[FONT="]Tu tập Thiền định là bước quan trọng trong con đường tu tập giải thoát trong đạo Phật. Con đường tu tập đó là Bát chánh đạo, và Thiền định là bước quan trọng mà hành giả phải tu tập công phu và miệt mài nhất trong nhiều đời, nhiều kiếp. Qua các kiếp sống như thế, đệ tử Phật tu tập theo Bát chánh đạo: Vừa gây tạo làm tăng trưởng công đức, giữ gìn giới hạnh, trả bớt các ác nghiệp quá khứ và trau dồi công phu thiền định. Đến khi công đức dồi dào, giới hạnh toàn vẹn thì các kết quả về Thiền định ngày càng khởi sắc. Đức Phật cũng tóm tắt lộ trình tu tập Bát chánh đạo thành trình tự 3 giai đoạn gọi là Tam vô lậu học: Giới – Định – Tuệ, như là một sơ đồ vắn tắt để chúng sinh y cứ tu tập.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Chúng ta biết rằng, Thiền định trong mà Đức Phật đã dạy là Chánh thiền, Chánh định. Ở bên ngoại đạo cũng có các phương pháp tu thiền khác, và họ cũng đạt được các mức định( kết quả) khác. Lộ trình của ngoại đạo có thể không theo Giới – Định – Tuệ, tức là họ không tu tập Giới, mà vẫn có Định, nên cái Định đó khác với Chánh định của đạo Phật, mà chúng ta thường gọi đó là Tà định. [/FONT] [FONT="]Giáo lý để đệ tử Phật tu tập giải thoát là những lời Phật dạy, tức giáo pháp của Ngài. Đó là tam tạng Kinh điển quý báu mà các vị A la hán đã kiết tập sau khi Phật nhập diệt không lâu. Khi Phật nhập Niết bàn, có căn dặn rằng: “Hãy lấy giáo Pháp và giới bổn của ta làm Thầy”, có nghĩa là lấy giáo lý mà ngài đã dạy làm con đường tu tập, và hành trì giới hạnh tinh nghiêm thì mới có thể tiến sâu trên con đường tu tập về vô ngã được. Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của Giới: “Giới còn thì Phật pháp còn, Giới mất thì Phật pháp mất”, thật vậy, y chỉ theo lộ trình Giới – Định – Tuệ thì đối với hành giả tu tập theo Phật đạo mà không trì giới thì kết qủa chẳng khác gì bỏ cát vào nồi nấu mà đòi nấu chín được thành cơm.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Trong bài này, chúng ta nêu lên các kết quả, tức là các từng mức chứng đắc Thiền định trong đạo Phật. Trong tạng King Nikya, Đức Phật đã giới thiệu về các cảnh giới này rất rõ ràng. Phật thường lấy chia ra làm 2 loại tiêu chuẩn theo 2 kiểu dụng công là Thiền và Định. Với Thiền thì có 4 mức thiền hữu sắc là: Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, và Tứ Thiền. Với Định thì có 5 mức Định vô sắc là: Không vô biên xứ Định, Thức vô biên xứ Định, Vô sở hữu xứ Định, Phi tưởng phi phi tưởng xứ Định, và Diệt thọ tưởng Định. Trong phạm vi bài này sẽ giới thiệu kết quả của 4 mức Thiền. [/FONT] [FONT="]Thiền và Định là 2 kiểu dụng công khác nhau. Thiền là trụ vào hơi thở, tâm có tính chất thu về, còn Định là trải tâm phủ trùm khắp pháp giới, không trụ vào đâu cả. Trong cảnh giới tu tập, Phật giới thiệu các mức Thiền – Định như trên làm tiêu chuẩn căn bản, chứ thật ra, trong Chánh định – chi phần thứ 8 của Bát chánh đạo, với các vị Thánh hiền, Bồ tát trên con đường thực hiện hạnh nguyện cứu độ chúng sinh, thì cảnh giới Thiền định lại có vô số các mức định rất thù diệu khác, rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, những mức định này vẫn nằm trong Chánh định của Bát chánh đạo của Phật. Chúng ta nhớ rằng, Bát chánh đạo là đạo lộ tối thượng và duy nhất, mà tất cả những kết quả dù từ người mới bắt đầu học Phật đến Thập địa bồ tát khi thực hành Phật đạo cũng chỉ nằm trong 8 chi phần của Bát chánh đạo mà thôi. Đức Phật nói rất là khiêm tốn, nhẹ nhàng, nhưng tất cả những thứ mà ngài dạy là quan trọng và đầy đủ( nắm lá trong bàn tay), còn những chiếc lá đó như thế nào, thì đệ tử Phật sẽ tu tập và triển khai theo đúng tinh thần mà Phật đã chỉ dạy. Nếu ai đó nói điều gì đó cao siêu mà cho rằng độc đáo và hay hơn Bát chánh đạo, thì người đó đã hiểu lầm và đang mắc vào tà kiến, tà đạo.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="]Các từng mức căn bản chứng đạt Thiền định diễn ra theo các trình tự sau:[/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Chứng Chánh niệm tỉnh giác[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Chứng Sơ Thiền( tương đương Không vô biên xứ Định)[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Chứng Nhị Thiền( tương đương Thức vô biên xứ Định)[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Chứng Tam Thiền( Phần đầu tương đương Vô sở hữu xứ Định, phần sau tương đương Phi tưởng phi phi tưởng xứ Định)[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Chứng Tứ Thiền.( Tương đương Diệt thọ tưởng Định)[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Qua từng mức Thiền định, chúng ta cũng giới thiệu vắn tắt về quá trình vượt qua cấu trúc 5 ấm của thân và tâm, mọi người có thể tìm hiểu kỹ hơn ở các tài liệu về 5 ấm trong đạo Phật. 5 ấm bao gồm: ( Sắc ấm – Thọ ấm – Tưởng ấm – Hành ấm – Thức ấm).[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Chánh niệm tỉnh giác[/FONT][FONT="][/FONT] [FONT="]Muốn nhập định thì phải loại bỏ [/FONT][FONT="]vọng tưởng, sau một thời gian luyện tập Thiền, thiền giả đạt được 'Chánh niệm tỉnh giác nghĩa là tâm không loạn động như trước, những suy nghĩ vẫn vơ vừa mới manh nha nổi lên đã bị phát hiện và loại bỏ. Lúc này hành giả đã cảm thấy một phần an lạc và sáng suốt hơn xưa rồi, tùy duyên mỗi người mà trực giác cũng phát triển một chút xíu, có khi chỉ cần nghe người ta nói nửa câu thì biết ý của họ là gì, thậm chí có khi chỉ cần nhìn mặt là biết kẻ ngay người gian, biết người đối diện đang nói thật hay nói dối..v.v.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Thiền là lĩnh vực tâm linh, nên không thể được hỗ trợ bởi bất cứ phương tiện vật chất nào, ta phải tự lực cánh sinh. Vì phải có quyết tâm cao, chịu đựng sự đau chân, mỏi lưng, chiến thắng chính tâm trí của mình, nên lâu ngày hành giả sẽ có đức tính kiên nhẫn, ý chí sắt đá, sức chịu đựng cao, trực giác tốt..v.v.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Chánh niệm tỉnh giác được tu tập trong đời sống, luôn biết rõ mọi suy nghĩ, mọi việc mình làm trong từng giây, từng phút của cuộc sống( kết hợp với tu tập Thân hành niệm): [/FONT][FONT="]khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.[/FONT][FONT="](Kinh sa môn quả - Trường bộ Kinh)[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Ở Chánh niệm tỉnh giác, hành giả phá trừ được 5 kiết sử: Tham ái, sân hận, hôn trầm, trạo cử, nghi.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Tham ái: Loại trừ được tham ái( tình yêu, sự yêu thích người khác giới, không loại trừ cả trường hợp người mắc bệnh đồng tính nữa).[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Sân hận: Không còn nóng giận, bực bội, thù hận, ghét bỏ.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="]Hôn trầm: Không còn buồn ngủ.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Trạo cử: Luôn bất động, không hấp tấp cử động cơ thể, tay chân.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Nghi: Vững tin đường lối tu tập theo thiện pháp.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="]Trong Kinh Thân hành niệm( Trung bộ Kinh), Phật cũng dạy về tu tập trong 4 oai nghi, tức là tu tập trong cuộc sống thường nhật và đạt được các kết quả sau:[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="](1) Lạc bất lạc được nhiếp phục, và bất lạc không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục bất lạc được khởi lên; (2) khiếp đảm sợ hãi được nhiếp phục, và khiếp đảm sợ hãi không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm sợ hãi được khởi lên. (3) Vị ấy kham nhẫn được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, mặt trời, các loài rắn rết, các cách nói khó chịu, khó chấp nhận. Vị ấy có khả năng chịu đựng được những cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, thô bạo, chói đau, bất khả ý, bất khả ái, đưa đến chết điếng.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Với Chánh niệm tỉnh giác tức là đạt được Bát phong suy bất động. Ta thường nghe có câu thơ nói về Vô ảnh thường giao tâm tựa thủy gì đó, hay câu Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến mà người đời thường hay nói thì đó là cảnh giới này của người tu Thiền. Còn người đời chỉ nói cho vui vì thấy hay hay vậy thôi, chứ đâu biết là đó là một kết quả của thiền định, phải tu tập mới có được.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Sau khi một người phá bỏ được 5 triền cái, Phật mô tả là: “[/FONT][FONT="]như không mắc nợ, như không bệnh tật, như được khỏi tù tội, như được tự do, như đất lành yên ổn[/FONT][FONT="]” rất nhẹ nhàng, hạnh phúc.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Sơ thiền[/FONT][FONT="][/FONT] [FONT="]Bắt đầu bước từ Chánh niệm tỉnh giác vào Sơ thiền, Phật mô tả như sau:[/FONT] [FONT="]Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Các mức thiền này chỉ dành cho người có quyết tâm tu tập, lìa bỏ Ái Dục. Và có chuẩn bị tâm lý trước, vì nó cần một môi trường thật sự yên tĩnh, cách ly thế gian.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Để leo lên từng mức thiền, nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào căn cơ từng người,có thể là vài ngày, vài tuần, có khi khoảng vài chục năm, có khi mười mấy hai mươi năm, có khi sang cả kiếp khác. Nếu kiếp này không lập nguyện, thề ước trước Phật thì sang kiếp sau đảm bảo quên sạch và Phàm phu vẫn là Phàm phu.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Sơ thiền[/FONT][FONT="] là mức nhập định đầu tiên, nhưng phải là đã chứng được Chánh niệm tỉnh giác (CNTG) và phá trừ xong [/FONT][FONT="]Năm triền cái. Hành giả như lọt vào một trạng thái thanh tịnh hơn, và tự động, chứ không còn phải gắng sức giữ gìn như trong CNTG nữa. Khi chứng được Chánh niệm, hành giả thấy tâm mình cũng đã là thanh tịnh rồi, nhưng còn phải khéo léo giữ gìn nhẹ nhẹ. Nhưng từ Sơ Thiền trở đi, hành giả không còn phải giữ gìn nữa mà tâm tự động an trú trong định. Hành giả thấy thân của mình chuyển động từ trạng thái cứng (lúc phá xong triền cái Trạo cử trong Năm triền cái) sang trạng thái mềm lỏng như một khối nước gì nhớt nhớt giống như xà bông.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Tâm hành giả dĩ nhiên là vắng lặng, nhưng thật ra vẫn còn những ý niệm về công phu của mình, về thành tựu của mình. Những ý niệm này rất thầm lặng, nên hầu như hành giả không biết là mình đang còn ý niệm, cứ tưởng rằng mình đã hoàn toàn thanh tịnh. Phật diễn tả đó là trạng thái ly dục sinh hỷ, còn tầm còn tứ (xóa bỏ Ái Dục, đạt được An vui, nhưng còn tiềm ẩn).[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Trong Sơ thiền, hành giả lìa bỏ được các ham muốn thế gian vì niềm an vui của nội tâm vừa đầy đủ, vừa thanh khiết, không cần phải giải trí bằng vật chất bên ngoài. Toàn thân hành giả luôn ở trong trạng thái vui sướng nhè nhẹ và tràn đầy. Sau khi chết, nếu vẫn còn giữ được trình độ này thì sẽ sinh vào cõi trời Sơ Thiền.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Cái ý niệm thầm kín về công phu và sự thành tựu của mình tạo nên một loại kiến giải Phật Pháp và tâm tự hào bí mật. Hành giả sẽ dễ dàng đối đáp trôi chảy và nắm bắt các lĩnh vực khó, trừu tượng, hay say sưa diễn thuyết lưu loát nếu có cơ hội. Vì vậy, tuy Sơ thiền rất là vĩ đại nhưng cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ đối với đạo đức.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="]Phân tích cấu trúc 5 ấm:[/FONT][FONT="] Sơ Thiền là vượt qua Sắc ấm vào Thọ ấm.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Nhị thiền[/FONT][FONT="][/FONT] [FONT="]“Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần”.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Là kết quả tiếp theo nếu hành giả đủ công đức. Hành giả sẽ thấy toàn thân mình giống như nước trong mát tuôn trào bất tận mà Phật diễn tả như hồ nước được suối phun và mưa tuôn mãi mà không bao giờ lọt nước ra khỏi hồ. Dĩ nhiên nước thì mềm hơn, lỏng hơn nước sền sệt của xà bông. Từ toàn thân cứng của Chánh niệm, tiến lên Sơ thiền thì thân sền sệt như nước xà bông, tới Nhị thiền thì thân đã mềm hoàn toàn như nước nguyên chất, và lại còn thêm cảm giác tuôn tràn mãi mãi.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Lúc này những ý niệm thầm kín cũng biến mất, nên trong đời sống hành giả không còn ham thích trình bày phô trương, và rất hiền lành. Phật gọi là hết tầm hết tứ.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Lúc này hành giả thành tựu trí tuệ rất sắc bén nhanh nhạy, kiến giải Phật pháp là bất tận vô ngại, không ai có thể hỏi vặn vẹo được, việc gì nhìn thoáng qua là biết rõ, ngồi thiền rất lâu, thường biết trước giờ chết[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Nếu đừng bị [/FONT][FONT="]tà kiến xâm nhập thì đường giải thoát của người đạt Nhị thiền là chắc chắn. Nếu bị tà kiến, lầm cho mình là viên mãn, tưởng rằng mình đã kiến tánh thành Phật, thì hành giả hưởng hết phước kiếp này qua kiếp sau sẽ bị thoái đọa lui sụt xuống mức độ thấp hơn nhiều.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="]Phân tích cấu trúc 5 ấm:[/FONT][FONT="] Nhị Thiền là vượt qua Thọ ấm vào Tưởng ấm[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Ở[/FONT][FONT="] giai đoạn này, Hành giả đã khá tự tại, phong cách ung dung đĩnh đạc, tâm hồn rất thanh thản, ái kiến (Tình cảm) lắng dịu vì không có thọ để kích động ái; đạo đức tương đối hoàn chỉnh. Ngang đây, Hành giả đã tăng trưởng trực giác, có thể đoán biết một số chuyện quá khứ vị lai khái quát, nhưng không chi tiết lắm, có thể đoán biết một phần ý nghĩ thô của người khác, có thể dùng năng lực bằng tay chữa một số bệnh thông thường. Hành giả cũng có thể ngồi kiết già bất động chờ cái chết đến, nhưng chưa có thể chết theo ý muốn, chỉ thụ động chờ mà thôi, dĩ nhiên là biết trước lúc chết.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Thường thì đến những giai đoạn này, Hành giả cảm thấy mình không phải dụng công nữa mà tâm vẫn tự nhiên thanh tịnh nhẹ nhàng. Vì thế dễ phát sinh tâm tự mãn thầm kín. Cần phải có thiện tri thức hướng dẫn để Hành giả biết mình còn kém, bỏ tâm tự mãn và cố gắng dụng công tiếp.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Tam thiền[/FONT][FONT="][/FONT] [FONT="]“Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là "Xả niệm lạc trú", chứng và an trú thiền thứ ba. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân, không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần”.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Được Phật diễn tả toàn thân như một bông hoa sen đang vươn lên từ trong nước, được nước bao phủ với nội tâm là xả niệm lạc trú (dứt bỏ ý niệm, thường xuyên an lạc).[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Niềm vui của Tam thiền rất đằm thắm nhỏ nhiệm và đầy khắp, giống như hoa sen ngập trong nước, tẩm ướt, tràn ngập, nhưng không thấm nước, cũng vậy, niềm vui của Tam thiền rất tự tại, bình an và vượt khỏi cơ thể, giống như cả không gian đều cùng an vui vậy. Thân của hành giả lúc này giống như một khối không khí hân hoan an lạc.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Ý nghĩa của xả niệm là hành giả đã vượt qua được Vô thức (theo khoa học, Vô thức chiếm hơn 90% cuộc sống của con người, ý thức chỉ chiếm phần nhỏ). Vượt qua được nó nghĩa là tâm hồn đã thật sự ổn định. Những bản năng sinh tồn, bản năng hưởng thụ... đều bị kiềm chế.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Lúc này khi ngồi thiền nhập định, hành giả không còn nghe thấy mọi cảnh vật, tiếng động bên ngoài, hoàn toàn an trú vững chắc trong thế giới nội tâm sáng suốt vi diệu thanh tịnh của mình.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="]Phân tích cấu trúc 5 ấm: [/FONT] [FONT="]Phần đầu Tam thiền: Vượt qua Tưởng ấm vào Hành ấm[/FONT][FONT="]. K[/FONT][FONT="]hi vượt khỏi Tưởng ấm, Hành giả không còn nghe thấy ngoại cảnh bên ngoài. Đây là chỗ mà một đạo sĩ Ấn Độ khoe rằng : "Khi nhập định tôi không còn nghe thấy tiếng của năm trăm cỗ xe bò đi ngang".[/FONT] [FONT="]Khi vượt khỏi Tưởng ấm, Ý thức sẽ nhập vào cõi tâm Vô thức của Hành ấm! Lúc này những hoạt động bí mật kỳ lạ của Hành ấm được khám phá rõ ràng Hành giả biết rõ mọi hiện tượng như mộng du, đồng cốt, giáng cơ... đều do Hành ấm đạo diễn. Do đó những tà kiến sai lầm bị phá vỡ rất nhiều.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Ở giai đoạn này Hành ấm phát huy đại thần lực; Hành giả có thể đằng vân, phi hành, biến hóa, phân thân, ẩn thân, hóa ra lửa, hiện ra hào quang, làm thành mưa bão... Năng lực của Hành ấm phá vỡ những quy luật của vật lý thông thường.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Đến đây mới đáng gọi là nhập định thật sự vì Hành giả không còn thấy, không còn nghe, không còn tiếp xúc với ngoại cảnh. Những ý niệm sâu kín của Hành ấm bị hóa giải nên tâm cực kỳ yên tĩnh.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Do hoàn toàn không còn bị Tưởng ấm làm ngăn ngại nên Hành ấm và Thức ấm phát huy đại thần lực tiềm tàng của mình. Thức ấm có thể biết rất nhiều chuyện nếu muốn, có thể nhớ vài kiếp quá khứ và tiên tri chuyện cả trăm năm sau; có thể đoán biết tâm của chúng sinh dù ở cách xa; còn Hành ấm, tuy đã có thể khởi thần thông biến hóa, nhưng vì cái Chú Ý đang trụ ở đây và có vẻ đang canh giữ nên Hành ấm vẫn còn thụ động. Hành giả thích ngồi nhập định bất động hơn là khởi dụng làm chuyện này chuyện nọ.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Ở trình độ này, Hành giả có thể dùng sức định để tự tử, nghĩa là muốn sống hay chết tùy ý. Ngoài ra, nếu có tác ý Hành giả có thể lưu lại nhục thân không hoại rất lâu, nhà sư Vũ Khắc Minh Việt Nam hoặc các vị sư Trung Hoa, Tây Tạng thường lưu lại nhục thân như thế.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Trình độ này là Vô Sở Hữu Xứ Định hoặc tương đương với giai đoạn đầu của Tam Thiền . Vì Vô thức rất là dài nên rất khó vượt qua hết hẳn. Hành giả an trụ cái Chú Ý vào cuối Hành ấm nên Ý thức đã bỏ hẳn Tưởng ấm, nếu muốn, chúng ta có thể nói rằng ý thức đã nhập vào Vô thức. Lúc này, Tình cảm đã bị kiểm soát hoàn toàn, những thương ghét của trần gian không còn tồn tại trong tâm nữa.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Lúc này, Hành giả đã chuyển sang một nhãn quan mới, một “hệ” mới để nhìn vạn hữu. Hành giả thấy vạn hữu như là hư vô. Tâm tham đắm trần gian dường như đã hết. Chúng ta dùng chữ “dường như”, vì ở trong Ký ức vẫn còn lưu lại những ý niệm tham đắm từ quá khứ và có thể khởi ra lại nếu gặp sự kích động nào đó.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Phần sau Tam Thiền: Vượt qua Hành ấm vào Thức ấm[/FONT] [FONT="]Tới giai đoạn này hành giả là những người đạo đức tuyệt vời vì gốc của Bản ngã đã bị vượt qua. Dĩ nhiên Thức ấm còn thì nhân luân hồi chưa hết, nhưng đến đây, hành giả đã xứng đáng được xưng tụng là một vị Thánh cao cả giữa trần gian. Đây là một ẩn sĩ chân chính không còn khoe khoang phô trương, không còn một ham muốn nhỏ nhặt nào cho tự kỹ.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Lúc này Thức ấm phát huy đại dụng, trùm phủ cả không gian địa cầu hoặc cả một hệ tinh. Hành giả có thể nhớ lại một số kiếp quá khứ và thấy trước một số kiếp vị lai. Hành giả có thể tìm hiểu bất cứ chuyện gì xảy ra trên cuộc đời, bởi vì Thức ấm là cái biết trực giác soi thấu mọi ngõ ngách của trần gian.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Vì Hành ấm không còn bị cái Chú Ý canh giữ nên có thể tích cực khởi đại dụng. Hành giả có thể tự tại phi hành, biến hóa. Chúng ta gọi là vượt qua Hành ấm không có nghiã là không còn Hành ấm, mà có nghĩa là Hành ấm đã thuần hóa không khởi ý niệm nữa nên cái Chú Ý đã không còn cần thiết đứng ở đấy. Chúng ta nên nhớ rằng Hành ấm không phải khởi từng ý niệm một lúc mà khởi vài ngàn ý niệm đồng thời. Thế nên khi Hành ấm đã yên lắng thì đó là một sự kiên phi thường.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Nếu lúc này Hành giả buông bỏ cái CHÚ Ý khiến tâm trùm phủ thênh thang thì gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định. Ngang cái định vĩ đại này, vì cái Chú Ý không còn nên Hành giả không còn đường để đi tới nữa. Đó là chỗ dừng lại của ông Uất đầu lam Phất mà đức Phật đã đạt được và mơ hồ cảm nhận nó chưa phải cứu kính.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Nếu Hành giả tiếp tục giữ hơi thở, cái Chú Ý bám vào hơi thở thì còn có thể tiến hơn nữa.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="] Ở giai đoạn vượt khỏi Hành ấm này, Hành giả lại chuyển sang một nhãn quan khác, một “hệ” khác nữa. Hành giả thấy vạn hữu, dù là cây đá, cũng đều làm bằng chất liệu của tâm, tất cả đều là tâm. Vì thế, chỉ bằng tâm của mình, hành giả có thể tác động vào thế giới vật chất bên ngoài, có thể bay lên cao, có thể tàng hình, di chuyển mọi vật từ xa, hiện mọi cái từ có thành không, từ không thành có. Hành giả không còn nhận biết vạn hữu bằng giác quan tai mắt nữa mà bằng tâm Vô thức vi diệu của mình, ngồi ở đây mà biết cả mười phương tám hướng.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Tứ thiền[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]“[/FONT][FONT="]Tỷ-kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú vào thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.”[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Là mức thiền cuối cùng của các bậc thiền Sắc giới. Phật diễn tả đó là trạng thái xả niệm, thanh tịnh, không lạc, không khổ. Xả niệm của Tứ thiền hơn hẳn Tam thiền vì đã hoàn toàn vượt khỏi Vô thức, kể cả Ý thức. Trong con người ta, Vô thức đảm nhận việc điều khiển hệ hô hấp, tiêu hóa, các tuyến nội tiết... những thứ mà ta không chủ động điều khiển được. Chiến thắng được Vô thức nghĩa là có thể dừng được hơi thở, dừng mọi sự sống, nhập định vài trăm năm rồi xuất định, sống bình thường, sống tiếp cái tuổi ngày xưa. Còn Ý thức thì liên quan tới các Giác quan, chiến thắng được Ý thức sẽ khai mở những khả năng của giác quan như thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông..v.v. (xem [/FONT][FONT="]Thần thông). Đức Phật quy định phải chứng đủ Tam Minh, Lục Thông mới đắc đạo quả A la hán. Tam Minh bao gồm: Túc mạng Minh, Thiên nhãn Minh, Lậu Tận Minh. Lục thông bao gồm: Túc mạng Thông, Thiên nhãn Thông, Thiên nhĩ Thông, Tha tâm Thông, Thần túc Thông, Lậu tận Thông. [/FONT] [FONT="]Trong Kinh sa môn quả, Trường bộ Kinh, Đức Phật mô tả:[/FONT] [FONT="] [/FONT] §[FONT="] [/FONT][FONT="]Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Thần túc Thông-[/FONT] [FONT="] [/FONT] §[FONT="] [/FONT][FONT="]Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.[/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Túc mạng Minh -[/FONT] [FONT="] [/FONT] §[FONT="] [/FONT][FONT="]Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí huệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng.[/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Thiên nhãn Minh-[/FONT] [FONT="] [/FONT] §[FONT="] [/FONT][FONT="]Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật "đây là khổ", biết như thật "đây là nguyên nhân của khổ", biết như thật "đây là khổ diệt", biết như thật "đây là con đường đưa đến khổ diệt", biết như thật "đây là những lậu hoặc", biết như thật "đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật "đây là sự diệt trừ các lậu hoặc", biết như thật "đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát. Vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.[/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Lậu tận Minh-[/FONT] [FONT="]Trong Kinh thân hành niệm, Phật nêu lên các kết quả: ( Từ 4 -10, 3 phần đầu ở xem ở mục Chánh niệm tỉnh giác)[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]4) Tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, vị ấy chứng được bốn Thiền, thuần túy tâm tư, hiện tại lạc trú. [/FONT] [FONT="](5) Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện một thân; hiện hình biến đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể, thân có thần thông bay cho đến Phạm thiên;[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="](6) với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, ở xa hay ở gần.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="](7) Với tâm của vị ấy, vị ấy biết tâm của các chúng sanh, các loại người; tâm có tham, biết tâm có tham; tâm không tham, biết tâm không tham; tâm có sân, biết tâm có sân; tâm không sân, biết tâm không sân; tâm có si, biết tâm có si; tâm không si, biết tâm không si; tâm chuyên chú, biết tâm chuyên chú; tâm tán loạn, biết tâm tán loạn; tâm đại hành, biết tâm đại hành; tâm không đại hành, biết tâm không đại hành; tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng, biết tâm vô thượng; tâm Thiền định, biết tâm Thiền định; tâm không Thiền định, biết tâm không Thiền định; tâm giải thoát, biết tâm giải thoát; tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="](8) Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="](9) Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.[/FONT] [FONT="] [/FONT] [FONT="](10) Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri với thượng trí, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát không có lậu hoặc.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Phân tích cấu trúc 5 ấm: Tứ Thiền là vượt qua Thức ấm vào Bản thể tuyệt đối( Niết bàn)[/FONT] [FONT="]Ở Tam thiền, chưa vượt qua cõi tâm Vô thức, hơi thở hành giả nhỏ như một hạt bụi. Hành giả tiếp tục giữ kỹ hơi thở và an trụ tam thiền suốt bảy ngày, hoặc một tháng, hoặc ba tháng, tùy theo căn cơ sai biệt. Cuối cùng, dù luôn luôn giữ hơi thở, hơi thở biến mất.Hơi thở biến mất, CÁI BIẾT biến mất và Bản ngã biến mất. Thức ấm đã bị vượt qua.[/FONT] [FONT="]Bản thể tuyệt đối hiện bày.[/FONT] [FONT="]Dùng ngôn ngữ để diễn tả Bản thể tuyệt đối là một việc làm vô cùng sai lầm. Sự thanh tịnh cực độ của Bản thể không thể diễn tả bằng ngôn ngữ. Tuy nhiên, vì có quá nhiều người hiểu lầm Niết Bàn của Đạo Phật nên chúng ta gượng gạo diễn tả vài tính chất của Niết Bàn, mong quý độc giả thông cảm, dùng trực giác để thầm cảm thông.[/FONT] [FONT="]Nơi Bản thể, Ngã và Pháp không còn tồn tại. Tất cả vạn hữu đều chung đồng quy tụ nơi Bản thể Tuyệt Đối. Khi nhập Bản thể, vị đó đã trở thành vạn hữu. Vị đó cũng là trăng, là sao; vị đó cũng là mây, là gió, vị đó cũng là núi, là sông; vị đó cũng là con kiến bò, là chiếc lá rơi... Nghĩa là tất cả đều chung đồng không còn chia cách.[/FONT] [FONT="]Bình thường vị đó ở trong thể tịch lặng tuyệt đối, không một điều gì có thể lay động chánh định tối thượng này. Vì thế Đức Phật đã tuyên bố: [/FONT] [FONT="]"Khi ta nhập định, ta không nghe cả tiếng sét đánh chết con bò gần đấy!"[/FONT] [FONT="]Tuy nhiên, khi cần tìm hiểu điều gì, vị ấy hướng tâm đến đó, lập tức cái cảm ứng xuất hiện. Ví dụ, một bậc thầy chứng đạo, muốn tìm hiểu việc làm của một người đệ tử ở xa, vị đó nhập định vào Bản thể. Lập tức vị đó trở thành duy nhất với đệ tử, biết rõ mọi ý nghĩ việc làm của đệ tử. Cái Biết mà người Biết và đối tượng bị Biết đã trở thành duy nhất, gọi là CẢM ỨNG. Tuy vẫn biết mà Ngã và Pháp không còn.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Cái cảm ứng này không bị thời gian và không gian chia cách.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Ví dụ, khi cần tìm hiểu đời sống của Đức Phật, một vị đã đắc đạo nhập định vào Bản thể, lập tức vị đó trở thành duy nhất với Đức Phật trong thời tại thế cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm. Nơi sự duy nhất này, vị đó sống trở lại, cảm nhận trở lại những gì Đức Phật đã trải qua trong suốt kiếp sống cuối cùng của mình. Từ khi đản sinh, trưởng thành, xuất gia, tu tập, thành đạo, độ sinh, nhập diệt. Và vị đó sẽ thấy rằng Đức Phật, trên bước đường hoằng hóa, gặp khó khăn chống đối gấp mười lần những gì kinh sách kể lại.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Thực ra khi còn an trụ ở Thức ấm, nếu không có vị thầy kinh nghiệm hướng dẫn, Hành giả sẽ lầm tưởng đó là Niết Bàn vì cảnh giới của Thức ấm và Niết Bàn Tuyệt Đối không có ranh giới rõ rệt. Nó giống như dòng sông đã đổ về tới cửa biển chứ chưa phải là biển, cũng mênh mông hùng vĩ nhưng chưa phải là khơi xa.[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Chúng ta ví dụ vọng tưởng như những mạch nước nhỏ, Sơ thiền như dòng suối, nhiều dòng suối dồn lại thành dòng sông của Nhị thiền, nhiều dòng sông dồn lại thành con sông lớn của Tam thiền, và sự an trụ Thức ấm cuối cùng chính là chỗ dòng sông lớn đã về đến cửa biển.[/FONT] [FONT="]Khi bỏ cửa biển để vào hẳn đại dương của Bản Thể Tuyệt Đối, Hành giả trở thành một Đấng Giác Ngộ ALaHán siêu việt cả tam giới, giải thoát sinh tử luân hồi. Thường thì Đức Phật lấy Tam Minh hay Lục Thông để xác định sự giải thoát. Vị đó phải đủ khả năng nhớ lại vô lượng kiếp của mình -Túc Mạng Minh- , quan sát được những kiếp luân hồi của mọi chúng sinh và thấy rõ sự chi phối rất chặt chẽ của luật Nghiệp báo lên tất cả vạn hữu - Thiên Nhãn Minh - có khả năng phi hành biến hoá tự tại như phân một thân thành ngàn thân, biến mất chỗ này hiện ra chỗ kia, hiện ra lửa ra nước....[/FONT] [FONT="][/FONT] [FONT="]Kết luận: [/FONT] [FONT="]Bài viết xin giới thiệu ngắn gọn các mức chứng Thiền Định của đạo Phật. Thiền định ở đây là Thiền Tứ niệm xứ mà Phật dạy trong Kinh điển( Trung bộ Kinh), với các phép quán niệm thông qua hơi thở và kết hợp các pháp môn khác mà Phật đã tuyên giảng rất cụ thể và đầy đủ trong Trung bộ Kinh. Xin chúc Quý vị tinh tấn và an lạc![/FONT] [FONT="]Tham khảo:[/FONT] [FONT="] - Kinh Sa môn quả - Trường bộ Kinh[/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Kinh niệm xứ - Trung bộ Kinh[/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Kinh Thân hành niệm – Trung bộ Kinh[/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Kinh Nhập tức xuất tức( quán niệm hơi thở) – Trung bộ Kinh[/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Năm ấm là gì, TT. Thích Chân Quang[/FONT] [FONT="]-[FONT="] [/FONT][/FONT][FONT="]Giáo trình thiền học, TT. Thích Chân Quang.[/FONT] [FONT="] [/FONT]