Ông bảo, vùng Hải Dương là một... nghĩa địa mộ cổ khổng lồ (?!). Chuyện này thật lạ! Tôi chưa từng nghe nhà khoa học nào nói như vậy. Nhưng phải "lật lại" 30 năm vùi đầu vào mộ cổ của kỳ nhân này, mới thấy điều đó hoàn toàn chính xác. Và có vô số những chuyện “không tin nổi” hé lộ theo những ngôi mộ huyền bí được khai quật này. Kỳ I: Suýt đi tù vì tự ý đào mộ cổ Ông Tăng Bá Hoành (nguyên GĐ Bảo tàng Hải Dương) sinh năm 1941. Nhà nghèo, cậu bé Hoành phải bỏ học sớm để đi làm. Thế nhưng, không đến lớp, không có thầy cô, Hoành vẫn dự thi và tốt nghiệp cấp 3. Sau một quá trình học như thể "ngày mai không còn được học nữa", đầu năm 1968, Hoành được nhận về làm cán bộ ở kho Hiện vật của Bảo tàng tỉnh. Vừa làm vừa học, anh đã tốt nghiệp xuất sắc ĐH Tổng hợp khoa Sử. Niềm đam mê mộ cổ bắt đầu hình thành rõ nét. Vụ tham gia đào mộ đầu tiên của ông Hoành, cũng là cuộc khai quật mộ tháp Huyền Quang và mộ tháp Pháp Loa, diễn ra vào tháng 4-1979. Lúc bấy giờ vụ việc này cũng khá nổi đình nổi đám trong giới khảo cổ. Ngay sau cuộc khai quật hai mộ tháp, ông tiếp tục tham gia và chủ trì khai quật hàng loạt mộ cổ của những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, đại tư đồ Nguyễn Bá Khanh, bà Nguyễn Thị Ngọc Chén (vợ ba chúa Trịnh Tùng), mộ bà chúa Sao Sa, tức Nguyễn Thị Duệ (nữ tiến sĩ duy nhất của nước ta, người từng giả trai đi học), Thượng tướng, Quận công Nguyễn Văn Linh… Ông Tăng Bá Hoành. Mỗi cuộc khai quật mộ cổ thời kỳ này, có sự chỉ đạo và tham gia của ông, đều là tâm điểm chú ý của cả nước. Nhân dân khắp nơi kéo về xem, quây kín khu vực khai quật cứ như đi... biểu tình. Lần để lại nhiều kỷ niệm nhất là lần khai quật mộ cụ Nguyễn Bá Khanh. Suốt 40 ngày ông cùng các đồng sự làm việc miệt mài, không có một đồng công lao nào. Cũng may mà suốt 40 ngày đó, ông được nhà chùa nấu cơm cho ăn miễn phí. Lúc chuẩn bị khai quật, ông định làm báo cáo gửi Bộ. Tuy nhiên, lãnh đạo tỉnh phán miệng rằng không cần, cứ làm trước, báo sau. Vụ ấy, ông suýt bị bỏ tù vì phát hiện ngôi mộ cổ cực quý, tài sản quốc gia, mà tự tiện khai quật, không báo cáo trung ương. Chỉ đạo và tham gia khai quật hàng chục ngôi mộ cổ của những nhân vật nổi tiếng, song tên tuổi của nhà khảo cổ tỉnh lẻ này chỉ thực sự được biết đến khi những ngôi mộ thuyền, mộ cũi, mộ Hán, có tuổi trên dưới 2.000 năm, được quật lên khỏi lòng đất. Những chiếc mộ thuyền bị bỏ quên trong Bảo tàng Hải Dương. Cách đây hàng ngàn năm, vùng đất này, nhiều nơi còn là đầm lầy lụt lội, sông ngòi chằng chịt. Cư dân Đông Sơn sinh sống, đi lại chủ yếu bằng thuyền, bè. “Sống ngâm da, chết ngâm xương”, “sống trên thuyền thì chết cũng ở trên thuyền”. Chính cuộc sống sông nước đã tạo ta tín ngưỡng mộ thuyền đặc sắc. Cư dân ở xứ sở thờ thần mặt trời luôn tin rằng linh hồn người chết sẽ được chở đến thế giới bên kia, xứ sở của hồn. Phương tiện đi lại thời đó chủ yếu là thuyền, nên linh hồn cũng cần một con thuyền. Để chuẩn bị cho chuyến đi của hồn, ngoài chiếc thuyền ra, còn phải có vũ khí, đồ dùng, thức ăn. Điều may mắn là cư dân thời đó đã đào huyệt thật sâu trong lòng đất, tận lớp đất sú vẹt có nhiều khí mê tan. Chính lớp khí này làm cho các loại vi khuẩn ăn gỗ, ăn xương không sống được, để đến nay, hơn 2.000 năm sau, con cháu cư dân Đông Sơn vẫn được chiêm ngưỡng gần như nguyên vẹn thế giới của tổ tiên hiện diện qua các ngôi mộ cổ. Điều kỳ diệu là một "nhà khảo cổ tỉnh lẻ" như ông lại có rất nhiều cơ hội chạm tay vào những ngôi mộ thuyền đặc biệt đến nỗi làm ngạc nhiên cả giới khảo cổ thế giới...
Kỳ II: Ngôi mộ cổ 2.000 năm gây sửng sốt Mọi thứ trong ngôi mộ 2.000 năm tuổi vẫn còn nguyên vẹn. Xương không thiếu một chi, răng không thiếu một cái, quần áo bằng vải thô còn bền, đồ tùy táng cực kỳ hoàn chỉnh. Kể cả những hạt quả vải tu hú (vải trái mùa, ăn chua) vẫn nằm nguyên vẹn bên cạnh người quá cố. Kỳ 2 loạt bài "Kỳ nhân ở nghĩa địa mộ cổ" sẽ đưa đến cho bạn thông tin về một thế giới mộ cổ kỳ thú mà nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành cùng cộng sự khám phá. Khám phá "vương quốc mộ thuyền" Chẳng ai rỗi hơi thống kê xem nhà khảo cổ nào là người trực tiếp khai quật mộ thuyền nhiều nhất ở nước ta. Ông Tăng Bá Hoành cũng chẳng để tâm, nhưng quả thực, cả đời ông, đã dày tâm nghiên cứu kỹ lưỡng vài chục cái, còn trực tiếp hoặc tham gia quật lên từ lòng đất thì ông không nhớ nổi đã "nhúng tay" vào bao nhiêu cái, toàn những cái quý hiếm, đặc sắc nhất nước ta. Những chiếc mộ thuyền đã được khai quật. Mộ thuyền đầu tiên được phát hiện ở vùng Hải Hưng (có thể là đầu tiên của cả nước), đó là mộ thuyền La Đôi (xã Hợp Tiến, Nam Sách), khai quật vào năm 1962. Mộ thuyền này được phát hiện trong quá trình người dân làm thủy lợi. Tuy nhiên, thời đó chúng ta còn mải sản xuất và phục vụ chiến tranh, nên chuyện khảo cổ không được quan tâm nhiều, việc khai quật diễn ra khá sơ sài. Đến năm 1986, biết rằng khu vực La Đôi còn nhiều mộ thuyền chưa được phát hiện, nên ông Hoành tiếp tục về khu vực này "chọc ngoáy". Thật bất ngờ, ông Hoành, các đồng nghiệp và nhân dân trong vùng phát hiện ra thêm 4 cái mộ thuyền nữa, đều còn nguyên vẹn, tuyệt đẹp. Trong những chiếc mộ thuyền, ông thu thập được rất nhiều hiện vật như nhĩ bôi, rìu đá, đồ trang sức và một số hiện vật khác bằng đá, bằng đồng. Theo ông Hoành, nếu tiếp tục khai quật, khu vực này sẽ hiện ra một nghĩa địa mộ thuyền đồ sộ, tuy nhiên, ông Hoành và đồng nghiệp chỉ làm có vậy, bởi có khai quật hết lên cũng không thể bảo quản được. Ngoài "nghĩa địa mộ thuyền La Đôi", ông Hoành và bảo tàng Hải Hưng còn có đóng góp lớn trong việc phát hiện ra rất nhiều "nghĩa địa mộ thuyền" ở các huyện Kinh Môn, Kim Thành, Chí Linh, Gia Lộc, Bình Giang. Nghĩa địa mộ cổ đẹp và nguyên vẹn nhất Đông Nam Á Nổi tiếng bậc nhất là "nghĩa địa mộ thuyền" Động Xá (Lương Bằng, Kim Động, Hưng Yên ngày nay) được phát hiện năm 1995. Ngay khi người dân vùng này thông báo tìm được mộ cổ, ông đã tìm về. Sau quá trình khảo sát, ông dự đoán khu vực này có cả một "vương quốc mộ thuyền" chứ chả phải của hiếm. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông và đồng nghiệp đã đào lên được 4 cái. Còn số lượng "dò" được thì phải cỡ 100 cái ở khu vực có diện tích chừng 2ha thuộc thôn Động Xá. Chuyện phát hiện nghĩa địa mộ cổ còn nguyên vẹn xương cốt, đồ tùy táng, áo quan là những chiếc thuyền, có tuổi trên dưới 2.000 năm ở Động Xá, đã làm bàng hoàng không những cả nước mà gây sự chú ý với cả thế giới. Các nhà khoa học quốc tế nhận định, đây là nghĩa địa mộ cổ thời Đông Sơn còn nguyên vẹn và đẹp nhất khu vực Đông Nam Á. Theo các nhà khoa học Viện khảo cổ thì "nghĩa địa mộ thuyền" Đông Sơn, có niên đại đến 2.500 năm. Điều kỳ diệu là xương cốt, quần áo vẫn còn nguyên vẹn, trong khi người xưa chẳng áp dụng kỹ thuật ướp xác nào. Việc những mộ thuyền tồn tại được tới hơn 2 thiên niên kỷ là do môi trường đậm đặc khí mê tan bảo quản. Mộ thuyền Động Xá là những chiếc thuyền đã được sử dụng, sau đó được cắt đi một nửa để dùng làm quan tài, chứ không phải thân cây khoét rỗng như các di chỉ mộ táng Đông Sơn mà các nhà khoa học đã tìm thấy ở những vùng khác. Tại đây, lần đầu tiên các nhà khoa học tìm được xác chết hơn 2.000 năm tuổi có quần áo hoàn chỉnh. Trước đây, các nhà khoa học chỉ biết rằng, kỹ thuật dệt vải thời Đông Sơn phổ biến là dùng gai để lấy sợi. Một thuyền này cho thấy người Đông Sơn đã biết dùng lụa. Khu nghĩa địa cổ này đã mở ra nhiều cánh cửa tìm hiểu về xã hội Đông Sơn thời xưa, xã hội mà chúng ta ngày nay có rất ít thông tin và sự hiểu biết. Phát hiện này cho phép khẳng định tổ tiên trực tiếp của người Việt Nam là những người đã sáng tạo ra nền văn hóa Đông Sơn. Nơi trưng bày mộ thuyền ở Bảo tàng Hải Dương. Hai mộ thuyền kỳ lạ nhất Sau 3 năm khai quật tại Động Xá, đến năm 1998, tỉnh Hải Hưng tách thành hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương, các cán bộ bảo tàng Hải Hưng đã tiếp quản và cùng với Viện Khảo cổ tiếp tục khai quật mộ cổ ở khu vực này. Kết quả, họ đã tìm ra tới 40 mộ thuyền. Trong số đó, có hai chiếc cực đẹp, còn rất nguyên vẹn, tuy nhiên, hai chiếc này xuất hiện muộn hơn, khoảng thế kỷ 2 sau Công nguyên, vì trong mộ có tiền Ngũ Thù, thời Đông Hán. Ngoài những ngôi mộ được làm bằng chiếc thuyền đang được sử dụng, ông Hoành còn khai quật được khá nhiều mộ dạng hình thuyền ở Hải Dương. Đó là mộ mà quan tài là một thân cây lớn, được chẻ làm đôi, khoét rỗng, rồi đặt xác và đồ tùy táng vào, sau đó dùng dây mây nẹp lại, chốt mộng rất khớp, bít kín các kẽ hở bằng sơn ta cho nước khỏi ngấm vào rồi đem chôn. Năm 2001, cả nước phải sửng sốt với hai ngôi mộ kiểu này ở Kiệt Thượng (xã Văn An, Chí Linh, Hải Dương). Đây là hai ngôi mộ cực kỳ nguyên vẹn, mặc dù nó đã có tuổi 2.000 năm. Mọi thứ trong ngôi mộ còn nguyên. Xương không thiếu một chi, răng không thiếu một cái, quần áo bằng vải thô còn bền, đồ tùy táng cực kỳ hoàn chỉnh. Kể cả những hạt quả vải tu hú (vải trái mùa, ăn chua) vẫn còn. Trong mộ, cung tên bằng đồng còn nguyên cả cán. Đặc biệt là chiếc di đồng rất đẹp, là thứ đầu tiên tìm thấy ở Việt Nam. Di đồng là vật dụng của quan lại, nhà giàu, dùng để rửa tay, rửa mặt. Trong mộ còn rất nhiều vật dụng khác như thau đồng, đai lưng đồng, thố đồng, bát đồng, giáo đồng, lao đồng, rìu đồng, tấm che ngực bằng đồng, nồi đồng, kiếm sắt, nhĩ bôi (chén hình tai), ghế gỗ, vỏ quả bầu... Trong ngôi mộ thậm chí chứa rất nhiều xương chó, xương lợn. Điều này giải thích rằng, người Việt cổ quan niệm chết chỉ là đi về thế giới khác, nên người chết cũng được chia của để mang theo sử dụng.
Kỳ III: Ngôi mộ cổ kỳ lạ làm bằng 50 tấn... gỗ lim Trong Bảo tàng Hải Dương, có một đống gỗ với những súc gỗ đen trũi như những cục than khổng lồ. Nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành bảo, đó là một chiếc mộ cũi vĩ đại, của hiếm không những của nước ta, mà không chừng thế giới cũng khó kiếm cái thứ hai. Những dòng ngắn ngủi trên google Câu chuyện về mộ cũi quả thực ly kỳ. Tôi vào trang tìm kiếm google gõ dòng chữ "mộ cũi", chỉ thấy hiện ra 2 câu ngắn ngủi: "Khai quật mộ cũi TK III tại Gia Lương (Gia Lộc). Đây là một trong những ngôi mộ cũi lớn, sử dụng trên 20m3 lim (hơn 50 tấn), cấu trúc còn khá tốt", trong một báo cáo về thành tựu của ngành khảo cổ học Hải Dương. Nhắc đến hai từ "mộ cũi", nhiều người chuyên về khảo cổ học còn chưa hiểu kỹ, chứ đừng nói đến chúng ta, bởi mộ cũi là thứ rất hiếm và dường như bị bỏ quên. Thực tế, mộ cũi là mộ của quan lại người Hán, xuất hiện ở nước ta từ đầu Công nguyên cho đến thời Trần. Tuy nhiên, mộ cũi thời Trần rất nhỏ, không đáng kể so với thời kỳ Bắc thuộc. Mộ cũi xuất hiện nối tiếp thời kỳ mộ thuyền và song song tồn tại với mộ Hán. Mộ cũi và mộ Hán là đặc trưng của người Hán, mà quan lại nhà Hán đô hộ chủ yếu đóng ở Thành Dền, vùng Ngọc Lặc, Kỳ Sơn (Tứ Kỳ, Hải Dương), do đó Hải Dương được coi là lãnh địa của mộ cũi và mộ Hán. 1.000 năm Bắc thuộc, hình thức mai táng bằng mộ thuyền mai một, người Việt chỉ còn mai táng bằng bó chiếu, bó tre, do đó qua thời gian, gần như không để lại dấu tích gì. 1.000 năm đô hộ của người Hán, đã có hàng vạn quan lại, quý tộc Hán chết đi, xác được cất giữ trong những ngôi mộ cũi, mộ Hán. Cứ theo cách suy diễn ấy, ông Hoành khẳng định, Hải Dương là một nghĩa địa mộ cũi, mộ Hán, đấy là chưa kể, có thể còn hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn ngôi mộ hợp chất (xác ướp) dưới lòng đất Hải Hưng. Công trình kiến trúc bằng gỗ kỳ lạ nhất Trong số hàng chục ngôi mộ cũi mà ông Tăng Bá Hoành từng khai quật, gây sửng sốt nhất là ngôi mộ cũi tại xã Gia Lương (Gia Lộc, Hải Dương), được phát hiện và khai quật vào năm 1983. Mộ cũi là một công trình kiến trúc bằng gỗ kỳ lạ nhất. Mộ được xếp bằng những thanh gỗ lim khổng lồ, mỗi thanh nặng đến vài tấn. Khi một ông quan chết đi, người ta đào một hố sâu 5m, rộng vài chục mét vuông, rồi rải những thanh gỗ lim kín xuống mặt huyệt, khít và phẳng lỳ. Chiều dài mặt huyệt được ghép bởi những thanh gỗ lim lớn, có chiều dài 7,2m, rộng 50cm và cao 50cm (mỗi thanh gỗ là 1,8m3 và nặng chừng 5 tấn). Chiều rộng lòng mộ được ghép bằng những thanh gỗ lim có kích cỡ dài 4,4m, rộng 45cm, cao 45cm (gần 1 m3). Sau khi tạo mặt huyệt có độ rộng 31,68m2, họ tiếp tục ghép các súc gỗ lim khổng lồ theo chiều đứng thành 4 bức tường, rồi ghép mái cũng bằng những tấm gỗ lim lớn như vậy, tạo thành một cái bể gỗ khổng lồ. Ta cứ tưởng tượng một cách đơn giản, cái mộ cũi đó không khác gì tầng hầm của một tòa nhà, chỉ có điều nó được ghép bởi những tấm gỗ lim khổng lồ, chứ không phải bằng bê tông cốt thép. Mộ cũi được chia làm 3 ngăn thông nhau. Một ngăn để quan tài chứa xác, một ngăn để các loại võ khí còn một ngăn chứa đầy đồ gốm và đồ ăn. Sau khi tấm gỗ cuối cùng được ghép khít, người ta đổ đất lấp chặt. Và ngôi mộ chìm vào quên lãng cho đến tận ngày nay. 1.700 năm, gỗ vẫn nguyên vẹn Những súc gỗ lim này rất tốt dù đã 1.700 tuổi. Theo mường tượng của nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành, những súc gỗ lim khổng lồ này được khai thác ở vùng rừng núi Chí Linh. Hàng trăm năm trước, Chí Linh còn là vùng đất thâm u rậm rạp, có rất nhiều gỗ lim và hổ báo. Sau khi hạ cây lim, họ đẽo gọt tại chỗ. Với công cụ thô sơ như thời đó (chưa có cưa máy như hiện nay), để tạo được một súc gỗ lim lớn (chừng 1,8m3, nặng 5 tấn), phẳng, đặt khít vào nhau là một kỳ công. Như vậy, nghề mộc thời đó chắc chắn đã phải đạt một trình độ cao. Sau khi lấy được gỗ, người ta sẽ phải dùng voi kéo ra khỏi rừng, rồi dùng bè vận chuyển về theo đường sông. Ông Hoành vẫn nói vui rằng, thời kỳ đó, vùng đồng bằng nước ta có một hệ thống “quốc lộ” và “cao tốc” chằng chịt, đó là… sông ngòi. Do chôn sâu dưới lòng đất, môi trường đậm đặc khí mê tan, mộ lại được bảo quản bằng những súc gỗ lim vững chắc, nên gần 1.700 năm sau, quan tài và xương cốt người nằm trong mộ vẫn còn khá nguyên vẹn. Đặc biệt, những súc gỗ lim vẫn còn rất tốt. Ngày đó, “nhà khảo cổ tỉnh lẻ” Tăng Bá Hoành phải thuê cả cần cẩu mới nhấc được những súc gỗ lim khổng lồ từ dưới lòng đất lên. Gỗ nhiều và còn tốt đến nỗi, các cán bộ xã Gia Lương thời đó đã nhanh nhảu xẻ vài súc làm bàn ghế, cánh cửa. Ông Hoành phải nhanh chóng chở những súc gỗ này về bảo tàng cất giữ, chứ nếu nhờ xã cất giữ, chắc giờ nó thành bàn ghế, cảnh cửa hoặc củi đun cả rồi.
Kỳ III:Luồng khí xanh lè từ ngôi mộ cổ Sau khi khai quật "chữa cháy" ngôi mộ Kiệt Thượng 1, ông Hoành khẳng định sẽ còn một ngôi mộ nữa, bởi ông biết rằng, mộ thuyền thường “có đôi”. Và quả thực, không lâu sau, ông cùng đồng nghiệp đã lại quật lên mộ thuyền Kiệt Thượng 2, ngay cạnh đó, cũng đẹp và hoàn chỉnh không khác gì ngôi Kiệt Thượng 1. Kỳ tiếp theo của loạt bài: "Kỳ nhân ở nghĩa địa mộ cổ", VTC News sẽ cùng độc giả khám phá một ngôi mộ khác, gần như độc nhất vô nhị này. Từ hai ngôi mộ đặc biệt này, các nhà khoa học có thể dựng lại khá chi tiết đời sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng của con người thời đó. Còn các nhà nhân chủng học, với bộ xương nguyên vẹn, có thể miên tả, phục dựng khá chi tiết hình dáng người Việt cách nay 2.000 năm. Qua hai ngôi mộ ở Kiệt Thượng, có thể thấy kỹ thuật, mỹ thuật đúc đồng, cũng như văn hóa của người Việt thời Đông Sơn đã đạt trình độ khá cao, không kém gì những nền văn minh đương thời trong khu vực. Những mộ thuyền được khai quật. "Đống gạch đỏ" gây chấn động Nằm sau những rặng tre, những đống gạch vữa, đất cát cao chất ngất, ở một góc khuất nẻo mà khách tham quan không thể nhìn thấy (nếu không có bác bảo vệ chỉ dẫn) của bảo tàng Hải Dương là một… đống gạch đỏ chót khổng lồ. Lại gần và quan sát kỹ mới thấy đống gạch đó là một… lâu đài cổ. Tóm lại, không ai biết đó là cái gì ngoài những nhà khảo cổ, nếu lần đầu được trông thấy. Nằm khuất nẻo sau rặng tre tại Bảo tàng Hải Dương là một "tuyệt tác khảo cổ": Mộ Hán. Ấy vậy mà, cái “đống gạch” có hình thù lạ đó từng là phát hiện chấn động, gây sửng sốt cả thế giới chứ chẳng phải chơi: mộ Hán. Người phát hiện, bảo tồn và khiến cho các nhà khảo cổ trên thế giới phải sửng sốt suốt một thời gian dài ấy, không ai khác, chính là “nhà khảo cổ tỉnh lẻ” Tăng Bá Hoành. Gò đất kỳ lạ Chuyện về ngôi mộ Hán khổng lồ này bắt đầu từ cuối tháng 6 năm 1996. Khi đó, tại khu vực Đống Dom (thôn Vũ Xá, Ái Quốc, Nam Sách, Hải Dương), một doanh nghiệp của Đài Loan chăng biển hiệu hoành tráng, với rất đông người, để chuẩn bị cho lễ động thổ công trình. Đúng lúc đó thì ông Tăng Bá Hoành đi qua. Ông thấy gò đất khổng lồ, rộng hàng ngàn mét vuông, mà ông vẫn để ý, nghi ngờ có ngôi mộ Hán, nằm lọt vào giữa công trường của doanh nghiệp Đài Loan kia. Ngay lập tức, ông cùng các đồng nghiệp với các thiết bị thăm dò xuống hiện trường. Quả thực, khi chiếc gầu sắt khổng lồ cắm xuống gò đất sâu chừng hơn mét, đã móc bật lên những viên gạch đỏ tươi có hình thù lạ. Các cán bộ của bảo tàng đều bất ngờ. Trước đó, họ xuống công trình theo lệnh giám đốc, chứ đâu có tin vào lời đoán mò của ông. Sau này, mọi người mới hiểu, những phán đoán của ông đều có cơ sở, là kinh nghiệm đúc rút từ mấy chục năm làm khảo cổ, mà chủ yếu là đào mồ mả cổ. Sau khi phát hiện có mộ cổ, ông kiên quyết yêu cầu doanh nghiệp này ngừng công việc giải phóng mặt bằng để ông báo cáo tỉnh. Báo cáo gửi đi, ông nhận được công văn của vị Phó Chủ tịch tỉnh với nội dung đại để: cứ để cho họ phá, nếu có di vật thì đến nhặt về… Ông bức xúc đánh công văn gửi cho vị Phó Chủ tịch nọ, với những viện dẫn từ Luật Di sản đầy sức mạnh. Thế là doanh nghiệp kia phải ngừng thi công, giao hiện trường cho các nhà khảo cổ học. Ông Hoành bảo rằng, đã có rất nhiều ví dụ về những ngôi mộ Hán tuyệt đẹp bị người ta dùng máy ủi san phẳng. Các doanh nghiệp khi giải phóng mặt bằng, gặp mộ cổ, không bao giờ họ báo cáo theo đúng Luật Di sản, bởi ngoài việc tò mò kiếm chác cổ vật, họ không muốn dự án phải ngừng trệ nhiều ngày. Hiện trường vụ khai quật mộ Hán khổng lồ. "Tòa lâu đài" kỳ vĩ dưới lòng đất Giữa cái nóng như nung của những ngày tháng 7, ông Giám đốc Bảo tàng Hải Dương Tăng Bá Hoành trần lưng lăn lộn ngoài công trường cùng các nhà khảo cổ và hơn 30 dân công thuê của địa phương. Bản thân ông cũng đào xới, vác đất rất vất vả cùng mọi người. Gò đất này cao 5-7m, rộng khoảng 1.000m2. Mấy chục con người phải đào bới suốt 1 tháng trời ròng rã, ngôi mộ Hán khổng lồ mới lộ thiên. Ngay trên nóc ngôi mộ Hán này, có cả một nghĩa địa của nhân dân, với hơn trăm ngôi. Sau khi hàng vạn khối đất được bóc ra, cả một tòa lâu đài nguyên vẹn, kỳ vĩ có diện tích rộng hàng trăm mét vuông hiện ra. Ông Hoành: "Ngôi mộ như một tòa lâu đài dưới lòng đất". Đó là một ngôi mộ Hán, được xây bằng gạch cổ, với 3 vòm cuốn, mỗi vòm cao 2,8m. Thật lạ lùng, nắp hầm bật mở, một luồng khí xanh lè phụt ra. Ông Hoành hô mọi người chạy càng xa càng tốt. Màu khói xanh lè là ô xít đồng. Ngôi mộ gần 2.000 năm trong lòng đất tích tụ rất nhiều yếm khí, nên nếu không thận trọng, hít phải là toi mạng như chơi. Hàng vạn người "phát sốt" Sau khi nắp hầm mở, ông vinh dự là người đầu tiên đặt chân vào hầm. Những đường hầm ngoằn nghèo, thông nhau sâu hun hút, gợi cảm giác như đang đi trong một ngôi đền linh thiêng, chứ không phải một ngôi mộ. Ông mường tượng ra cảnh 2.000 năm trước, ngôi mộ này có cả quân lính canh giữ để một vị “đại quan” nào đó được an giấc ngàn thu. Ngồn ngộn trong những căn phòng trong ngôi mộ Hán khổng lồ này là cổ vật, chủ yếu là vũ khí, đồ gốm và các vật dụng thời kỳ ấy. Chiếc quan tài còn đó, hình thù bộ xương của chủ nhân ngôi mộ này vẫn còn, nhưng động vào là mủn ra thành bột. Khi ngôi mộ Hán hiện ra giữa thanh thiên bạch nhật, có người khẳng định đó là một ngôi đền, có người cho rằng đó là cung điện. Họ suy luận, cách đây hàng thiên niên kỷ, người Việt chúng ta ở vùng đất này, chỉ sống trong những ngôi nhà tranh vách đất, chết được bó bởi những manh chiếu sờn, chứ lấy đâu ra một công trình huyệt mộ hoành tráng đến vậy. Hàng vạn người dân phát sốt vì tin nóng, từ khắp các miền tổ quốc nườm nượp đổ về xem mộ, quay phim, chụp ảnh suốt ngày đêm. Các nhà khoa học, các nhà báo thi nhau phán đoán theo ý riêng của mình, người thì bảo đây là lăng mộ thời Trần, người bảo là đền thờ thời Lý... Riêng ông Tăng Bá Hoành thì quá rõ ràng, bởi nó đúng là một ngôi mộ Hán, tức của quan lại người Hán. Ông biết, mảnh đất ông đang sống và dày công nghiên cứu mấy chục năm nay là nơi "đóng đô" của người Hán khi họ sang cai trị dân ta. Viên gạch cuối cùng và chữ có râu Sau một tháng khai quật ngày đêm, tận thu hiện vật, những viên gạch được bóc gỡ cẩn thận xếp lên xe chở về bảo tàng Hải Dương. Ông Hoành tính toán tỉ mẩn, thấy rằng, ngôi mộ này tốn kém đúng 45m3 gạch. Một điều kỳ diệu xảy ra. Khi viên gạch cuối cùng được nhấc lên do chính tay ông, ông sung sướng đến phát khóc, vì viên gạch đó có... chữ Hán, ghi niên đại xây ngôi mộ này. Ông Hoành dịch ngay mấy chữ như sau: "Vĩnh Kiến tứ niên thất nguyệt". Như vậy, ngôi mộ này được làm vào năm 129 sau Công nguyên. Sau này, GS sử học nổi tiếng Hà Văn Tấn cũng dịch lại với nội dung không khác gì. Trên viên gạch đó hiện vẫn còn 3 chữ không thể đọc được. Đây là chữ Hán cổ, có râu ria, hay còn gọi là chữ Lệ (chữ Hán gồm nhiều loại: Chân, Thảo, Triện, Lệ...), là loại chữ Hán khó đọc nhất. Ông Hoành đã nhờ rất nhiều GS, TS của Trung Quốc, Đài Loan, song cũng không ai đọc được 3 chữ này.
Kỳ III:Luồng khí xanh lè từ ngôi mộ cổ Sau khi khai quật "chữa cháy" ngôi mộ Kiệt Thượng 1, ông Hoành khẳng định sẽ còn một ngôi mộ nữa, bởi ông biết rằng, mộ thuyền thường “có đôi”. Và quả thực, không lâu sau, ông cùng đồng nghiệp đã lại quật lên mộ thuyền Kiệt Thượng 2, ngay cạnh đó, cũng đẹp và hoàn chỉnh không khác gì ngôi Kiệt Thượng 1. Kỳ tiếp theo của loạt bài: "Kỳ nhân ở nghĩa địa mộ cổ", VTC News sẽ cùng độc giả khám phá một ngôi mộ khác, gần như độc nhất vô nhị này. Từ hai ngôi mộ đặc biệt này, các nhà khoa học có thể dựng lại khá chi tiết đời sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng của con người thời đó. Còn các nhà nhân chủng học, với bộ xương nguyên vẹn, có thể miên tả, phục dựng khá chi tiết hình dáng người Việt cách nay 2.000 năm. Qua hai ngôi mộ ở Kiệt Thượng, có thể thấy kỹ thuật, mỹ thuật đúc đồng, cũng như văn hóa của người Việt thời Đông Sơn đã đạt trình độ khá cao, không kém gì những nền văn minh đương thời trong khu vực. Những mộ thuyền được khai quật. "Đống gạch đỏ" gây chấn động Nằm sau những rặng tre, những đống gạch vữa, đất cát cao chất ngất, ở một góc khuất nẻo mà khách tham quan không thể nhìn thấy (nếu không có bác bảo vệ chỉ dẫn) của bảo tàng Hải Dương là một… đống gạch đỏ chót khổng lồ. Lại gần và quan sát kỹ mới thấy đống gạch đó là một… lâu đài cổ. Tóm lại, không ai biết đó là cái gì ngoài những nhà khảo cổ, nếu lần đầu được trông thấy. Nằm khuất nẻo sau rặng tre tại Bảo tàng Hải Dương là một "tuyệt tác khảo cổ": Mộ Hán. Ấy vậy mà, cái “đống gạch” có hình thù lạ đó từng là phát hiện chấn động, gây sửng sốt cả thế giới chứ chẳng phải chơi: mộ Hán. Người phát hiện, bảo tồn và khiến cho các nhà khảo cổ trên thế giới phải sửng sốt suốt một thời gian dài ấy, không ai khác, chính là “nhà khảo cổ tỉnh lẻ” Tăng Bá Hoành. Gò đất kỳ lạ Chuyện về ngôi mộ Hán khổng lồ này bắt đầu từ cuối tháng 6 năm 1996. Khi đó, tại khu vực Đống Dom (thôn Vũ Xá, Ái Quốc, Nam Sách, Hải Dương), một doanh nghiệp của Đài Loan chăng biển hiệu hoành tráng, với rất đông người, để chuẩn bị cho lễ động thổ công trình. Đúng lúc đó thì ông Tăng Bá Hoành đi qua. Ông thấy gò đất khổng lồ, rộng hàng ngàn mét vuông, mà ông vẫn để ý, nghi ngờ có ngôi mộ Hán, nằm lọt vào giữa công trường của doanh nghiệp Đài Loan kia. Ngay lập tức, ông cùng các đồng nghiệp với các thiết bị thăm dò xuống hiện trường. Quả thực, khi chiếc gầu sắt khổng lồ cắm xuống gò đất sâu chừng hơn mét, đã móc bật lên những viên gạch đỏ tươi có hình thù lạ. Các cán bộ của bảo tàng đều bất ngờ. Trước đó, họ xuống công trình theo lệnh giám đốc, chứ đâu có tin vào lời đoán mò của ông. Sau này, mọi người mới hiểu, những phán đoán của ông đều có cơ sở, là kinh nghiệm đúc rút từ mấy chục năm làm khảo cổ, mà chủ yếu là đào mồ mả cổ. Sau khi phát hiện có mộ cổ, ông kiên quyết yêu cầu doanh nghiệp này ngừng công việc giải phóng mặt bằng để ông báo cáo tỉnh. Báo cáo gửi đi, ông nhận được công văn của vị Phó Chủ tịch tỉnh với nội dung đại để: cứ để cho họ phá, nếu có di vật thì đến nhặt về… Ông bức xúc đánh công văn gửi cho vị Phó Chủ tịch nọ, với những viện dẫn từ Luật Di sản đầy sức mạnh. Thế là doanh nghiệp kia phải ngừng thi công, giao hiện trường cho các nhà khảo cổ học. Ông Hoành bảo rằng, đã có rất nhiều ví dụ về những ngôi mộ Hán tuyệt đẹp bị người ta dùng máy ủi san phẳng. Các doanh nghiệp khi giải phóng mặt bằng, gặp mộ cổ, không bao giờ họ báo cáo theo đúng Luật Di sản, bởi ngoài việc tò mò kiếm chác cổ vật, họ không muốn dự án phải ngừng trệ nhiều ngày. Hiện trường vụ khai quật mộ Hán khổng lồ. "Tòa lâu đài" kỳ vĩ dưới lòng đất Giữa cái nóng như nung của những ngày tháng 7, ông Giám đốc Bảo tàng Hải Dương Tăng Bá Hoành trần lưng lăn lộn ngoài công trường cùng các nhà khảo cổ và hơn 30 dân công thuê của địa phương. Bản thân ông cũng đào xới, vác đất rất vất vả cùng mọi người. Gò đất này cao 5-7m, rộng khoảng 1.000m2. Mấy chục con người phải đào bới suốt 1 tháng trời ròng rã, ngôi mộ Hán khổng lồ mới lộ thiên. Ngay trên nóc ngôi mộ Hán này, có cả một nghĩa địa của nhân dân, với hơn trăm ngôi. Sau khi hàng vạn khối đất được bóc ra, cả một tòa lâu đài nguyên vẹn, kỳ vĩ có diện tích rộng hàng trăm mét vuông hiện ra. Ông Hoành: "Ngôi mộ như một tòa lâu đài dưới lòng đất". Đó là một ngôi mộ Hán, được xây bằng gạch cổ, với 3 vòm cuốn, mỗi vòm cao 2,8m. Thật lạ lùng, nắp hầm bật mở, một luồng khí xanh lè phụt ra. Ông Hoành hô mọi người chạy càng xa càng tốt. Màu khói xanh lè là ô xít đồng. Ngôi mộ gần 2.000 năm trong lòng đất tích tụ rất nhiều yếm khí, nên nếu không thận trọng, hít phải là toi mạng như chơi. Hàng vạn người "phát sốt" Sau khi nắp hầm mở, ông vinh dự là người đầu tiên đặt chân vào hầm. Những đường hầm ngoằn nghèo, thông nhau sâu hun hút, gợi cảm giác như đang đi trong một ngôi đền linh thiêng, chứ không phải một ngôi mộ. Ông mường tượng ra cảnh 2.000 năm trước, ngôi mộ này có cả quân lính canh giữ để một vị “đại quan” nào đó được an giấc ngàn thu. Ngồn ngộn trong những căn phòng trong ngôi mộ Hán khổng lồ này là cổ vật, chủ yếu là vũ khí, đồ gốm và các vật dụng thời kỳ ấy. Chiếc quan tài còn đó, hình thù bộ xương của chủ nhân ngôi mộ này vẫn còn, nhưng động vào là mủn ra thành bột. Khi ngôi mộ Hán hiện ra giữa thanh thiên bạch nhật, có người khẳng định đó là một ngôi đền, có người cho rằng đó là cung điện. Họ suy luận, cách đây hàng thiên niên kỷ, người Việt chúng ta ở vùng đất này, chỉ sống trong những ngôi nhà tranh vách đất, chết được bó bởi những manh chiếu sờn, chứ lấy đâu ra một công trình huyệt mộ hoành tráng đến vậy. Hàng vạn người dân phát sốt vì tin nóng, từ khắp các miền tổ quốc nườm nượp đổ về xem mộ, quay phim, chụp ảnh suốt ngày đêm. Các nhà khoa học, các nhà báo thi nhau phán đoán theo ý riêng của mình, người thì bảo đây là lăng mộ thời Trần, người bảo là đền thờ thời Lý... Riêng ông Tăng Bá Hoành thì quá rõ ràng, bởi nó đúng là một ngôi mộ Hán, tức của quan lại người Hán. Ông biết, mảnh đất ông đang sống và dày công nghiên cứu mấy chục năm nay là nơi "đóng đô" của người Hán khi họ sang cai trị dân ta. Viên gạch cuối cùng và chữ có râu Sau một tháng khai quật ngày đêm, tận thu hiện vật, những viên gạch được bóc gỡ cẩn thận xếp lên xe chở về bảo tàng Hải Dương. Ông Hoành tính toán tỉ mẩn, thấy rằng, ngôi mộ này tốn kém đúng 45m3 gạch. Một điều kỳ diệu xảy ra. Khi viên gạch cuối cùng được nhấc lên do chính tay ông, ông sung sướng đến phát khóc, vì viên gạch đó có... chữ Hán, ghi niên đại xây ngôi mộ này. Ông Hoành dịch ngay mấy chữ như sau: "Vĩnh Kiến tứ niên thất nguyệt". Như vậy, ngôi mộ này được làm vào năm 129 sau Công nguyên. Sau này, GS sử học nổi tiếng Hà Văn Tấn cũng dịch lại với nội dung không khác gì. Trên viên gạch đó hiện vẫn còn 3 chữ không thể đọc được. Đây là chữ Hán cổ, có râu ria, hay còn gọi là chữ Lệ (chữ Hán gồm nhiều loại: Chân, Thảo, Triện, Lệ...), là loại chữ Hán khó đọc nhất. Ông Hoành đã nhờ rất nhiều GS, TS của Trung Quốc, Đài Loan, song cũng không ai đọc được 3 chữ này.
Người nhìn “xuyên” lòng đất ở Hải Dương Sau khi khai quật ngôi mộ Hán tuyệt đẹp, chở gạch xây mộ về bảo tàng, ông Hoành lại cùng các đồng nghiệp xoay trần giữa sân dựng lại nguyên bản ngôi mộ cho khách tham quan ngắm nghía (Từ ngôi mộ Hán được phục dựng này, có hàng chục nhà khoa học đã làm đề tài bảo vệ luận án tiến sĩ). Bài cuối của loạt bài "Kỳ nhân ở nghĩa địa mộ cổ" là những tiếng thở dài buồn bã về số phận những di vật cực kỳ quý hiếm. Ngôi mộ sừng sững như ngọn núi Trong lúc dựng mộ, đôi lúc ông Hoành thấy khóe mắt mình cay cay, khi mường tượng ra cảnh hàng ngàn tổ tiên mình phải trần lưng xây mộ hàng năm trời cho quan lại người Hán, trong cảnh roi vọt tàn nhẫn, trong khi nhà không có mà ở, cơm không có đủ ăn, chết may ra có manh chiếu rách. Hiện trường rộng lớn của vụ khai quật mộ Hán. Để xây dựng được lăng mộ này, người ta phải chuẩn bị một lượng gạch rất lớn. Khoảnh đất rộng được đào sâu xuống lòng đất chừng 0,5m để làm móng. Những viên gạch Hán, có hoa văn được xếp khít, không cần chất kết dính. Những viên gạch hình múi bưởi được xếp làm vòm cuốn. Sau khi ngôi mộ rộng hơn trăm mét vuông hoàn thành, quan tài, đồ đạc chia cho người chết được đưa vào, rồi các cửa vòm được lấp kín lại. Quá trình lấp ngôi mộ là một kỳ công "dời non lấp biển". Hàng ngàn người đào đất để lấp mộ cao như một ngọn núi, tới vài chục mét, rộng hàng ngàn mét vuông. Ông Hoành khẳng định, cách đây 2.000 năm, trông ngôi mộ này không khác gì một ngọn núi sừng sững giữa đồng bằng. Sau gần hai thiên niên kỷ mưa gió mài mòn, con người đào bới, mà gò đất vẫn còn cao đến 5-7m, rộng hơn ngàn mét vuông, và chứng tích một cái hồ nước hình thành do đào đất đắp mộ cạnh đó vẫn còn khá rõ nét. Những địa danh nằm... trong vòng bí mật Từ những kinh nghiệm ấy, ông Hoành có thể nhìn "xuyên" lòng đất để phát hiện mộ Hán rất dễ dàng. Ông bảo, cứ chỗ nào, giữa cánh đồng bằng phẳng lại nổi lên một gò đất, cách gò đất không xa có một hồ nước, thì rất nhiều khả năng dưới gò đất đó sẽ có mộ Hán. Riêng trên địa bàn Hải Dương, nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành biết hàng chục nơi có mộ Hán, song ông không tiết lộ, bởi nếu những ngôi mộ này lọt vào mắt bọn trộm cổ vật, chúng sẽ đào hầm chui vào phá tan cả mộ. Còn nếu tiến hành khai quật, không biết sẽ để làm gì, bởi sẽ chẳng lấy đâu ra chỗ mà trưng bày mộ cổ. Ngay như ngôi mộ tuyệt tác mà ông đem về, hiện vẫn đang dãi nắng dầm mưa và gần như bị bỏ quên hoàn toàn. Ngày dựng lại ngôi mộ trong khuôn viên bảo tàng, ông đã nhiều lần đề xuất xin kinh phí làm mái che, nhưng chẳng được. Ngôi mộ Hán tuyệt đẹp được phục chế này cũng bị dãi nắng dầm mưa bao năm nay. Ước muốn của ông Hoành là biến một góc Bảo tàng Hải Dương thành “khu mộ cổ”, trong đó, có cả mộ thuyền, mộ cũi, mộ Hán, mộ tháp và mộ hợp chất. Ông đã đưa về “khu mộ cổ” gần đủ loại, chỉ thiếu mộ hợp chất. Mộ hợp chất từ thời Lê có hàng trăm ngôi còn chìm dưới lòng đất và thực tế đã có nhiều ngôi được khai quật, nhiều ngôi bị tàn phá, song chưa có ngôi nào được trưng bày ở “khu mộ cổ” này, bởi chưa có khả năng kỹ thuật cũng như kinh phí bảo tồn xác ướp. Số phận... bi thảm của những ngôi mộ cổ Nhưng ước muốn chỉ là ước muốn. Tất cả những chiếc mộ thuyền thuộc dạng cực kỳ nguyên vẹn, quý hiếm do nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành và đồng nghiệp phát hiện, khai quật, tìm cách bảo tồn, hiện đang chịu số phận... bi thảm. Ông Hoành dẫn tôi ra Bảo tàng Hải Dương để chứng kiến sự xuống cấp của những di sản tối cổ đang bị đối xử rất tàn nhẫn ấy. Những chiếc mộ thuyền cực kỳ quý hiếm do chính bàn tay ông đào lên, giờ nằm phơi mưa nắng dãi dầu sau bụi tre và đống gạch vữa. Những chiếc mộ thuyền cực quý này bị vứt chỏng chơ như đống gỗ phế liệu. Chiếc mộ thuyền Đông Quan (Tân Hưng, Gia Lộc) cực đẹp, nguyên vẹn ông đào lên từ năm 1994 giờ trông không khác gì một cục than, nứt vỡ ngang dọc. Có một chiếc khác được bọc trong lồng kính, nhưng 7 chiếc giáo đồng rất đẹp thu được trong mộ, giờ chỉ còn hình thù là một vệt bột xanh. Một số mộ thuyền khác thì đang được ngâm trong bể nước có pha hóa chất gì đó mà PGS.TS Nguyễn Lân Cường mang về. Mấy chục chiếc mộ thuyền đã được khai quật, nhưng gia tài còn lại chỉ có vậy. Nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành ngồi bên những chiếc mộ thuyền kể chuyện mà lòng buồn rười rượi. Ấy thế mà từ những chiếc mộ thuyền gần như bị bỏ mặc giữa giời này, đã có hàng chục nhà nghiên cứu làm luận văn tiến sĩ. Dường như số phận những chiếc mộ thuyền này cũng là số phận chung của nhiều di vật khảo cổ nước nhà. Tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Duy Cương, Phó Giám đốc Bảo tàng Hải Dương về chuyện "đối xử" với những chiếc mộ thuyền. Ông Cương cũng buồn lắm, bởi theo ông, cả thế giới chưa bảo quản được mộ thuyền, chứ đừng nói chuyện nước ta. Theo ông, đã có một số đoàn của nước ngoài đến nghiên cứu và hứa tìm cách bảo tồn giúp, nhưng toàn thấy hứa suông, không làm được, hoặc hứa rồi để đấy. Và bảo tàng ngâm những chiếc mộ thuyền vào bể nước. Tôi hỏi có hóa chất gì trong nước không, ông Cương bảo "có", nhưng là thứ hóa chất gì thì ông chịu, bởi GS Nguyễn Lân Cường mang xuống, pha vào nước, rồi ngâm mộ thuyền vào. Tôi hỏi: "Liệu bảo tàng có tìm cách đưa những chuyếc mộ thuyền vào trong nhà để bảo quản?". Ông Cương bảo, cứ để ngoài đó thôi, chứ chưa có ý tưởng gì khác! Còn ông Tăng Bá Hoành thì lại bức xúc: "Với thế giới, những ngôi mộ này họ bảo quản ngon lành. Họ có một loại nhựa trong suốt, nấu lên, đổ cố định luôn, để ngàn năm sau không hỏng được. Chúng ta đào lên, để hỏng, là có tội với tiền nhân và con cháu". Thì ông cũng chỉ biết vậy thôi, chứ hồi ông làm lãnh đạo, ông cũng chạy đôn chạy đáo mà không tìm cách nào bảo quản được, bởi trình độ kỹ thuật, phương tiện không có, mà thứ quan trọng nhất là tiền cũng không có nốt. Tiếng thở dài của kỳ nhân mộ cổ Cạnh “khu mộ cổ” ông Hoành đã dựng lên một ngôi làng Việt cổ rất đẹp. Trong đó, đáng chú ý nhất là ngôi nhà gỗ lim ông đề xuất mua của con cháu ông nghè Nguyễn Quý Tân, là vị tiến sĩ triều Nguyễn. Ngôi nhà dựng vào năm 1875. Cạnh ngôi nhà này là ngôi nhà cổ của một ông giáo ở Thanh Hà cũng do chính ông “rước” về, với giá… 2 triệu đồng. Ngôi nhà có niên đại nửa cuối thế kỷ 19. Cảnh quan trước hai ngôi nhà cổ là vườn hoa, bể nước, cây cảnh. Dưới hồ nước trước nhà hoa sen, hoa súng thi nhau nở, cá quẫy bốn mùa. Vành đai ngoài là những bụi tre. Du khách bước chân vào, cảm giác như được trở về với làng Việt thuở xưa. Con đường dẫn vào “khu mộ cổ” và khu làng Việt được trang trí bằng gốm thời Trần rất độc đáo. Nhà khảo cổ tỉnh lẻ cảm thấy vô cùng hạnh phúc và hãnh diện khi du khách nườm nượp ghé thăm. Tuy nhiên, khi ông về hưu, năm 2007, thì theo lời ông, mọi thứ đều đã chìm vào quên lãng. Và quả đúng như vậy. Vườn cây giờ biến thành những đống đất, đống gạch, hồ nước biến mất, voi đá, ngựa đá, tượng đá lăn lốc trong lùm cây, bụi cỏ, còn bia đá nằm lẫn với đống rác. Hiện vật quý để vạ vật trong bụi cây cỏ. Thậm chí, người ta đốt cả đống rác ngay chân hai tấm bia đá cổ tuyệt đẹp. Khát vọng, công sức mấy chục năm trời của nhà khảo cổ học Tăng Bá Hoành, theo tiếng thở dài của ông, cũng đã “về hưu” ngay khi ông… nghỉ hưu. Ông Hoành đau xót trước cảnh rác rưởi ngự trị quanh những tấm bia cổ. Giờ đây, tuy không còn được trực tiếp ra hiện trường chỉ đạo và tham gia các cuộc khai quật mồ mả, nhưng “nhà khảo cổ tỉnh lẻ” Tăng Bá Hoành lại trút nốt sức lực mình cho những công việc quan trọng hơn: viết sách. Ông viết một cách hối hả, như sợ rằng mình không còn sống được bao năm nữa, mà những thứ trong đầu vẫn còn ngập ngụa. Tôi thực sự choáng váng và khó tin bởi sức viết của ông. Ông đã viết được vài chục cuốn sách, toàn là sách lịch sử, khảo cổ và 200 tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu. Ngoài ra, có tới vài chục đầu sách do ông chủ biên. Trong đó, có những cuốn ông viết như “Địa chí Hải Hưng”, dày những 1.700 trang, rồi “Nghề cổ truyền Hải Dương” dày tới 700 trang. Có những cuốn sách như “Làng nghề” do ông viết in ở tận nước Anh, rồi cuốn sách về khảo cổ in ở tận Philippin. Những câu chuyện ông viết đều có bóng dáng của những… ngôi mộ cổ. Và đằng sau những ngôi mộ cổ ấy, có cả hồn vía của một xã hội cổ xưa hiện về. Phạm Ngọc Dương
Người nhìn “xuyên” lòng đất ở Hải Dương Sau khi khai quật ngôi mộ Hán tuyệt đẹp, chở gạch xây mộ về bảo tàng, ông Hoành lại cùng các đồng nghiệp xoay trần giữa sân dựng lại nguyên bản ngôi mộ cho khách tham quan ngắm nghía (Từ ngôi mộ Hán được phục dựng này, có hàng chục nhà khoa học đã làm đề tài bảo vệ luận án tiến sĩ). Bài cuối của loạt bài "Kỳ nhân ở nghĩa địa mộ cổ" là những tiếng thở dài buồn bã về số phận những di vật cực kỳ quý hiếm. Ngôi mộ sừng sững như ngọn núi Trong lúc dựng mộ, đôi lúc ông Hoành thấy khóe mắt mình cay cay, khi mường tượng ra cảnh hàng ngàn tổ tiên mình phải trần lưng xây mộ hàng năm trời cho quan lại người Hán, trong cảnh roi vọt tàn nhẫn, trong khi nhà không có mà ở, cơm không có đủ ăn, chết may ra có manh chiếu rách. Hiện trường rộng lớn của vụ khai quật mộ Hán. Để xây dựng được lăng mộ này, người ta phải chuẩn bị một lượng gạch rất lớn. Khoảnh đất rộng được đào sâu xuống lòng đất chừng 0,5m để làm móng. Những viên gạch Hán, có hoa văn được xếp khít, không cần chất kết dính. Những viên gạch hình múi bưởi được xếp làm vòm cuốn. Sau khi ngôi mộ rộng hơn trăm mét vuông hoàn thành, quan tài, đồ đạc chia cho người chết được đưa vào, rồi các cửa vòm được lấp kín lại. Quá trình lấp ngôi mộ là một kỳ công "dời non lấp biển". Hàng ngàn người đào đất để lấp mộ cao như một ngọn núi, tới vài chục mét, rộng hàng ngàn mét vuông. Ông Hoành khẳng định, cách đây 2.000 năm, trông ngôi mộ này không khác gì một ngọn núi sừng sững giữa đồng bằng. Sau gần hai thiên niên kỷ mưa gió mài mòn, con người đào bới, mà gò đất vẫn còn cao đến 5-7m, rộng hơn ngàn mét vuông, và chứng tích một cái hồ nước hình thành do đào đất đắp mộ cạnh đó vẫn còn khá rõ nét. Những địa danh nằm... trong vòng bí mật Từ những kinh nghiệm ấy, ông Hoành có thể nhìn "xuyên" lòng đất để phát hiện mộ Hán rất dễ dàng. Ông bảo, cứ chỗ nào, giữa cánh đồng bằng phẳng lại nổi lên một gò đất, cách gò đất không xa có một hồ nước, thì rất nhiều khả năng dưới gò đất đó sẽ có mộ Hán. Riêng trên địa bàn Hải Dương, nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành biết hàng chục nơi có mộ Hán, song ông không tiết lộ, bởi nếu những ngôi mộ này lọt vào mắt bọn trộm cổ vật, chúng sẽ đào hầm chui vào phá tan cả mộ. Còn nếu tiến hành khai quật, không biết sẽ để làm gì, bởi sẽ chẳng lấy đâu ra chỗ mà trưng bày mộ cổ. Ngay như ngôi mộ tuyệt tác mà ông đem về, hiện vẫn đang dãi nắng dầm mưa và gần như bị bỏ quên hoàn toàn. Ngày dựng lại ngôi mộ trong khuôn viên bảo tàng, ông đã nhiều lần đề xuất xin kinh phí làm mái che, nhưng chẳng được. Ngôi mộ Hán tuyệt đẹp được phục chế này cũng bị dãi nắng dầm mưa bao năm nay. Ước muốn của ông Hoành là biến một góc Bảo tàng Hải Dương thành “khu mộ cổ”, trong đó, có cả mộ thuyền, mộ cũi, mộ Hán, mộ tháp và mộ hợp chất. Ông đã đưa về “khu mộ cổ” gần đủ loại, chỉ thiếu mộ hợp chất. Mộ hợp chất từ thời Lê có hàng trăm ngôi còn chìm dưới lòng đất và thực tế đã có nhiều ngôi được khai quật, nhiều ngôi bị tàn phá, song chưa có ngôi nào được trưng bày ở “khu mộ cổ” này, bởi chưa có khả năng kỹ thuật cũng như kinh phí bảo tồn xác ướp. Số phận... bi thảm của những ngôi mộ cổ Nhưng ước muốn chỉ là ước muốn. Tất cả những chiếc mộ thuyền thuộc dạng cực kỳ nguyên vẹn, quý hiếm do nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành và đồng nghiệp phát hiện, khai quật, tìm cách bảo tồn, hiện đang chịu số phận... bi thảm. Ông Hoành dẫn tôi ra Bảo tàng Hải Dương để chứng kiến sự xuống cấp của những di sản tối cổ đang bị đối xử rất tàn nhẫn ấy. Những chiếc mộ thuyền cực kỳ quý hiếm do chính bàn tay ông đào lên, giờ nằm phơi mưa nắng dãi dầu sau bụi tre và đống gạch vữa. Những chiếc mộ thuyền cực quý này bị vứt chỏng chơ như đống gỗ phế liệu. Chiếc mộ thuyền Đông Quan (Tân Hưng, Gia Lộc) cực đẹp, nguyên vẹn ông đào lên từ năm 1994 giờ trông không khác gì một cục than, nứt vỡ ngang dọc. Có một chiếc khác được bọc trong lồng kính, nhưng 7 chiếc giáo đồng rất đẹp thu được trong mộ, giờ chỉ còn hình thù là một vệt bột xanh. Một số mộ thuyền khác thì đang được ngâm trong bể nước có pha hóa chất gì đó mà PGS.TS Nguyễn Lân Cường mang về. Mấy chục chiếc mộ thuyền đã được khai quật, nhưng gia tài còn lại chỉ có vậy. Nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành ngồi bên những chiếc mộ thuyền kể chuyện mà lòng buồn rười rượi. Ấy thế mà từ những chiếc mộ thuyền gần như bị bỏ mặc giữa giời này, đã có hàng chục nhà nghiên cứu làm luận văn tiến sĩ. Dường như số phận những chiếc mộ thuyền này cũng là số phận chung của nhiều di vật khảo cổ nước nhà. Tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Duy Cương, Phó Giám đốc Bảo tàng Hải Dương về chuyện "đối xử" với những chiếc mộ thuyền. Ông Cương cũng buồn lắm, bởi theo ông, cả thế giới chưa bảo quản được mộ thuyền, chứ đừng nói chuyện nước ta. Theo ông, đã có một số đoàn của nước ngoài đến nghiên cứu và hứa tìm cách bảo tồn giúp, nhưng toàn thấy hứa suông, không làm được, hoặc hứa rồi để đấy. Và bảo tàng ngâm những chiếc mộ thuyền vào bể nước. Tôi hỏi có hóa chất gì trong nước không, ông Cương bảo "có", nhưng là thứ hóa chất gì thì ông chịu, bởi GS Nguyễn Lân Cường mang xuống, pha vào nước, rồi ngâm mộ thuyền vào. Tôi hỏi: "Liệu bảo tàng có tìm cách đưa những chuyếc mộ thuyền vào trong nhà để bảo quản?". Ông Cương bảo, cứ để ngoài đó thôi, chứ chưa có ý tưởng gì khác! Còn ông Tăng Bá Hoành thì lại bức xúc: "Với thế giới, những ngôi mộ này họ bảo quản ngon lành. Họ có một loại nhựa trong suốt, nấu lên, đổ cố định luôn, để ngàn năm sau không hỏng được. Chúng ta đào lên, để hỏng, là có tội với tiền nhân và con cháu". Thì ông cũng chỉ biết vậy thôi, chứ hồi ông làm lãnh đạo, ông cũng chạy đôn chạy đáo mà không tìm cách nào bảo quản được, bởi trình độ kỹ thuật, phương tiện không có, mà thứ quan trọng nhất là tiền cũng không có nốt. Tiếng thở dài của kỳ nhân mộ cổ Cạnh “khu mộ cổ” ông Hoành đã dựng lên một ngôi làng Việt cổ rất đẹp. Trong đó, đáng chú ý nhất là ngôi nhà gỗ lim ông đề xuất mua của con cháu ông nghè Nguyễn Quý Tân, là vị tiến sĩ triều Nguyễn. Ngôi nhà dựng vào năm 1875. Cạnh ngôi nhà này là ngôi nhà cổ của một ông giáo ở Thanh Hà cũng do chính ông “rước” về, với giá… 2 triệu đồng. Ngôi nhà có niên đại nửa cuối thế kỷ 19. Cảnh quan trước hai ngôi nhà cổ là vườn hoa, bể nước, cây cảnh. Dưới hồ nước trước nhà hoa sen, hoa súng thi nhau nở, cá quẫy bốn mùa. Vành đai ngoài là những bụi tre. Du khách bước chân vào, cảm giác như được trở về với làng Việt thuở xưa. Con đường dẫn vào “khu mộ cổ” và khu làng Việt được trang trí bằng gốm thời Trần rất độc đáo. Nhà khảo cổ tỉnh lẻ cảm thấy vô cùng hạnh phúc và hãnh diện khi du khách nườm nượp ghé thăm. Tuy nhiên, khi ông về hưu, năm 2007, thì theo lời ông, mọi thứ đều đã chìm vào quên lãng. Và quả đúng như vậy. Vườn cây giờ biến thành những đống đất, đống gạch, hồ nước biến mất, voi đá, ngựa đá, tượng đá lăn lốc trong lùm cây, bụi cỏ, còn bia đá nằm lẫn với đống rác. Hiện vật quý để vạ vật trong bụi cây cỏ. Thậm chí, người ta đốt cả đống rác ngay chân hai tấm bia đá cổ tuyệt đẹp. Khát vọng, công sức mấy chục năm trời của nhà khảo cổ học Tăng Bá Hoành, theo tiếng thở dài của ông, cũng đã “về hưu” ngay khi ông… nghỉ hưu. Ông Hoành đau xót trước cảnh rác rưởi ngự trị quanh những tấm bia cổ. Giờ đây, tuy không còn được trực tiếp ra hiện trường chỉ đạo và tham gia các cuộc khai quật mồ mả, nhưng “nhà khảo cổ tỉnh lẻ” Tăng Bá Hoành lại trút nốt sức lực mình cho những công việc quan trọng hơn: viết sách. Ông viết một cách hối hả, như sợ rằng mình không còn sống được bao năm nữa, mà những thứ trong đầu vẫn còn ngập ngụa. Tôi thực sự choáng váng và khó tin bởi sức viết của ông. Ông đã viết được vài chục cuốn sách, toàn là sách lịch sử, khảo cổ và 200 tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu. Ngoài ra, có tới vài chục đầu sách do ông chủ biên. Trong đó, có những cuốn ông viết như “Địa chí Hải Hưng”, dày những 1.700 trang, rồi “Nghề cổ truyền Hải Dương” dày tới 700 trang. Có những cuốn sách như “Làng nghề” do ông viết in ở tận nước Anh, rồi cuốn sách về khảo cổ in ở tận Philippin. Những câu chuyện ông viết đều có bóng dáng của những… ngôi mộ cổ. Và đằng sau những ngôi mộ cổ ấy, có cả hồn vía của một xã hội cổ xưa hiện về. Phạm Ngọc Dương