Năm 1972, tôi thi vào sư phạm. Trong điều kiện bình thường đã là rất khó, nay lại rơi đúng vào năm 1972 với “mùa hè đỏ lửa”, năm đôn quân bắt lính nên đã đẩy “tỉ lệ chọi” lên cực cao. Cùng lứa tú tài với tôi năm đó, hầu hết đều không được học lên theo con đường thẳng nữa, nên ngoài những người thoát li lên rừng, nếu muốn trốn lính, thì phải rẽ ngang thi vào sư phạm. Trước khi tôi bước vào kì thi số mệnh, ba tôi bí mật chuẩn bị sẵn sàng tư trang, phòng khi rớt sư phạm, trở về nhà là tôi lên núi ngay. Bốn anh trai tôi đều “ở rừng”, một người đã hi sinh năm 1965, tôi là con út còn ở lại nhà. Năm 1964, Trung ương có chủ trương chọn con em gia đình cách mạng chí cốt ở miền Nam đưa ra đào tạo ở miền Bắc, chuẩn bị cho thời kì cách mạng tiếp theo, ngày hòa bình thống nhất đất nước. Anh em trên “cứ” về nói với ba tôi cho tôi đi ra Bắc. Ba tôi chỉ nói ngắn gọn: “Để nó ở nhà làm giống!” Mặc dù ba tôi đã thành dân thường từ sau 1954, nhưng “người đằng mình” còn rất nể trọng. Ba tôi tham gia cách mạng từ năm 1931 và đã đi hết thời kì kháng chiến chống Pháp, nên tiếng nói vẫn còn trọng lượng nhiều lắm. Do vậy, lúc này, nếu muốn giữ được “giống” như lời ba tôi nói, thì không còn con đường nào khác là tôi phải thi đậu vào trường sư phạm. Tôi đã thi đậu vào trường sư phạm Đà Lạt. Cũng là may mắn, vì tôi chưa phải là đứa có học lực giỏi nhất. Sau này tôi mới biết, tôi đậu được không phải do môn thi viết đạt điểm cao, mà chính là do thi vấn đáp. Tôi còn nhớ, trong phòng thi vấn đáp hôm đó có khoảng 20 thí sinh cả nam và nữ. Phụ trách phòng thi chỉ duy nhất một thầy giám khảo. Ông mang kính trắng, tóc bạc nửa mái đầu, gương mặt phúc hậu. Cuộc hỏi đáp được thực hiện công khai trước tất cả các thí sinh. Thầy giám khảo lần lượt gọi tên từng thí sinh lên đứng trên bục để trả lời các câu hỏi do thầy đặt ra. Tên tôi có chữ cái đầu là M nên thi sau một chút. Một chút đó, cũng là thời gian tạm đủ cho tôi rút được kinh nghiệm khi trả lời các câu hỏi của giám khảo. Các câu hỏi của thầy giám khảo hình như không theo một khuôn mẫu nào cả, mà hết sức tự do, linh hoạt, có khi rất vu vơ. Thí sinh muốn lấy điểm cao, ngoài việc trả lời đúng nội dung câu hỏi, còn phải biết đoán trúng tâm lí của giám khảo nữa. Ví dụ như giám khảo hỏi: “nghề nghiệp truyền thống của gia đình anh là gì? Trả lời: “làm ruộng”. Hỏi tiếp: “anh có muốn theo nghề chân lắm tay bùn này không? Vì sao?” Trả lời câu hỏi trên, tự nhiên anh phải bộc lộ quan niệm sống của mình. Trong khi đó, ta không thể biết ông giám khảo này thuộc phái “trọng nông” hay “khinh nông”? Giám khảo còn yêu cầu thí sinh đi qua đi lại trước bảng đen và viết bằng phấn trắng lên bảng một số câu hay một đoạn văn nào đó, mục đích để xem giò xem cẳng của anh có thẳng thớm không, xem chữ viết bảng có ngay ngắn, thẳng hàng, chân phương không? Các thí sinh còn được yêu cầu hát, đọc thơ hoặc biểu diễn theo năng khiếu của mình… Trong khi ngồi chờ tới lượt mình, tôi chú ý câu hỏi mà giám khảo thường lặp lại với hầu hết thí sinh nam: “Tại sao anh không đăng kí vào trường Thủ Đức để trở thành sĩ quan mà lại thi vào sư phạm?” Tôi cho rằng ông thầy giám khảo này ra câu hỏi với dụng ý thăm dò tư tưởng, xu hướng chính trị của thí sinh nam, vì không thấy ông đặt câu hỏi “tại sao thi vào sư phạm” với một thí sinh nữ nào cả. Do sợ phạm phải điều cấm kị nên các thí sinh nam không dám nói thật lòng mình mà đều nói dối giống nhau: “Dạ thưa thầy, vì em yêu thích nghề dạy học, em rất… yêu trẻ con!” Gương mặt thầy giám khảo lạnh tanh, không biểu hiện tình cảm, nên không thể đoán biết thái độ của ông đối với các câu trả lời trên của thí sinh. Đến lượt tôi lên bục, tôi thực hiện tất cả các yêu cầu của giám khảo một cách trơn tru. Tôi còn nhớ ông hỏi tôi “có thích thơ không?” Tôi trả lời “dạ, rất thích”. Ông yêu cầu tôi đọc thử một bài. Tôi bình tĩnh đọc hết bài thơ “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán. Đây là bài thơ do thầy giáo dạy văn Nguyễn An (tên căn cước của nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên) chép cho mà tôi đã thuộc lòng. Tôi thấy thầy giám khảo lần đầu tiên mỉm cười, rồi ông hỏi tiếp câu mà tôi đồ rằng đây chính là “công án”, theo cách gọi của những người tu thiền, khi vượt qua được một công án là xem như càng gần tới giới hạn đạt ngộ: “Tại sao anh không vào trường sĩ quan Thủ Đức…?” Không hiểu tại sao lúc đó tôi không trả lời theo khuôn sáo như các thí sinh trước, mà như có một lực vô hình nào đó dẫn dắt tôi, mở lòng, mở miệng tôi ra để tôi nói thật suy nghĩ của mình: “Thưa thầy, vì em không muốn cầm súng bắn vào đồng bào mình”. Tôi không dám nhìn thẳng vào mắt thầy giám khảo, mà quay xuống nhìn các bạn thí sinh. Tôi thấy họ có vẻ sững sờ trong một thoáng… Người dạy lớp tôi môn “Sư phạm lí thuyết” là thầy Nguyễn Văn Minh. Thầy thuộc lớp trí thức yêu hoà bình, sống trung thực, ghét kẻ xu nịnh và nhất là dối trá. Đó cũng chính là thầy giám khảo đã “vấn” tôi trong kì thi vừa rồi. Sau này, khi quan hệ giữa tôi và thầy đã thân thiết, tôi dò hỏi về “công án” thi vấn đáp kia, thầy “bật mí” cho tôi biết, thầy phết một gậy cho những anh chàng nào trả lời câu hỏi của thầy bằng câu: “Vì em yêu… trẻ con”. Thầy đã cho tôi số điểm cao nhất của kì thi vấn đáp năm đó. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà tôi gặp được cái may mắn này. Chính sự trung thực của tôi đã góp phần tạo nên cái ngẫu nhiên đó. Một quan niệm sống trung thực của vị giám khảo và một câu trả lời thẳng thắn của một thí sinh gặp nhau, đã quyết định số mệnh của một con người, đó là cuộc đời của chính tôi. Tôi phải làm thầy giáo. Năm 1964, nếu ba tôi đồng ý cho đứa con út là tôi đi ra Bắc, thì có thể một trận bừa bom B52 bất kì nào đó đã “giữ” tôi lại vĩnh viễn trên đường Trường Sơn. Hoặc giả, nếu tôi ra được tới miền Bắc, sau thời gian học tập ở trong nước hoặc có khi cả ở nước ngoài, có thể tôi sẽ trở thành một người làm khoa học hoặc một viên chức hành chánh hay một anh nghệ sĩ nửa mùa… Hoặc nếu như, năm 1972, tôi thi rớt sư phạm, phải ra rừng, thì “một xanh cỏ, hai đỏ ngực”, có thể tôi đã theo đoàn quân tiến về giải phóng Sài Gòn và cũng có khi không may mắn, tôi đã ngã xuống trong ngày quyết đấu cuối cùng của cuộc chiến tranh vào ngày 30 tháng 4 năm 1975... Mọi chuyện đều có thể. Mấy năm gần đây, tôi không về Đà Lạt, nên không có dịp thăm thầy. Không biết người thầy đã ra “công án” cho tôi và năm 1972 trong kì thi định mệnh đã rẽ đời tôi theo con đường dạy học suốt hơn 35 năm nay, người đã dạy tôi bài học về sự trung thực, có khoẻ không, có còn còng lưng mỗi ngày ngồi sau chiếc tủ kính kê trên hè khu Hoà Bình, đầu đường xuống chợ Đà Lạt, mắt không cần đeo kính nhưng vẫn tỏ, cặm cụi làm công việc giúp người khác nhìn thấy được rõ ràng trung thực hơn hình ảnh cuộc sống quanh mình. Sau 1975, thầy là thợ mắt kính./. Tác giả: Ngô Đình Miên Nguồn: netbuttrian.vn