Tìm kiếm bài viết theo id

Đồng Tiền Qua Các Thời Đại

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi sesusi20, 31/5/09.

ID Topic : 957574
Ngày đăng:
31/5/09 lúc 15:16
  1. sesusi20 Thành Viên Cấp 4

    Tham gia ngày:
    17/6/06
    Tuổi tham gia:
    19
    Bài viết:
    1,144
    Dài ngắn .... tròn vuông

    Ca dao ta có câu:

    Chị kia có quan tiền dài
    Có bị gạo nặng coi ai ra gì?

    Đã có "quan tiền dài" thì liệu có "quan tiền ngắn" hay không? Xin thưa: Có đấy! ở Việt Nam ta, đồng tiền của tất cả các triều đại phong kiến thời trước (trừ thời Hồ Quý Ly là dùng tiền giấy) đều là tiền kim khí, được đúc bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng kẽm hoặc đồng pha kẽm, pha thiếc. Phổ biến nhất trong dân gian là tiền đồng. Tiền hình tròn, có lỗ vuông ở giữa (khổng phương). Người xưa quan niệm trời tròn, đất vuông (trời xanh như tán lọng tròn; đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông), nên đồng tiền đúc ngoài tròn trong vuông là tượng hình trời đất. Trời thuộc dương, đất thuộc âm. Do đó hình dáng đồng tiền cũng hàm ý một biểu tượng âm dương. Nó phản ánh một triết lý có truyền thống lâu đời của người Việt: Triết lý vuông tròn. Nói "vuông tròn" là nói đến sự hoàn thiện, sự trọn vẹn. Ta có thể gặp trong ca dao, trong tục ngữ và cả trong thơ Việt Nam rất nhiều câu có hai từ vuông tròn đã bị rút nghĩa thực để thay vào đó là một nghĩa khác):

    Lạy trời cho đặng vuông tròn
    Trăm năm cho trọn lòng son với chàng!

    Hay là:

    Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn
    Khuôn xanh biết có vuông tròn mà haỵ

    Đồng tiền ngoài tròn trong vuông đó, về diện tích, bao giờ cũng có tỷ lệ bẩy phần tròn, ba phần vuông. Thế nên mới có câu:

    Ba vuông sánh với bẩy tròn
    Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu

    Từ thời Lê, ở ta có hai loại tiền, đều gọi là "quan" cả, nhưng giá trị khác nhau. Tiền quý và tiền gián. Về giá trị, một quan tiền quý (còn goị là cổ tiền) bằng 10 tiền, mỗi tiền là 60 đồng. Như vậy một quan tiền quý bằng 600 đồng.

    Một quan là sáu trăm đồng;
    Chắt chiu ngày tháng cho chồng đi thi
    (Ca dao)

    Tiền gián (còn gọi là sử tiền) chỉ có 6 tiền, mỗi tiền cũng 60 đồng. Một quan tiền gián chỉ có 360 đồng. Vì tiền là tiền đúc, cho nên người ta phải lấy dây xâu tiền thành chuỗi (sử ghi rằng quyền thần Trương Phúc Loan thời chúa Nguyễn Phúc Dương nhiều tiền đến nỗi các dây xâu tiền mục ra, hàng năm y bắt dân phải nộp tới... 50 gánh dây mây chỉ để xâu tiền). Quan tiền quý (600 đồng) xâu thành chuỗi chắc chắn phải dài hơn quan tiềngián (360 đồng). Thế nên nói "quan tiền dài" là nói "quan tiền quý". "Quan tiền ngắn" tức là "quan tiền gián".

    Xung quanh chuyện"quan ngắn, quan dài" có một giai thoại rất hay. Một hôm, "bà chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương hỏi vay Chiêu Hổ (một danh sĩ đương thời, bạn thân của bà) năm quan tiền. Chiêu Hổ nhận lời, nhưng rồi chỉ đưa đến 3 quan tiền dài. Hồ Xuân Hương cho là Chiêu Hổ kẹt sỉ, nói dối, bèn làm một bài thơ gửi đến, gọi mỉa Chiêu Hổ là "cuội" (nói dối như cuội):

    Sao nói rằng năm, lại có ba
    Trách người quân tử ở sai ngoa
    Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt
    Nhớ hái cho xin nắm lá đa

    Nhận được thơ, Chiêu Hổ giận lắm. Vì Hồ Xuân Hương hỏi vay năm quan nhưng không nói rõ là năm quan nào. Nên ông đem đến 3 quan dài (3x600=1.800đồng) thì cũng bằng năm quan ngắn (5x360=1.800đồng) chứ sao. ông bèn làm một bài thơ "trả đũa" lại:

    Rằng gián thì năm, quý có ba
    Trách người thục nữ tính không ra
    Ừ! Rồi thong thả lên chơi nguyệt
    Cho cả cành đa lẫn... củ đa"

    Ca dao có bài "đi chợ tính tiền" rất hay nói về sự tháo vát, đảm đang của người phụ nữ ngày xưa trong công việc nội trợ, việc "tay hòm chìa khoá" của gia đình:

    Một quan tiền quý mang đi
    Em mua những gì, em tính chàng nghe:
    Thoạt tiên mua ba tiền gà (180 đồng)
    Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu (93 đồng)
    Trở lại mua sáu đồng cau (6 đồng)
    Tiền rưỡi miếng thịt; giá, rau mười đồng (100 đồng)
    Có gì mà tính chẳng thông
    Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi (96 đồng)
    Ba mươi đồng rượu chàng ơi (30 đồng)
    Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng (50 đồng)
    Hai chén nước mắm rõ ràng
    Hai bẩy mười bốn kẻo chàng hồ nghi (14 đồng)
    Hăm mốt đồng bột nấu chè (21 đồng)
    Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan

    Đồng tiền "Khổng Phương" của ta được khai sinh từ thời Tiền Lý (544). Hai đồng tiền được đúc cuối cùng là đồng Khải định (Khải định Thông Bửu) và Bảo đại (Bảo đại Thông Bửu). Nhưng hai đồng tiền đó không tính thành "quan" nữa, mà được quy theo giá trị của đồng bạc đông Dương. Một đồng Khải định bằng 1/2 xu (tức bằng 1/200 đồng bạc đông Dương thuộc Pháp, gọi là 1 chinh). Đồng Bảo đại cũng có giá trị như thế. Vì Khải định là cha Bảo đại, nên dân gian gọi đồng Khải định là "chinh to", đồng Bảo đại là "chinh con". Đồng "chinh con" nhanh chóng mất giá. Ba "chinh con" mới đổi được một "chinh to". Hồi đó đã có câu:

    Ba con đổi lấy một cha
    Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền

    Cùng với sự thoái vị của Bảo đại năm 1945, đồng tiền phong kiến đã trở thành sở hữu của lịch sử, sau một thiên niên kỷ rưỡi hiện diện (544-1945) mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử tiền tệ Việt Nam: đồng tiền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
     
  2. sesusi20 Thành Viên Cấp 4

  3. sesusi20 Thành Viên Cấp 4

  4. sesusi20 Thành Viên Cấp 4

    lịch sử tiền việt nam



    Một quan tiền tốt mang đi
    Anh sắm những gì mà tính chẳng ra.



    Trước khi đồng tiền xuất hiện, vỏ ốc từng được một số tộc người xa xưa trong chế độ nô lệ trên thế giới dùng làm vật trung gian trao đổi. Vỏ ốc Xy pra ê a chính là "đồng tiền cổ" xuất hiện đầu tiên ở nước ta. Dân tộc thiểu số Kho’ Mú và một số bộ tộc người Mường đã dùng vỏ ốc Xy pra ê a. các thiếu nữ Kho’ Mú tích cóp vỏ ốc làm của hồi môn và để làm đồ trang sức.
    Phải đến triều đại Đinh Tiên Hoàng hùng mạnh, đồng tiền đúc ở nước ta mới ra đời. Đồng tiền được đúc bằng đồng, hình tròn, lỗ vuông, có thể xâu thành chuỗi tiện việc di chuyển. Mặt phải của đồng tiền có đúc bốn chữ "Thái Bình Hưng Bảo", mặt sau có chữ "Đinh". Tiếp đó, triều đại nào cũng đúc tiền. Tiền có nhiều loại, nhiều kiểu, với tác dụng chủ yếu là vật trung gian trao đổi hàng hoá. Nhưng cũng có đồng tiền đúc ra để khen thưởng (thường là bằng vàng). Cũng có loại tiền chỉ là mĩ hiệu. Trong cuốn Biên Niên Biểu ghi những sự kiện lớn trong lịch sử hoá tệ (của Trung Quốc), tác gia Bành Tín Uy thừa nhận: Năm 970, Đinh Bộ Lĩnh ở Việt Nam đúc tiền Thái Bình Hưng Bảo. Nhà Tiền Lê (980 - 1009), nhà Lý (1010 - 1225) tiếp tục cho đúc tiền. Ngay từ năm đầu lên ngôi, và dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) cho đúc tiền Thuận Thiên Đại Bảo và đã xuống chiếu "phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa Thiên Đức". Trong 175 năm nhà Trần (1225 - 1400), nền kinh tế - xã hội nước nhà phát triển ho’n trước. Công thưo’ng nghiệp, kể cả ngoại thưo’ng có nhiều tiến bộ. Các co’ sở thủ công nghiệp phát triển. Kinh thành mở rộng tới 61 phường. Đo’n vị tiền được nhà nước quy định thống nhất. Việc đúc tiền phát triển. Vua Trần Thái Tông (1225 - 1258) quy định: một tiền ăn 70 đồng tiền. Sử chép: Tháng 4 năm Bính Tý, niên hiệu Quang Thái năm thứ 9 (1396), bắt đầu phát hành tiền giấy, có in: Thông Bảo Hội Sao. Vua Trần Thuận Tông (1388 - 1398) cũng cho in tiền giấy. Một quan tiền đồng đổi được một quan hai tiền giấy. Giấy 10 đồng vẽ rồng. 30 đồng vẽ sóng. Một tiền vẽ mây. Hai tiền vẽ rùa. Ba tiền vẽ lân. Năm tiền vẽ phượng. Một quan vẽ rồng. Thu tiền đồng vào kho Ngao Trì ở kinh đô.

    Triều đại Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thưo’ng, tuy chỉ tồn tại có 7 năm (1400 - 1407), nhưng đã tiến hành một số cải cách về tiền tệ. Các chính sách lớn của triều đại này là: chính sách hạn điền, hạn nô và phát hành tiền giấy.
    Dưới triều Lê So’ (1428 - 1527), không thấy xuất hiện tiền giấy vì "tiền giấy là vật vô dụng mà cho lưu hành ở trong dân hữu dụng, thực không phải với cái ý yên dân dùng của". Năm 1428, vua Lê Lợi cho đúc tiền Thuận Thiên Thông Bảo, to đẹp ho’n so với đồng tiền thời Trần. Năm 1509, vua Lê Tưo’ng Dực cho dùng cả bạc. Mỗi thoi bạc nặng 1,030 kg. Đồng tiền đầy đặn, không pha kẽm hoặc thiếc hoặc gang như các triều đại sau đó. Nhà sử học Phan Huy Chú đánh giá tiền đúc dưới thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) là những đồng tiền mẫu mực nhất của nước ta. Đồng tiền dưới triều Lê Hiến Tông (1498 - 1504) có phần nặng ho’n đồng tiền các thời trước. Từ năm 1527, nhà Mạc, nhà Trịnh đều đúc tiền, tiền lưu hành riêng từng vùng. Mạc Đăng Dung cho đúc tiền đồng pha kẽm và sắt. Thời Lê trung hưng (1533 - 1788) cũng đúc tiền, nhưng đến vua Lê Hy Tông (1676 - 1705), việc đúc tiền mới đi vào nề nếp thường xuyên. Đến đời Lê Hiển Tông (1740 - 1786) lại có tiền trung ưo’ng, tiền địa phưo’ng. Triều đại Tây So’n tồn tại 24 năm (1778 - 1802), nhưng nước nhà thịnh vượng là 5 năm dưới triều vua Quang Trung (1778 - 1792). Nhà Tây So’n đã đúc 37 kiểu tiền. Điều này chứng tỏ các vua Tây So’n ra sức xây dựng nền kinh tế nước nhà độc lập, tự chủ. Chính vua Quang Trung đã ban chiếu khuyến nông: "Mở cửa ải, thông thưo’ng chợ búa, khiến hàng hoá không ngưng đọng, lợi cho sự tiêu dùng của dân".
    Xét về mặt mĩ thuật và chất lượng, tiền đúc thời Tây So’n không sánh kịp tiền đúc dưới triều Nguyễn. Mặc dù vậy, nhân dân vẫn ưa dùng tiền Tây So’n, cũng vì quý mến người anh hùng áo vải. Vua Gia Long đúc cả tiền thoi đồng, thoi bạc, thoi vàng. Một thoi 10 lạng bạc ăn 28 quan tiền đồng. Thoi một lạng vàng ăn 16 lạng bạc. Ngày 10 tháng 3 năm 1982, ông Trần Văn Thành, ở Thường Tín (Hà Tây), trong khi đào hố trồng cây, đã tìm được một di vật đồng pha bạc đúc từ thời Gia Long. các Triều vua nối tiếp đều đúc tiền đồng, vàng thoi, bạc thoi, tiền vàng, tiền bạc. Năm 1875, thực dân pháp lập ra Ngân hàng Đông Dưo’ng. Đồng bạc của Pháp thao túng nền kinh tế nước ta. Đồng tiền triều Nguyễn sụt giá. Vì thiếu đồng, tiền kẽm xuất hiện dưới thời Tự Đức. Các vua Nguyễn đều đúc tiền. Một đồng tiền Khải Định ăn ba đồng tiền Bảo Đại.
    Đồng tiền Bảo Đại không đúc theo kiểu truyền thống mà dùng máy dập bằng đồng lá, tuy nhỏ nhưng đẹp. Tuy nó đẹp nhưng đã đánh dấu chấm hết cho việc các triều đại phong kiến nước ta đúc tiền đồng.


    Lịch sử Thể Hiện Qua Chữ Kí Trên Loại Tiền Giấy "Một Trăm Đồng Vàng"

    - Năm phát hành: 1942.
    - Mặt trước: Người dân Lào sinh hoạt.
    - Mặt sau: Đền Trung Liệt ở Sài Gòn - Việt Nam.
    - Màu sắc:
    Có 3 loại:
    o Loại 1: Đỏ nâu và vàng.
    o Loại 2: Xanh và
    o Loại 3: Nâu đỏ và đen (loại này không được giới thiệu ở đây vì chỉ có 1 loại với cả 3 chữ kí của quan chức ngành ngân hàng đều được in sẵn). tím.
    - Khuôn khổ: 175x87mm.
    Đây là mẫu tiền khá độc đáo bởi có nhiều những chữ kí bằng bút mực (kí thủ công) của một số quan chức ngân hàng - Le Caissier de la Succursale.
    Mỗi một quan chức đó đã kí nhiều tờ tiền, việc kiếm được những tờ tiền có chữ kí khác nhau là một điều không dễ.

    Các bạn hãy đễ ý đến chữ kí có khoanh hình ôvan đỏ:


    1.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại
    2.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 1
    3.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 2
    4.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 3
    5.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 4
    6.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 5
    7.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 6
    8.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 7
    9.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 8
    10.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 9
    11.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 10
    12.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 11
    13.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 12
    14.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 13
    15.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 14
    16.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 15
    17.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 16
    18.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 17
    19.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 18
    20.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 19
    21.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 20
    22.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 21
     
  5. sesusi20 Thành Viên Cấp 4

    1.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 1
    2.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 2
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 3
    3.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 4
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 5

    10 đồng
    1.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 6
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 7
    2.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 820 đồng:
    1.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 9
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 10
    2.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 11
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 12
    3.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 13
    4.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 14
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 15
     
  6. sesusi20 Thành Viên Cấp 4

    50 đồng:
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 1


    100 đồng:
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 2
    4.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 3
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 4
    5.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 5
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 6
    6.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 7
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 8


    200 đồng:
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 9
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 10
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 11
    4.

    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 12
    5.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 13500 đồng:

    1.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 14
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 15
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 16
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 17
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 18
    1000 đồng:
    1.
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 19
    Đồng Tiền Qua Các Thời Đại - 20
     
  7. sesusi20 Thành Viên Cấp 4

  8. stepalone Thành Viên Cấp 4

    ngày xưa ông mình cũng để lạo 1 ít tiền cũ
    nhưng cũng chẳng nhớ nổi có trong hình kia nữa ko Đồng Tiền Qua Các Thời Đại
     
  9. icekul Thành Viên Kim Cương

    tui cũng có 1 vài tờ trong này nè
    Thanks 4 share Đồng Tiền Qua Các Thời Đại
     
  10. prepress Thành Viên Cấp 4

    Hay, chủ topic có được những tư liệu cổ hay quá. Tiếp nữa đi chủ topic
     
  11. deathvn Thành Viên Bạch Kim

    quá hay, tiền xưa nhiều đồng vui ghê
     
  12. chuốichíncây Thành Viên Cấp 3

    ack... quan tiền dài, theo mình hiểu có nghĩa là tiền xâu thành dây dài, ý nói nhiều tiền, chứ đâu có nghĩa là 1 quan tiền hình dáng dài hay ngắn choy.

    Kím đc mí cái hình ảnh hay ghia. ^^
     
  13. Fire Thành Viên Cấp 5

    Đa tạ 1 bài post công phu.
     
  14. ttbinh Thành Viên Cấp 4

    nhiều tư liệu hay quá, tiền cổ có bán ko bro
     

Tình hình diễn đàn

  1. wifeboss,
  2. chinhchu2258,
  3. Fish,
  4. tranphu0938,
  5. phu266,
  6. thanhphutondan268,
  7. honeyz...,
  8. lhe48697,
  9. priest123
Tổng: 747 (Thành viên: 13, Khách: 724, Robots: 10)