghe đọc một vài lời đã khen “Ai nói được những lời này, tôi cho là một người đã giác ngộ. Ai nói những điều đó không xa Phật tánh.”
    Như vậy, nội dung của lời nói đó là nói đến sự tự tại. Mình sống tràn đầy trong từng giờ từng phút, đừng quá ưu tư lo lắng. Còn cái gì với cái tâm lòng thành, ai xin sẽ được, ai tìm sẽ được, ai gõ sẽ mở. Khi mình hướng về sự giác ngộ với tấm lòng thành, thì kết quả sẽ đến, dù nhanh hay chậm.
    Nội dung là như vậy. Nhưng cái quan trọng của câu chuyện này muốn nói là, mình đừng có phân biệt tôn giáo. Bởi vì giá trị của chân lý nằm bàng bạc khắp nơi, sự giác ngộ có thể xuất hiện từ bất cứ một con người nào, nếu người đó đúng. Và nếu nó xuất hiện như vậy, thì chúng ta đều phải có lòng kính trọng.
    Qua câu chuyện thứ muời bảy.
     
  18. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ muời bảy :

    [FONT=&quot]HÀ TIỆN LỜI DẠY[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] M[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]ột y sĩ trẻ ở Tokyo tên là Kusuda gặp một bạn đồng nghiệp đang nghiên cứu Thiền.
    Vị y sĩ trẻ này hỏi bạn “Thiền là gì?”
    Người bạn đáp “Tôi không thể bảo bạn nó là gì. Nhưng điều chắc chắn, nếu bạn hiểu Thiền, bạn không còn sợ chết nữa.”
    Kusuda nói “Hay. Tôi sẽ thử coi. Tôi tìm thầy ở đâu bây giờ?” Người bạn đáp “Hãy đến thầy Nan-in.”
    Vì thế Kusuda đến viếng Nan-in. Anh ta mang theo một lưỡi kiếm dài hai tấc rưỡi để coi thầy Nan-in có sợ chết hay không cho biết.
    Chợt thấy Kusuda, Nan-in kêu lên “Ồ. Chào anh. Anh khỏe không? Chúng ta lâu lắm rồi không gặp nhau.”
    Việc này khiến Kusuda bối rối, anh ta đáp “Chúng ta chưa tùng bao giờ gặp nhau mà!”
    Nan-in đáp “Đúng thế ! Tôi lầm anh với một y sĩ khác đã theo học Thiền ở đây.”
    Việc bắt đầu như thế. Kusuda mất cơ hội thử thầy. Anh ta xin Nan-in để học Thiền một cách rất miễn cưỡng. Nan-in bảo “Thiền không khó. Nếu anh là y sĩ, hãy chữa trị tử tế cho bệnh nhân. Đó là Thiền.”
    Kusuda viếng Nan-in ba lần. Mỗi lần Nan-in đều bảo “Một y sĩ không được phí thì giờ ở đây. Hãy về săn sóc bệnh nhân đi.”
    Thật là tối mù mù đối với Kusuda. Làm sao một lời dạy như thế có thể làm cho ai hết sợ chết được. Vì thế trong lần viếng thú tư anh ta phàn nàn “Bạn con bảo rằng một người học Thiền sẽ không sợ chết. Mỗi khi con đến đây thầy đều bảo về săn sóc bệnh nhân. Con hiểu điều đó lắm, nếu đó là cái được thầy gọi là Thiền, con không viếng thầy nữa đâu.”
    Nan-in mỉm cười vỗ nhẹ y sĩ “Ta xử với anh có hơi nghiêm khắc. Để cho ta anh một công án. Nan-in giới thiệu cho Kusuda công án “Không” của Thiền sư Triệu Châu để vượt qua. Nó là vấn đề giác ngộ tâm đầu tiên trong một quyển sách gọi là “Vô Môn Quan”.
    Kusuda suy tư về công án “Không” này trong hai năm. Sau cùng anh ta nghĩ rằng mình đã đạt được cái tánh chắc chắn của tâm. Nhưng Nan-in phê bình “Con chưa vào được.”
    Kusuda tiếp tục chú tâm thêm một năm rưỡi nữa. Tâm anh ta trở nên yên tịnh, các vấn đề được hóa giải. Cái “Không” trở thành chân lý. Kusuda phục vụ bệnh nhân tử tế và không có ngay cả việc hiểu nó nữa. Kusuda thoát khỏi sự lo âu sống chết.
    Rồi khi Kusuda viếng Nan-in. Ông thầy già của Kusuda chỉ mỉm cười.


    Câu chuyện này rất hay, rất là thấm thía. Người bạn trả lời cũng hay. Hỏi Thiền là gì? Anh ta nói “Tôi không định nghĩa được.” Mà chỉ có một tính chất thấy được là, nếu hiểu Thiền thì không sợ chết nữa. Đây là tính chất của Thiền. Cho nên có những câu chuyện như chuyện Ngài Nham Đầu Toàn Phát. Ngài rất giỏi, sự chứng ngộ của Ngài rất cao, nhưng vì lời dạy của Ngài siêu việt quá ít người hiểu nổi. Đến nỗi thầy của Ngài là Ngài Đức Sơn cũng nhờ Ngài gợi ý mới được chứng ngộ hoàn toàn. Về cuối đời, Ngài Nham đầu Toàn Phát trở nên ít nói, ai hỏi đạo, Ngài chỉ “Hư... hư...” không trả lời. Dường như Ngài thấy người học không đủ sức lãnh hội cái Thiền của Ngài. Ngài nói là “Nhưng khi nào ta chết, ta sẽ rống một tiếng.”
    Năm đó, nhằm khi có giặc nổi lên đánh chiếm các nơi. Tăng chúng trong chùa đều bỏ chạy, Ngài không chạy, ngồi yên chờ giặc tới. Giặc cướp tới, trách Ngài không có gì để dâng cúng, lấy giáo đâm Ngài. Ngài rống lên một tiếng. Tiếng rống vang xa mười dặm. Rồi Ngài chết.
    Thái độ bình thản của người hiểu Thiền là vậy. Chúng ta không có được cái tâm của Thiền nên chúng ta luôn luôn quyến luyến. nắm níu cái sự sống này. Chúng ta sợ hãi không biết sau cái chết là cái gì, cho nên mình không muốn mất cái mình đang có hiện tại. Mình nắm níu cái sự sống. Có những người mà họ không sợ chết. Một là người hiểu Thiền chân chính. Hai đã là người suýt chết rồi. Có những đã ở trong trạng thái gần như chết, bỗng nhiên họ cảm nhận được cái thế giới ở bên kia mà họ sắp bước sang. Họ thấy nó không có gì đáng sợ, cũng là sự bình an thôi, nên họ không sợ chết. Hoặc là người hiểu Thiền, ngay trong hiện tại, tâm họ không còn cái sợ hãi. Tâm họ trải rộng cõi sinh cõi tư, họ thấy mọi việc bình thường, sống ở cõi này hay đi nơi khác, họ không bao giờ mất sự thanh tịnh đó. Còn chúng ta không có được cái thanh tịnh phủ trùm đó, cho nên chúng ta rất sợ chết. Nên người bạn này trả lời hay, là “Không biết Thiền là gì. Nhưng khi hiểu được Thiền, thì không còn sợ chết.”
    Vị y sĩ này đến thử thầy Nan-in, ông thầy này biết ý định nên ông giả vờ, ông nói một câu bâng quơ để ông y sĩ này không có dịp để thử. Rồi Nan-in khó khăn là ông không chịu nói Thiền là gì. Ông cứ từ chối, ông cứ nói “Chữa cho bệnh nhân cho đàng hoàng đi thôi.” Như bây giờ, nhiều khi thầy cũng làm biếng nói chuyện đạo, hoặc thầy chỉ nhìn người trong việc làm hằng ngày thôi. Ví dụ như thầy vô nhà bếp, thầy thấy nhà bếp yên tĩnh, ít có người nói ra nói vào. Người đang tu nhưng vẻ mặt trầm lắng, nên thầy biết người này đang làm nhưng đang tu. Đó là Thiền. Hoặc thầy thấy những huynh đệ công quả ngoài đồng, tuy đang làm việc mà vẫn trong tâm trạng bình an, tích cực. Thầy biết người này có được cái bình an, không có cái loạn động, không có cái bất mãn mơ ước xa xôi. Không phải đang ở chùa mà tâm vọng ra ngoài. Ở chùa và chỉ biết làm việc chùa. Nên thầy thấy người này có cái bình an, cũng hợp với Thiền. Trong việc làm có thể đánh giá người hiểu Thiền hay không, chứ không cần đòi hỏi phải nói vanh vách từ quyển sách này qua quyển vở kia.
    Tuy nhiên, có phương pháp thật sự mà ở đây Ngài Nan-in dùng cái lối thoại đầu đưa cho ông y sĩ Kusuda này nghiên cứu về chữ “Không” của Ngài Thiệu Châu. Có người hỏi Ngài Thiệu Châu là “Con chó có Phật tánh hay không?” Ngài trả lời là “Không.” Câu này làm mọi người ngạc nhiên bởi vì sách Phật có nói “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” tức là đều có khả năng thành Phật. Tại sao Ngài Thiệu Châu trả lời “Không” Đây cũng là một nghi vấn, mà các đôi khi các Thiền sư buộc đệ tử phải nghiên cứu để tìm ra sự thật ở nơi chữ “Không” này. Tại sao lại nói có vẻ ngược đời với Phật.
    Khi được hai năm, ông ta nghĩ rằng mình đã được cái tâm rồi, mình đã được cái tâm. Nhưng nên nhớ rằng, một khi anh ta cho rằng mình đã được, tức là anh ta chưa được. Bởi vì Thiền không do sự ép đặt. Có một lần thầy đọc quyển sách nói về công phu tu tập của một vị cũng đặc biệt. Có một lần vị đó rơi vào một trạng thái tâm vắng bặt lạ lùng, vị đó không biết đó là trạng thái gì. Rồi sau đó, vị ấy mới cho rằng mình đã được cái tâm không. Nghĩa ta tâm ta thanh thản như mây ngàn. Nhưng mà cái tự cho mình, thì cái đó chưa phải. Cũng giống như trường hợp của ông y sĩ Kusuda này vậy. Anh ta nghĩ rằng mình đã đạt được tâm. Thật ra không phải.
    Rồi ông thêm một năm rưỡi nữa. Tâm ông ta thực sự được vào trong thanh tịnh yên tĩnh rồi, thì các vấn đề được hóa giải. Cái “Không” trở thành chân lý. Kusuda không tự cho mình ngộ tâm nữa, mà cái tâm nó đã sờ sờ ra rồi. Lúc đó, ông thầy của Kusuda, Ngài Nan-in cũng không cần trả lời. Ngài nhìn thấy và chỉ mỉm cười.
    Ở đây chúng ta thấy người ở trong đạo, họ hiểu nhau không cần qua lời nói mà chỉ từ tâm tới tâm thôi. Đôi khi chỉ cần đi gần thoáng qua bên nhau trên đường đi, hai người đi ngang qua mặt nhau thôi, là người này có thể biết người kia tu được hay không; hoặc tu tới đâu, họ hiểu nhau liền. Chứ không cần phải nói. Mà chính người nói nhiều là sai. Hoặc là trong chùa cũng vậy, mình chỉ cần nhìn một người sống thôi, từ ánh mắt, từ dáng đi, điệu đứng, từ câu nói của họ, là biết họ đã vào Thiền được bao nhiêu rồi, không cần phải nói nhiều. Mà Ngài Nan-in thì Ngài rất giỏi, khi Kusuda đến viếng là Ngài biết ngay, Ngài mỉm cười, hài lòng.
    Kusuda phục vụ bệnh nhân tử tế, không cần phải hiểu việc đó nữa, và thoát khỏi sự lo âu sống chết. Đó là người hiểu Thiền là vậy. Là làm trọn vẹn bổn phận của mình, không còn thấy cái ước mơ xa xôi, vơ vẩn nữa.
    Ta qua chuyện thứ mười tám.
     
  19. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ muời tám :

    [FONT=&quot]MỘT NGỤ NGÔN[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] P[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]hật kể một ngụ ngôn trong kinh “Một người đàn ông băng qua một cánh đồng gặp một con cọp giữa đường, anh ta chạy trốn. Cọp đuổi theo, đến một vực sâu, anh nắm được rễ nho và đu mình sang bên kia. Cọp ở trên dọa anh ta. Sợ hãi, người đàn ông nhìn xuống dưới xa một con cọp khác đang đợi anh ta. Giúp anh ta chỉ có dây nho.
    Hai con chuột một trắng, một đen từ từ bắt đầu gặm mòn rễ nho. Người đàn ông nhìn thấy một trái dâu thơm ngon gần đó. Một tay nắm dây nho, một tay thò qua hái trái dâu “Ôi trái dâu ngon ngọt làm sao !”


    Câu chuyện ngụ ngôn này, đúng ra từ trong “Tứ thập nhị chương kinh”. Đây là một chuyện ngụ ngôn tượng trưng. Tức là người đàn ông đi giữa đường rớt xuống vực sâu, là tượng trưng cho con người thốt nhiên thọ thai mà sinh ra giữa cuộc đời này. Ở trên cũng có cọp, mà ở dưới cũng có cọp. Ở trên cọp rình, ở dưới cọp rình. Là một bên là cọp vô minh; một bên là cọp tham ái, sân hận, những cái luôn chờ chực để nó bắt mình, hại mình, giết mình. Mà anh ta chỉ còn đeo được một sợi dây nho. Sợi dây nho là gì. Đó là tượng trưng cái mạng căn của mình, tuổi thọ của mình, mạng sống của mình; mình nắm sợi dây đó để sống. Hai con chuột một trắng một đen từ từ bắt đầu gặm mòn rễ nho là gì? Một trắng một đen là ngày và đêm, là thời gian. Là sợi dây sinh mạng của mình bị thời gian bào mòn dần bào mòn dần, thì cái ngày sợi dây đứt không còn xa nữa. Cái ngày mà mình rớt xuống để con cọp vô thường ăn mình không còn xa nữa. Nhưng mà sao? Nhưng màcó trái nho, mình hái mình ăn. Mà trái nho quá ngon, mình quên hết những vô thường, những đau khổ, những vô minh, nó đang vây bủa chung quanh mình. Cái trái nho đó là gì? Cái mật ngọt đó là gì? Mật ngọt đó là ngũ dục của cuộc đời. Chúng ta hưởng thọ dục lạc cuộc đời này mà không bao giờ nhớ lại là sinh mạng mình đang mất dần đi từng giờ từng phút. Không bao giờ ngờ rằng cái vô minh, tham ái, đau khổ, vô thuờng chờ mình để giết mình từng phút từng giây. Cho nên người thì mơ ước mình kiếm được một nghề, người mơ ước lập gia đình có vợ đẹp con ngoan, người mơ ước có chồng tốt, v.v... Mỗi người một ước mơ, nhưng mà quên rằng hai con chuột đang gặm sợi dây sinh mạng của mình từng giây từng phút; không biết lúc nào mình chết, cái đau khổ bủa vây cuộc đời đầy ngẹt. Mình chỉ nhắm vào dục lạc để hưởng thụ, tất cả chúng ta đều như vậy. Chúng ta không rán tu, trong đây không nói đến pháp tu. Nếu có pháp tu thì người đàn ông đã bay lên được, nhưng trong này không nói tới. Chỉ nói là mình vì dục lạc mà quên đi thôi.
    Qua chuyện thứ mười chín.
     
  20. jimmy_vnu Thành Viên Cấp 5

    Câu chuyện thứ muời chín :

    [FONT=&quot]ĐỆ NHẤT ĐẾ[/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] K[/FONT]

    [FONT=&quot] [/FONT]hi người ta bước chân đến đền Obaku ở Kyoto, sẽ nhìn thấy trên cổng đền bằng gỗ có chạm mấy chữ “Đệ Nhất Đế”. Chữ chạm to lớn dị thường và những ai thích chữ đẹp đều luôn luôn chiêm ngưỡng như là một kiệt tác. Những chữ này do Kosen vẽ hai trăm năm trước. Kosen vẽ trên giấy và người thợ chạm theo đó chạm lớn hơn vào gỗ.
    Trong lúc Kosen phác họa trên giấy, một chú đệ tử nhỏ can đảm của Kosen đã mài mực cho Kosen đến mấy bình mực đến viết cho đẹp mới thôi. Và chú luôn luôn phê bình tác phẩm của thầy chú. Chú nói với Kosen sau lần cố gắng nhất của ông “Cái đó không đẹp”
    “Cái này thế nào?” Kô Xen hỏi.
    Chú đáp “Tệ. Xấu hơn cái trước.”
    Kosen kiên nhẫn viết từ tấm này sang tấm khác đến tám mươi bốn tấm “Đệ Nhất Đế” chồng chất lên nhau thành đống vẫn không thấy chú học trò mình đồng ý. Rồi chú bé bước ra ngoài.
    Kosen nghĩ, bây giờ là lúc ta tránh được con mắt sắc bén của nó. Và Kosen viết nhanh với cái tâm không lo lắng “Đệ Nhất Đế”.
    Chú bé từ ngoài bước vào reo lên “Một kiệt tác!”


    Ở đây, bài này có nhiều ý hay. Thứ nhất là giữa nghệ thuật và Thiền có sự liên quan. Người ta có thể tạo ra được cái đẹp. Có thể sáng tạo ra thành cái giá trị nghệ thuật bất hủ của cuộc đời, nếu tâm người ta thanh tịnh. Đây là điều muốn nói trong bài này. Kosen viết nhanh với cái tâm không lo lắng. Viết ba chữ “Đệ Nhất Đế” thành một kiệt tác mà người học trò không chê được. Nhưng khi có sự kiểm soát của người học trò, mình có cái tâm bất an lo lắng; thì dù ông là người chuyên viết chữ đẹp mà vẫn viết không làm hài lòng được chú bé. Lý do là sao? Lý do là chú bé cũng quá sắc sảo, quá sâu sắc, chú đánh giá được nét chữ của ông thầy.
    Nhưng trong này có hai ý, trong “Góp nhặt cát đá” dễ gây hiểu lầm. Người ta đọc chuyện này, người ta chỉ thấy được cái thứ nhất, thấy cái ý chính như thế này, là khi con người với cái tâm thanh tịnh, không lo lắng có thể sáng tạo ra được cái giá trị bất hủ, những kiệt tác trong nghệ thuật. Đó là ý quan trọng của bài này. Tuy nhiên chúng ta phải nhớ là, Kosen viết tám mươi bốn tấm “Đệ Nhất Đế” trước đó với một cố gắng phi thường. Chính cái sự cố gắng trước đó, trong cái cố gắng, lo lắng, tập trung; nhưng vẫn không thành công, cho đến khi mà được buông ra một cái, thoát khỏi sự lo lắng, thì thành công liền.
    Thiền cũng vậy. Người nào đến với Thiền mà đòi là sống hồn nhiên thanh thản liền, là thầy biết người này chưa có kinh nghiệm. Đầu tiên là người ta phải có ray rứt băn khoăn, ao ước, khát khao. Cũng như chúng ta phải sống trong một khuôn khổ, nề nếp vậy. Có khó khăn, có ràng buộc, có bị quở, bị rầy, bị la. Có những lúc đau khổ, thao thức. Chính những lúc ngồi Thiền chân thì đau, tâm thì loạn mà không tìm được con đường nào để thoát, bế tắc hết mọi đường. Chính những lúc đầy đau khổ như vậy, qua bao nhiêu cái đó mà chúng ta vượt qua được hết; ta có ý chí rồi thì khi bỗng nhiên cơ duyên tới, như lúc chú bé bước ra ngoài, tâm mình buông hết mọi sự, thì thành được cái đạo. Lúc đó thì đúng là cái đạo hồn nhiên, không còn khuôn phép, câu nệ, không còn sự ràng buộc nào hết. Bởi vì tất cả đều đã đúng hết, tất cả đều đã thanh tịnh. Cái ý này rất hay. Chúng ta đừng hiểu một chiều. Đọc “Góp nhặt cát đá” mà hiểu một chiều là luôn luôn sai. Cái thứ hai có được là do có cái thứ nhất trước đó. Ông viết được ba chữ đẹp, thật ra do trước đó đã cố gắng hết mình; chỉ cần một lúc nào tâm thoáng được một cái là được thành tựu. Chúng ta cũng vậy, chính vì thế mà thầy không bao giờ cho một sự dễ dãi là vậy. Luôn luôn thầy phải rầy phải la là vậy. Thầy phải buộc có một sự cố gắng không cho phép có sự buông lỏng.
    Qua chuyện thứ hai mươi.