bài viết dưới đây của Thiếu Tướng Nguyễn Chu Phác và Giáo sư Trần Phương đặt ra một vấn đề nghiêm túc cho việc giải thích những hiện tượng tồn tại trên thực tế. Nhưng chưa hẳn là phi khoa học. Bởi vì nó là một thực tại. Xin đưa lên để anh em tham khảo. NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN LÀM PHIM “Tìm đồng đội” Ở NÚI NON NƯỚC Thiếu tướng, nhà văn: NGUYỄN CHU PHÁC LTS: Hiện tượng một số người có khả năng đặc biệt trong việc tìm hài cốt đã được nhiều báo đề cập và được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Vấn đề này còn nhiều dấu hỏi. ANTG xin giới thiệu tham khảo bài viết của Phó Chủ Tịch Hội tâm lý giáo dục học Việt Nam phụ trách bộ môn Cận tâm lý thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người, Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chu Phác, về một hiện tượng này. Tháng 4-1994, sau khi tìm được hài cốt của 13 liệt sĩ hy sinh từ tháng 5-1951 ở núi Non Nước, tỉnh Ninh Bình, một số cán bộ và anh chị em có khả năng đặc biệt tường thuật lại, đồng thời được đọc báo và ý kiến nhận xét của đồng chí Phó chủ tịch UBND thị xã Ninh Bình, tôi đã gặp ông Nguyễn Văn Báu, trú quán tại phường Phương Liệt, quận Đống đa Hà Nội – anh ruột liệt sĩ Nguyễn Anh Tâm (tức Tý) là người bao năm ròng đi tìm hài cốt em ruột mình, chúng tôi tìm gặp những người có khả năng đặc biệt liên quan tới tìm mộ liệt sĩ. Tình hình lúc đó, việc tìm hài cốt liệt sĩ bằng khả năng đặc biệt không được công khai rộng rãi như bây gìơ, mặt khác, sự hiểu biết về cận tâm lý của cán bộ, nhân dân còn có mức độ. Chúng tôi quyết định làm bộ phim này với mục đích duy nhất là “lưu cất sự kiện” như người “viết lịch sử bằng điện ảnh”. Nếu không, sau này sẽ mất các hình ảnh đó. Chúng tôi hoàn toàn không có mục đích thi thố, hợăc phát hành kinh doanh, tuyên truyền. Đo đó, phim không đề tên người biên kịch, người đạo diễn, và quay phim. Được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Ninh Bình ưu ái đem cuộc băng video cho tỉnh quay lên Hà Nội cho tôi mượn, lại được anh em cùng đơn vị với các liệt sĩ cho tôi mượn một cuốn băng video khác. Trung tá Duy Thành – phóng viên Truyên hình quân đội là người đã nhiều lần giúp tôi đạo diễn, quay phim một số kịch bản phim tài liệu khoa học của tôi. Tôi đổi tên phim là Tìm đồng đội vừa có tính văn học vá tình triết học, nhưng cái chính là thể hiện tình bạn chiến đấu của anh em Sư đoàn 308 qua việc tìm mộ liệt sĩ Tâm (tức Tý). Tôi nhớ tới một nhà giáo thường đọc hai câu thơ cho học trò của mình nghe: “Cho hay tất cả đều mây nổi Còn lại ngàn thu một chút tình”. Chúng tôi tin tường chắc chắn rằng các liệt sĩ sẽ ủng hộ bộ phim này thành công. Khi còn học về tạm lý – giáo dục học, các thầy ở trường đại học Sư Phạm Hà Nội I thường có các dẫn chứng về cận tâm lý, về sức mạnh tưởng tuợng và về cả tâm linh, tôi rất thích thú và muốn tiếp tục thử nghiêm các vấn đề đã học. Mặt khác, những năm trước tôi có dịp khảo sát hiện tượng cháu PBH và nhóm ông TQB, TTH, NPL … nên tôi tin tưởng về sự chân thật của họ. Riêng đối với cháu PBH, tôi còn lưu nhiều cuốn băng ghi ấm để theo dõi khảo nghiệm. Dưới đây xin đươc kể lại rất vắn tắt qua tư liệu đã giúp chúng tôi làm phim. Sự kiện thì nhiều, thời gian thì dài nhưng phim chỉ có 20-30 phút, do đó không thể nói hết được. Nhưng chúng tôi có gắng thể hiện cái tâm, cái đức của đồng đội các liệt sĩ đã không ngại tốn kém tiền bạc, không quản tuổi cao sức yếu, quyết tâm tìm bằng được hài cốt đồng đội của mình. Vì có tâm mà không có đức thì cũng không thể nào làm được việc nghĩa tình thực sự, và sẽ như: “Chim chích mà đậu cành tre Thập trên, tứ dưới, nhất đè chữ Tâm” Đồng đội các liệt sĩ ở đây vừa có Tâm vừa có Đức như: đại tá Tạ Doãn Địch là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 54, Trung đoàn 102, Đại đoàn 308, khi chỉ huy chiến đấu rất có trách nhiệm với cấp dưới của mình, thì nay, khi chủ trì tổ chức việc tìm hài cốt đồng đội ở núi Non Nước, anh còn lăn lộn vất vả, kiên nhẫn chịu đựng hơn nhiều. Vì sau khi diệt xong vị trí Non Nước ở sâu trong lòng địch, hôm sau địch phản kích chiếm lại. Lục lượng ta ở đó còn ít không thể giữ được, có người hy sinh rồi có thể bị giặc ném xác xuống sông trôi ra biển, có người bị vùi chung một hố, và có thể có người bị thương rồi bị bắt. Đến nay, hơn 40 năm rồi, bờ sông cáy bồi rất dày, chân núi cỏ cây mọc um tùm, vả lại lúc đó tìm hài cốt sâư dưới lòng đất bằng khả năng đặc biệt, nhiều người không tin. Nhưng đồng đội của liệt sĩ Tâm thì rất tin. Anh Trần Thịnh – nguyên là Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 273 - tự viết giấy cam đoan chính mình đã chôn liệt sĩ Tâm tại đó để được chính quyền cho khai quật. Các anh Mai văn Luỹ, Triệu Cung, anh Hàn Thuỹ Vũ kiên nhận, vất vả hợp sức cùng làm. Khi làm phim, chúng tôi cũng cố gắng thể hiện tấm lòng chân thật, nhiệt tình của lãnh đạo, chính quyền, cơ quan, đoàn thể từ tỉnh đến thị xã Ninh Bình, nhất là chi hội Cựu chiến binh và nhân dân địa phương. Quá nhiều người xung phong tình nguyện trực tiếp khai quật, nên phải rút thăm và mỗi phường chỉ có 3 người. Một số thanh niên thấy các bác lớn tuổi tự nguyện thay thế nhưng không được phân công. Có một điều mà phim Tìm đồng đội không thể hiện đầy đủ, đó là cuộc trò chuyện giữa những đồng đội còn sống với nhựng chiến sĩ đã hi sunh trên 40 năm về trước, vừa cảm động, vừa lý thú. Lúc đầu, chỉ có ý định đi tìm hài cốt chính trị viên Nguyễn Anh Tâm (Tý), nhưng qua trò chuyện với liệt sĩ mà tìm được thêm 13 người. Giáo sư Ngô Vi Thiện – nay là Chủ tịch Hội đồng khoa học, Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người, được chứng kiến cuộc trò chuyện từ đầu đến cuối. Sau đó giáo sư cùng Đại tá Hàn Thuỵ Vũ còn tham gia tìm được hài cốt đồng đội hy sinh từ năm 1946 ở Đông Triều và các liệt sĩ ở trận đánh Phủ Thông. Trước khi trích bản ghi chép của giáo sư Ngô Vi Thiện về cuộc nói chuyện ở núi Non Nước, tôi xin có đôi lời: Phàm ở đời, việc gì cũng vậy khi đã trở thành nhu cầu cấp thiết của con người thì lập tức có ngưòi lợi dụng nó như một thứ hàng hoá để kinh doanh, hoặc là hoang tưởng hoặc là cố tình lừa dối để lấy hàng triệu, hàng chục triệu của người cả tin. Tôi có may mắn đưoc đi khảo sát nhiều nơi, nhiuề người thì thấy người có khả năng đặc biệt thực sự rất ít. Và kể cả người được coi là có khả năng đặcbiệt thực sự cũng không phải là lúc nào cũng đúng hoặc không phải lúc nào cũng đúng 100%. Thật là vô lý, làm viết bao nhiêu điều ác, vu oan, giá hoạ cho người khác, lấy của nhà nước hàng tỷ đồng chỉ cần cúng lễ tốn vài triệu mà giải hạn được ư? Khẳng định rằng không có thánh thần nào như vậy cả ..ngoài việc chính người đó phải sám hối, và làm nhiều việc thiện. Sách cổ nhân đã dạy: “Thần hưởng lòng thành, có lòng thành mới cảm được thần. Thần cảm mình thì được, không lấy lễ lạt mà xin được. Thần không vì lễ hậu mà giáng phúc, không vì lễ bạc mà ra tai. Tất cả chỉ có dựa vào phúc đức mà thôi…” Sau đây là bút ký của giáo sư Ngô Vi Thiện ghi về cuộc tìm hài cốt liệt sĩ núi Non Nước. “Ngày 24 -4-1993 Khi gặp PBH, đồng chí Tạ Doãn Dịch không nói gì về nhóm ông TQB, TTH, NPL đã xác định nơi chôn tám liệt sĩ mà chỉ nhở PBH “tìm giúp mộ đồng chí Tâm và mấy liệt sĩ nữa, hy sinh trong trận Non Nước và chôn ở gần chân núi” Sáng 25/4,. Quay về đài liệt sĩ gần chân núi Non Nước, rồi quay xuống bờ sông. Đi ngang, đi dọc vài lần, PBH chỉ vào vị trí mà nhóm trước đã xác định, nói: “Có một chú nằm ở đây, còn một chú nằm sát ở chân núi”. PBH nói rõ cả họ tên 8 liệt sĩ, khớp với danh sách mà nhóm trước đã xác định từ ở Hà Nội và nói thêm: “Các chú không phải mỗi người một mộ mà có mộ hai chú, có mộ ba chú chân tay chen vào nhau”. Sau khi thắp hương viếng các liệt sĩ, là cuộc trao đổi với những người đã mất, chủ yếu là với liệt sĩ Tâm. PBH nói: “Các bác cứ hỏi, các chú ấy nghe được hết. Còn các chú ấy trả lời thế nào, cháu sẽ nói lại cho các bác”. Ông Báu anh ruột liệt sĩ Tâm và đồng chí Tạ Doãn Địch trao đổi nhiều với liệt sĩ Tâm. Đồng chí Tạ Doãn Địch có ghi âm toàn bộ cuộc tiếp xúc này. Nhưng tôi nhớ mãi và suy nghĩ về ba câu nói sau đây của liệt sĩ Nguyễn Anh Tâm: -“Đến nay là đã 41 năm 11 tháng thiếu 3 ngày, gia đình và đồng đội mới tới thăm tôi”. Đồng chí Địch và tôi nhìn nhau. Hôm đó là ngày 25/4/1953, tính từ ngày Tâm hy sinh đến nay là đúng là 41 năm 10 tháng 27 ngày. Như vậy các đồng chí nắm ở đó đếm từng ngày! Khi hỏi đồng chí Tâm về gia đình có những ai, đồng chí trả lời đúng. Khi hỏi đồng đội có những ai? Đồng chí Tâm trả lời có đồng chí Địch tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54 mà Tâm là chính trị viên đại đội, và đồng chì Thiện (là tôi) là bạn cũ. Tôi ngạc nhiện vì không nhớ là bạn đồng chí Tâm từ lúc nào. Đồng chí Tâm nói tiếp: “Tôi cùng học với đồng chì Thiện năm 1948 ở lớp học về Đảng (lớp Phùng Chí Kiên) do quân khu uỷ Liên khu tổ chức”. Lúc đó tôi mới nhớ ra đồng chí Tâm. Liệt sĩ Tâm nói tiếp: “Chúng tôi là người có tên tuổi, có gia đình, có quê quán. Chiến đấu hy sinh vì Tổ Quốc, mà nay không có một phần mộ, không có một tấm bia!”. Các liệt sĩ trách chúng tôi đã lãng quên họ. Lúc đó tôi xúc động, chảy nước mắt! Và hôm nay, khi viết lại các dòng này, nước mắt lại trào ra! Khi ông Báu nói ý định đưa liệt sĩ Tâm về táng ở quê hương, liệt sĩ Tâm nói: “Cứ để em ở lại cùng đồng đội, anh em đã ở với nhau hơn bốn chục năm rồi, không muốn xa rời nhau!”. Cuộc trao đổi kéo dài gần một giờ đồng hồ. Cháu PBH rất mệt, ngưòi tái nhợt, ông TQB phải “phát công trợ lực” PBH mối hồi phục, mặt hồng hào trở lại, nói năng bình thường. Tôi hỏi ông TQB về cuộc trao đổi này, ông TQB, TTH, NPL đều theo dõi và xác mình rằng PBH nói lại đúng các lòi của đồng chí Tâm. Cuộc đi xác định đúng vị trí phần mộ các liệt sĩ kết thúc sáng 25/4/1993”. Một năm sau, tháng 4 năm 1994. Theo lời của Thị uỷ và Uỷ ban nhân dân Thị xã Ninh Bình, gia đình liệt sĩ Tâm cùng các bạn chiến đấu cũ, phần lớn đã nghỉ hưu, tới thị xã Ninh Bình trưa ngày 16-4-1994. Thị uỷ và Uỷ ban nhân dân tổ chức họp mặt, có đủ các cơ quan chức năng: ban chỉ huy quân sự địa phương, công an, Thương binh – Xã hội, Tài chính, Thuỷ lợi .. và các đoàn thể: Mặt trận, Hội Cựu chiến binh … Bí thư Thị uỷ, Chủ tịch và Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã chủ trì cuộc họp mặt. 12h trưa, sau lễ tưởng niệm ở đài liệt sĩ là lễ khai quật ở đất bãi ven sông. Chủ tịch Mặt trận và Chỉ huy trưởng quân sự địa phương thị xã phát biểu ý kiến. Sau phút mặcniệm, việc khai quật bắt đầu. Đến gần 18h, đã đào sâu được khoảng 2m trên diện tích 6-7m2, nhưng vẫn chưa thấy gì. Trời xẩm tối. Nhiều người hoài nghi: trong chiến đấu ai lại đào sâu đến vậy để chôn tử sĩ? Nhóm ông TQb cho biết, các liệt sĩ bảo: “Đào đúng chỗ rồi. Nhưng vì là ven sông, đất bồi hơn bốn mươi năm nên hài cốt ở sâu như vậy; Còn phải đào hơn một mét nnữa, cứ đào như tốc độ vừa qua thì khoảng 9h tối sẽ gặp”. Mọi người phải tạm nghỉ để chuẩn bị cho việc đào tiếp. Chúng tôi cũng vè ăn cơm chiều và nghỉ ngơi đôi chút. Ở Hà Nội đi từ sáng tới dự họp ra hiện trường ngay, đến lúc này ai nấy đều thấy mệt mỏi và cũng lo lắng. Theo các cháu TTH, NPL và ông TQB thì lúc gần đến hài cốt thấy liệt sĩ Tâm bắt nhịp cho các đồng đội mình ở dưới đó hát bài: “Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi ..” Đến gần 9h tối, chúng tôi còn đang nghỉ ở nhà khách của cơ quan quân sự địa phương tỉnh thì được thông báo là phát hiện ra những mảnh xương đầu tiên. Mừng quá chúng tôi vội vàng tới ngay hiện trường. Lúc đó đã đào sâu tới hơn 3m. Dưới hố lấp xấp nước vì đã thấp hơn mực nước ngoài sông, thấy có nhiều mảnh xương vụn, đen bóng. Theo kinh nghiệm dân gian, anh em đổ rượu xuống, các mảnh xương nổi lên. Việc đào bới tiếp tục một cách thận trọng, nhẹ nhàng. Các mảnh xương được rửa sạch, nhóm ông TQB, TTH, NPL cho biết đấy là chôn chung 2 đồng chí Tâm và Chính. Với sự hướng dẫn của ông TQB, hai cháu TTH, NPL xem từng mảnh xương phân chia di cốt hai đồng chí; nhưng có mảnh 2 cháu không nhìn mà nói ngay: Của chú Tâm, của chú Chính không phải”. Tôi hỏi: “Sao hai cháu không nhìn mà xác định được?” Hai cháu trả lời: “Có phải chúng cháu nhìn mà biết đâu, mà hai chú Tâm, Chính đừng ở ngay cạnh đây bảo cháu”. Trong suốt buổi khai quật, nhân dân địa phương đến rất đông, nhưng giữ trật tự, trang nghiệm. Bộ phận rà mìn làm cẩn thận theo từng lớp đất, đề phòng bom, mìn cón sót lại từ trong chiến tranh. Đêm hôm đó, đến hơn mưòi một giờ, thu thập xong di cốt của hai đồng chí Nguyễn Văn Tý (anh Tâm) và Nguyễn Đức Chính. Sáng 17/4, việc tìm kiếm tiếp tục, đào cách vị trí đã đào khoảng 4-5m. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ và Chủ tịch uỷ ban Nhân dân tỉnh tới thămvà nghe đồng chí Chủ tịch thị xã báo cáo tình hình. Đến quá trưa, đào hai hố mỗi hố rộng và sâu chừng hơn 3 met, thấy di cốt của năm đồng chí nữa. Các liệt sĩ tự xưng danh là Trần Văn Tuấn, Trần Văn Chất, Nguyễn Văn Trường, Nguyễn Văn Nghĩa. Trong quá trình đào tại ở bãi đất ven sông nhóm ông TQB, TTH, NPL cho biết đồng chí Đinh Văn Tánh nói: “Tôi là người đầu tiên đi đón các người đén chỗ bạn tôi, sao chưa tìm tôi ở chân núi”. Ông TQB, TTH, NPL vào khu vực sát núi, xác định chỗ liệt sĩ Tánh ở một hẻm núi cây cối dây leo um tùm, phải phát cây mới vào được. Nhóm ông TQB, TTH, NPL nói lại lời của một liệt sĩ rằng còn năm liệt sĩ nữa cũng nằm ở bãi ven sông. 1. Nguyễn Duy Phong (Hà Đông) 2. Đặng Chiến Thắng (Sơn Tây) 3. Nguyễn Văn Thanh (Thái Bình) 4. Dương A Xoéng (Hoà Bình) 5. Lý Văn Quang Trời đã về chiều. Công việc tạm dừng đễ làm lễ truy điệu bảy liệt sĩ và đưa về nghĩa trang, di cốt các liệt sĩ được đặt trong bảy chiếc tiểu, có ghi tên và quê quán, trên phủ quân kì. Đội danh dự mặc lễ phục trắng chỉnh tề, bồng súng đứng hai bên. Các đồng chí bí thư, chủ tịch tỉnh và thị xã cũng đại diện các cơ quan chức năng, gia đình và bạn chiến đấu, cùng đông đảo nhân dân địa phương đến dự lễ. Chủ tịch mặt trận thị xã đọc lời truy điệu. Đồng chí Hoàng Thế Dũng nguyên chính uỷ trung đoàn 102 đánh địch ở khu vực này trong chiến dịch Hà Nam Ninh, thay mặt anh em cựu chiến binh Trung đoàn đọc lời cảm ơn. Sau đó đưa các liệt sĩ về an táng theo đúng nghi thức quân đội tại nghĩa trang liệt sĩ. Ngày 18/2 công việc đào tìm kiếm tiếp tục. Bắt đầu là khuvực sát chân núi để tìm đồng chí Đinh Văn Tánh. Việc đào rất khó khăn. Khu vực chật hẹp, đất lẫn nhiều đá, có dây thép gai. Đào gần một mét thấy một tảng đá to. Anh em dừng tay, cho rằng không thể có hài cốt ở dưới. Hai cháu TTH và NPL trao đổi với liệt sĩ tánh và nói lại rằng chú Tánh bảo: “Chú nằm ngày dưới tảng đá này:. Anh em phải dùng xà beng đẩy dần tảng đá lớn dài gần 1m, ngag và dày 30-40cm. Bẩy đuôi tảng đá đi, chỉ đào thêm một ít là thấy di cốt của liệt sĩ Tánh, xương cốt còn nhiều, nguyên vẹn hơn, tuy một số xương bị gẫy do đá đè, nhưng không vụn nát như các đồng chí lịêt sĩ nằm ven sông bị ngăm nước lợ. Cùng với các mảnh xương, còn có lưỡi lê và ít vỏ đạn. Có thể đồng chí Tánh hy sinh ở đây, địch phát hiện, đẩy đá và đất xuống để vùi lấp, chứ không phải là được đồng đội chôn như các đồng chí khác. Ở ven sông, việc khai quật cũng tiếp tục suốt buổi sáng đến xế chiều và tìm thấy di cốt cả năm liệt sẽ do họ tự xưng danh là: Nguyễn Duy Phong, Đặng Chiến Thắng, Nguyễn Văn Thanh, Dương A Xoéng, Lý Văn Quang. Sau lễ qui tụ hài cốt 13 liệt sĩ về nghãi trang, trừ liệt sĩ Nguyễn Văn Tý (Anh Tâm) có gia đình tham gia từ đầu, còn mười hai liệt sĩ mới có tên, họ và quê hương do chính các liệt sĩ cho biết, được các bạn đồng đội xác mình nhưng chính xác đến đâu. Liệt sĩ Nguyễn Văn Chính và Đinh Văn Tánh cho biết địa chỉ của người thân còn ở Hải Phòng. Đầu tháng 6, đồng chí Phan Đức Ánh, Chủ Tịch thị xã Ninh Bình, đi dự hội nghị ở Quảng Ninh, tiện đường qua Hải Phòng đã đến các địa chỉ do liệt sĩ Tánh và Chính thông tin và gặp đúng người thân của 2 liệt sĩ. Những người đã mất đã chỉ cho người còn sống tìm thấy thân nhân của mình… Gần đây, chúng tôi được tin là có mười gia đình đến nhận mộ của mười liệt sĩ, trong đó có con gái đồng chí Lý Văn Quang. Việc chúng tôi làm phim Tìm đồng đội tìm hài cốt liệt sĩ ở núi Non Nước đã gần 6 năm qua đi. Nhóm người có khả năng đặc biệt ấy đã làm việc khác, có người đã giảm khả năng, nhưng có người khả năng đặc biệt vẫn tốt. Mặc dù thời gian trôi đi, nhưng nỗi nhớ thương đồng đội của cựu chiến binh chúng tôi thì không bao giờ nguôi. Vừa qua, tôi cùng Đại tá Hàn Thuỵ Vũ và ông Trần Quan Bích đã đem cuốn băng video Tìm đồng đội đến đặt lên bàn thờ Thượng tá Duy Thanh, thắp nén hương tưởng nhớ anh, người đã góp nhiều công sức, nhiệt tình và vô tư làm nên cuốn phim Tình đồng đội. NGUYỄN CHU PHÁC Còn tiếp
TÌM HÀI CỐT LIỆT SĨ MỘT HÀNH TRÌNH ĐẦY BÍ ẨN Giáo sư Phương và nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng Tôi có một cô em gái, kém tôi hai tuổi (sinh năm 1929) tên là Vũ Thị Kính, nhỏ gọi chạnh là Cánh. Từ hồi kháng chiến chống Pháp được biết đến nay hay gọi bí danh là Trần Thị Khang. Cô tham gia cách mạng năm 16 tuổi, … là một giao liên gan dạ, một các bộ phụ vận có uy tín. Năm 1950 cô là huyện uỷ viên của Đảng bộ Phù Cừ (ĐCSVN), Bí thư phụ nữ cứu quốc huyện. Người tổ chức và chỉ huy đội nữ du kích Hoàng Ngân trong huyện. Tháng 6 năm đó, địch bắt cô từ hầm bí mật đưa về bót La Tiến (bót đóng ngay trên bến đò La Tiến) là một bót khét tiếng tàn ác, một đồn binh án ngữ phía Nam tỉnh Hưng Yên, phía Bắc tỉnh Thái Bình và phía Tây tỉnh Hải Phòng. Địch đã dùng mọi cực hình tra tấn buộc cô phải khai báo và đầu hàng. Nhưng không lay chuyển được cô, chúng giết cô và vứt xác xuống dòng sông Luộc. Sau khi cô hy sinh, đội nữ du kích của huyện đã phát động phong trào "Tuần lễ giết giặc trả thù cho chị Khang”. Chính phủ đã trao tặng cho Cô huân chương kháng chiến hạng nhì. Huyện uỷ và đội du kích Hoàng Ngân đã đi tìm xác Cô, nhưng không thấy. Đây là nỗi xót xa day dứt của gia đình tôi suốt mấy chục năm qua, mặc dù biết rằng người chết thì nỗi đau xót cũng chấm dứt. Mẹ tôi hồi còn sống thỉnh thoảng lại hỏi tôi: “Có tìm thấy em không?”. Tôi đành tìm lời an ủi mẹ: “bao giờ hết chiến tranh con sẽ tổ chức việc tìm kiếm em, chắc là đựoc mẹ ạ”. Nói thề mà lòng tôi như muốn khóc vì biết mình bất lực trước nỗi đau của mẹ. Cả một dòng sông Luộc mênh mông như thế trôi ra biển cả biết tìm kiếm nơi đâu! Mười năm lại đây, nghe tin nhiều người tìm được hài cốt người thân bằng cách gọi hồn, bằng ngoại cảm, bằng thấu thị. Tóm lại bằng phương pháp được xem là thần bí, chưa ai lý giải được. Tôi vốn được đào tạo theo tinh thần của khoa học thực nghiệm: Cái gì chứng mình được thì mới tin là có; Cái gì chưa chứng mình được là dứt khoát không tin. Trong đời tôi, chưa bao giờ tin là có tinh thần, thần thánh, ma, quỷ v..v.. Những ngày giỗ bố mẹ, tui không làm cơm cúng, thắp hương, chỉ sửa lại một lọ hoa tươi để tự mình tưởng nhớ. Vậy khi nghe những tin trên tôi bỗng léo ra một niềm hi vọng mong manh: “Biết đâu đấy!”. Nếu bằng phương pháp khoa học thần bí mà tìm được hài cốt em tôi thì có gì phải câu nệ, miễn là có cái gì đó để nhận ra hài cốt đúng là em tôi. Đó chính là chuyện khó nói. Sau 50 năm trôi dạt, hài cốt có còn gì để nhận ra em tôi. Nếu còn, thì may ra được hàm răng không nhuộm đen. Nhưng thời đó, thiếu gì con gái không nhuộm răng đen. Lúc đó, chính tôi cũng phân vân: Nhận một bộ hài cốt mà trong lòng nghi hoặc, mỗi khi tưởng niệm thì phỏng có ích gì! Còn khám nghiệm AND? Đó là chuyện xa vời. Trong tình cảnh bất lực của mình và khoa học thực nghiệm thì bất lực cứ phương pháp nào giảu toả được nỗi day dứt trong tôi và gia đình tôi đều được xem trọng. Nghĩ thế, tôi bèn tìm cách tiếp cận những nhà ngoại cảm có tiếng tăm. Một số thông tin bảo rằng hài cốt vẫn còn, nhưng chưa có ai chỉ rõ nơi chôn cất. VẼ MỘ Chú em tôi – chú Quỳnh – ăn chực nằm chờ ở nhà Nguyễn Văn Liên (Tứ Kỳ - Hải Dương) hơn một tháng, cưói cùng được ông vẽ cho một bản đồ phần mộ. Nhưng mộ lại nằm ở huyện Khoái Châu là nơi cách La Tiến mấy chục cây số về thượng lưu. Suy luận rằng chú em tôi chưa hẳn đã đủ thân thiết với cô chị, vì vậy mà thông tin không được chính xác, bản thân tôi tìm đến ông Liên, nhưng chờ mãi, ông vẫn chưa nhận được thông tin gì để mách bảo cho tôi. Giữa lúc ấy thì tôi gặp chị Tuyết Nga là người đã nhờ ông Liên mà tìm được bố mẹ bị giặc sát hại từ những năm 1950 đã khuyên tôi nên tìm bạn chị là anh Nguyễn Văn Nhã, một người nổi tiếng ở miền Nam vì đã tìm được nhiều mộ liệt sĩ. Chị gọi điện cho anh Nhã và ngay chiều hôm đó anh bay ra Hà Nội. Sớm ngày hôm sau 25/7/1999, tôi gặp anh Nhã. Anh chưa đến 50 tuổi, một kỹ sư hoá. Đảng viên nhiều năm làm công tác đoàn thanh niên TP HCM, theo anh nói thì anh mới có khả năng đặc biệt từ trước Tết không được ai huấn luyện cả. Anh đã vẽ hơn 600 ngôi mộ, tỉ lệ trúng đạt 60%. Có trường hợp trúng đến mức chính anh cũng phải kinh ngạc, “thông tin” đến với anh như thế nào thì anh vẽ thế ấy. Còn thông tin từ đâu đến, trúng hay trật, đồi với chính anh cũng là điều bí ẩn. Trong căn phòng làm việc của tôi, không có hương khói gì cả, anh hỏi tôi và cô vợ tôi mấy thông tin đơn giản: Cô em tên gì, sinh năm nào, hy sinh ngày tháng nào, ở đâu, người đi tìm tên gì. Anh hỏi bến đò La Tiến thuộc xã nào, huyện Phù Cư thuộc tỉnh nào, bến đò ấy có cây cầu không (chứng tỏ anh chẳng biết gì về vùng đất đó cả), rồi anh lấy một tờ giấy to và bút màu ra vẽ bản đồ, vẽ một cách thư thả không gạch xoá gì cả. Mọi việc diễn ra trong vòng mười phút. Nhìn vào bản đồ tôi thấy anh vẽ con sông uốn lựơn, đường to, đường nhỏ giao nhau, rồi ghi: từ bến đò La Tiền đi về hướng Đông Nam thấy một trường học, đi khoảng 1,6km thì thấy một ngã tư, phía trái ngã tư thấy một quán tạp hoá có cửa màu xanh dương, lúc đó rẽ tay phải thấy một cái đình, đi vài 1km thì thấy một con đường nhỏ, đi chừng 60m rẽ phải đi chừng 45m thì đến phần mộ. Mộ nằm trên đất cô Nhường 47 tuổi, đối diện với về phía Tây Nam là quán ông An 56 tuổi. Mộ chôn đầu về phía tây, cách một gốc cây độ 4 tấc một cục gạch vỡ màu nâu đỏ và năm cây cỏ dại có hoa màu tím nhạt. Rồi anh hỏi tôi bao giờ thì đi tìm mộ? Tôi trả lời: Để chuẩn bị thì phải hai tuần nữa. Anh nói chậm quá, nên đi sớm. Tôi quyết định 3 ngày nữa thì đi,a nh nói tôi phải cho anh một tín hiệu để tìm. Hai con bươm bướm nhé? Tôi nói hai con bươm bướm thì sợ khó tìm. Anh ngẫm nghĩ một lát rồi nói: Vậy tôi cho anh một bé gái nhé? Rồi anh ghi vào tấm bản đồ: 13h30 ngày 28/7 sẽ có một bé gái chừng mười một tuổi, mặc áo hoa xanh đến gần mộ. (Tôi không hiểu bằng cách nào mà anh điều cho tôi môt cô bé gái đên vào giờ đó, ngày đó!) Rồi anh dặn: nếu đến sớm thì năm cây cỏ dại có mười bông hoa tím, muộn thì có năm bông. Ngạc nhiên quá tôi hỏi anh: Anh không biết gì về vùng đất đó vậy dựa vào cái gì mà anh vẽ ra tấm bản đồ chi tiết vậy? Anh nói: Tôi thấy trong đầu tôi hiện ra như thế nào thì tôi vẽ như thế ấy, tôi cũng chẳng hiểu nữa. Tôi lại hỏi: Còn những tên người kia, tại sao là đất cô Nhường, quán ông An? Anh nói tôi thấy như trong tai tôi có âm thanh ấy, có thể là Nhượng, Nhường, Nhương gì đó, cũng có thể 47 hay 87 tuổi. Còn An cũng có thể là Am. Anh còn dặn thêm: có thể xem cái bản đồ này là từ âm bản. Lời dặn này lúc đó tôi không để ý lắm. Vẽ bản đồ và trao đổi trong vòng nửa tiếng, anh Nhã chia tay tôi để vội vã bay về TP HCM, nơi anh đang phải điều hành một công ty tư vấn. Về phần tôi tin haykhông vẫn phải làm theo chỉ dẫn của anh, vì còn cách nào khác đâu? Tìm mộ - Ngày thứ nhất. Đúng hẹn, ngày 28/7 cả gia đình tôi phóng về bến đò La Tiến, cách Hà Nội chừng 100km. Chúng tôi chia nhau làm nhiều ngả, đối chiếu với bản đồ mà tìm. Tất cả các ngả đều không tìm được dấu hiệu khớp với bản đồ, trừ một ngả hướng thẳng vào giữa làng La Tiến. Hướng này do anh Đạt, một cán bộ về hưu có cái quán giải khát ở bến đò, nói cái bản đồ này vẽ theo đường ngày xưa, ang áng như bây giờ thôi, có mấy đoạn đã được nắn lại. Tuy nhiên đường từ bến đò đến nơi ghi là phần mộ rất ngắn, chỉ bằng 1/3 cự ly ghi trong bản đồ. Tôi dùng điện thoại di động hỏi anh Nhã, anh trả lời miễn là tìm thấy dấu hiệu đã ghi, nhất là bốn dấu hiệu nơi phần mộ, còn cự ly có thể do anh ứơc lượng không chính xác. Lần theo hướng ghi trên bản đồ và các dấu hiệu trên đường (trường học, đình, quán tạp hoá có cửa màu xanh nước biển, đến ngã tư rẽ trái, rồi rẽ trái, rồi rẽ phải tất cả đều đúng), chúng tôi đến đất nhà ông Điền, một nông dân kiêm thợ nề 60 tuổi. Cả hai vợ chồng đều gầy gò nhưng tốt bụng. Ông bà sẵn sàng cho chúng tôi bới tìm hài cốt liệt sĩ mặc dù không tin rằng đất hông đê lại có hài cốt liệt sĩo. Ông bà Điền cũng như rất nhiều người khác đều chỉ chúng tôi ra bãi đất phía ngoài vụng đê, cạnh vụng Qụ (gọi thề vì có nhiều quạ bay tới vụng để ăn xác chết bị cuốn vào vụng) mà từ nhà ông Điền nhìn ra thì về hướng đông chưa đến nửa cây số. Cạnh vụng quạ, vẫn còn ba cái mộ vô thừa nhận. Chúng tôi đến đó xem rất kĩ nhưng không thấy dấu hiệu nào của anh Nhã đã cho, đành quay về nhà ông Điền theo đúng bản đồ. Giữa mảnh đất rộng chừng hai sào, có một ngôi nhà gạch hướng đông nam, trước nhà là sân gạch tường hoa, một mảnh vườn hẹp lơ thơ mấy mảnh dây lang, rồi đến một cái ao to, tiếp đó là con đường làng, một cái đầm sen mệnh mông, rồi đến một con đê sông Luộc chạy dài từ Tây sang Đông. Sau nhà là một vừơn chuối được dọn sạch ssẽ, không có một ngọn cỏ. Đầu hồi phía đông là đường vào ngôi nhà. Vậy chỉ còn tìm kiếm ở đầu hồi phía Tây. Vườn phía này rất rộng, trồng táo mít um tùm, dưới gốc đầy cỏ dại, toàn một loại bằng hạt thóc, màu tím nhạt, tìm một ngàn cây thì đựơc chứ tìm năm cây thì biết tìm cây nào? Còn mảnh cây khô và gạch thì bừa bãi, đâu cũng có. Sục tìm một hồi lâu chúng tôi đành thất vọng quay ra. Đứng trước của nhà nhìn về phía chân đê sông Luộc, chếch về phía Tây là ngõ sau nhà anh An, 45 tuổi. Nhà xây bằng gạch để ở chứ không bày biện như một quán hàng. Anh cho biết vợ anh có một gian quán bán cháo lòng lợn ở chợ La Tiến, hàng ngày gánh đến đó, nhưng có ai cần mua tại nhà thì vẫn dành lại để bán. Như vậy thì nhà anh có đáng gọi là quán hàng không? Tôi phân vân nhưng tạm thời gọi là được đi. Còn đất bà Nhường? Cả làng không có ai tên Nhường hay Nhượng. Chỉ có bà tên Nhương, khoảng 70 tuổi. Bà này thì tôi biết vì cùng hoạt động với em gái tôi. Chính bà mấy năm trước thông qua bà Tiến nhắn tôi về nhận một bộ hài cốt vô thừa nhận mà căn cứ vào hàm răng trắng bà cho là hài cốt của cô Khang. Dấu hiệu dẫn tôi đến ngôi mộ đã có đủ, nhưng dấu hiệu của chính ngôi mộ thì không thấy. Tôi đành chờ đến 13h30. Vào giờ này giữa trưa hè oi ả, ở cái vùng đất giáp đê sông Luộc này thì kiếm đâu ra một đứa bé mặc áo hoa màu xanh. Vậy chúng tôi phân công nhau đón các ngả đường dẫn đến nhà ông Điểm, buổi trưa vắng tanh, mọi vật như ngừng thở dưới cái nắng chói chang. Quá mười phút, rồi mười lăm phút. Bỗng một tốp thiếu niên ồ ạt đạp xetừ cuối làng tới. Nhưng tất cả đều là con trai. Mấy phút sau, có một tốp con gái cũng đi bộ từ cuối làng tới. CHúng tôi giữ các em lại hỏi thăm. Các em chỉ nhà bà Nhương ở gần ngã tư sau cái đình, ba cô gái dẫn chúng tôi tới đó, còn một bé gái không muốn đi mà dừng lại. Em mặc áo xanh lá cây có hai bông hoa to in trước ngực. Em khai 15 tuổi, nhưng vóc người thì nhỏ hơn tuổi. Hỏi về những ngôi mộ vô thừa nhận, em chỉ mấy ngôi mộ ở vườn chùa ngay cạnh đó. Chúng tôi biết đấy là những ngôi mộ của những người chết đói năm 45. Em lại chỉ ba ngôi mộ phía ngoài đê cạnh vụng Quạ. Chúng tôi đã đến đó vào sáng nay, em đứng lại với chúng tôi chừng nửa tiếng bên cái ao to trước nhà ông Điển mà không có mục đích gì cả. Phải chăng đó là tín hiệu mà anh Nhã điều cho tôi? Nhưng không khai thác thêm gì ở em cả. Xế chiều gần như mất phương hướng, tôi lại gọi điện cho anh Nhã. Anh hỏi có thấy rạch nước không? Có thấy cái cống không? (dường như từ Sài Gòn anh nhìn thấy những cái đó!) Rồi anh bảo tôi đi tìm ngôi nhà mà bốn tường đều sơn trắng lốp, trước nhà đầy hoa đỏ. Cái cống lớn xây bằng gạch cạnh đất chùa, xế nhà ông Điển, thì chíng tôi đã ngồi lên đó để hỏi chuyện bé gái. Còn cái lạch nước, hồi lâu mới biết: ba chục năm trước đây, chính cái ruộng sen là một vùng ruộng trũng, ở giữa có một con đường bờ vùng chạy song song với con lạch, dẫn nước qua ruộng chùa vào ruộng mạ nay là đất ở của ông và mấy nhà xung quanh. Cuối những năm 60, để lấy đất bồi đắp con sông Luộc, người ta đã biến vùng ruộng trũng thành cái đầm sen bây giờ, nó chạy dài gần một cây số ven đê và rộng chừng vài trăm met. Con đường và cái lạch cũng biến mất trong lòng cái đấm sen ấy. Chúng tôi ngó nghiêng khắp làng để tìm “ngôi nhà mà có bốn mặt sơn trắng lốp”. Chẳng có cái nào, mọi nhà đều quét vôi vàng hoặc xám. Bỗng anh Tân Cương (một cộng sự của tôi trong nhiều lần đi tìm mộ) chỉ vào cái quán bên đường: hay cái này? Đó là cái quán nước mà chúng tôi ngồi từ sáng tới giờ. Quán nhỏ và thấp lè tè, xây bằng gạch, đủ kê một cái giường và một cái chõng bày bán giấy gói kẹo và mấy chai nước ngọt. Quán mới xây cả bốn mặt đều quét vôi trắng xoá. Một cái quán nhỏ cũng có thể xem là một ngôi nhà được chứ? Tạm cho là như vậy. Nhưng còn hoa đỏ? Tìm đâu ra ở cái quán nghèo nàn mới xây ấy những hoa đỏ? Tìm tòi hồi lâu anh Tân Cương chỉ cho tôi cái đầm sen trước mặt. Giữa mùa hè, đầm sen là cả biển hoa đó. Có thể là như vậy chăng? Chủ quán là một bà lão hom hem. Nhà cụ giáp ông Điển về phía Tây. Cụ cho xây cái quán ngay cạnh đường làng, lối đi vào nhà cụ mà cũng là cái bờ ao nhà ông Điển. Hỏi tên tuổi thì cụ cho biết là Mân, đó là tên chồng, còn tên thật của cụ tên là Nguyễn Thị Nhờ, năm nay 81 tuổi. Sục sạo đến tối mịt, chúng tôi đành quay về Hà Nội. Tôi gọi điện cho anh Nhã. Anh bảo tìm được cái quán trắng làm mốc là tốt rồi. Cự ly so với bến đò có gần hơn không sao. Có trường học, có ngã tư, có quán màu xanh dương, có cái đình, có cái cống không? Có lạch nước không? (Tôi báo cáo cho anh biết kết quả tìm được) Anh động viên nên tìm kiếm kiên tục. Hôm nay chưa thấy thì mai lại đi. “Chỉnh mộ” là một quá trình vất vả lắm đấy, không thể một lần mà trúng ngay được. Rồi anh chỉ dẫn cho tôi ngày mai phải làm gì: 8h sáng mai phải có mặt ở cái quán trắng. Tôi hoặc con tôi (Một người ruột thịt của cô Khang) thắp hai mươi nén hương ở lối đi bên cạnh. Khoảng 8h00 hay 8h30 có một con chó vàng nâu đến cách đó mười mét, nó nhìn xem mình có đi theo nó không rồi nó quay đi, thỉnh thoảng nó nhìn lại xem mình có đi theo nó không. Hãy đi theo nó, giữ một khoảng cách. Nó sẽ đi hơn 100m rồi dừnglại, ngưi và bới. Nhớ lấy chỗ đo rồi quan sát, tìm những dấu hiệu phần mộ như đã ghi trên bản đồ. Nếu dấu hiệu không xuất hiện thì chờ đến 8h30 h hay 9h, tìm kiếm quanh vùng sẽ thấy một con chó nằm một chỗ như ốm. Đánh dấu chỗ đó mà đào, đào thấy thì con chó sẽ hết ốm. Khi nào thấy tín hiệu thì gọi lại để anh chỉ dẫn tiếp. Còn tiếp
Muốn xem tiếp thì vào đây nà http://www.nhantimdongdoi.org/defau...&newsID=654&sId=Ssoft223990375954368751633130