Tìm kiếm bài viết theo id

Một Cõi Âm Dương

Thảo luận trong 'Chuyện trò' bắt đầu bởi sonjapan, 5/11/10.

ID Topic : 2462284
Ngày đăng:
5/11/10 lúc 08:26
  1. sonjapan Thành Viên Cấp 1

    tiếp theo

    Bỗng nhiên…
    Một tiếng vỗ bàn vang lên đánh “RẦM” như tiếng sấm. Nghe như tiếng vỗ bàn quen thuộc của sư bá tôi khi nhiếp phục con tà.
    Tôi giật nảy mình. Hai bóng ma mờ dần, mờ dần rồi tan biến như sương khói.
    Cảm giác lạnh lẽo khó thở cũng giảm nhẹ dần…
    Tôi chồm dậy. Đèn néon vẫn sáng, chiếc quạt trần vẫn quay nhè nhẹ trên cao. Xung quanh yên ắng đến lạ kỳ. Tôi bần thần không biết là mơ hay thật. Nhưng có điều chân tôi vẫn còn cảm giác lành lạnh không bình thường. Tim vẫn còn đập thình thịch trong lồng ngực. Gương mặt hai người đàn ông lúc nãy vẫn còn lở vởn trong đầu. Ngay lúc này, khi kể lại câu chuyện, trước mắt tôi như vẫn hiện rõ mồn một hai khuôn mặt ấy.
    Không có thờI gian suy nghĩ nữa. Tôi lập tức lấy gốI và mền kê làm toạ cụ, xoay mặt về hướng Tây Nam kết ấn Chuẩn Đề bố tự hộ thân và bắt đầu trì tụng theo phép Sư tử Hống:
    “AUM – CHA – LE – CHU – LE – CHAN – DI – SVA – HA”
    Trong lúc trì, tôi quán tưởng mình hiện tướng phẫn nộ (mà làm sao không “phẫn nộ” được cơ chứ! Làm thầy mà để ma giỡn mặt có đáng giận không!), tám tay tôi cầm đủ tám món binh khí :KIẾM – KÍCH – BÚA – MÓC CÂU – BÀNG BÀI – CHÀY ĐỘC CỔ - CHÀY TAM CỔ - VÒNG KIM CANG.
    Tôi trì với tất cả sự tức giận, sợ hãi và xấu hổ. Đã lâu lắm rồi tôi mới có lại sự nhất tâm như thế này. Tiếng trì tụng ban đầu còn run rẩy, sau cứ to dần, to dần.Tôi cũng thấy mình cũng to dần như phiến đá trên Vồ Thiên Tuế của núi Cấm. Toàn thân tôi bốc lửa…


    Lửa cất cao ngọn, từ trong thân tôi toả ra xung quanh rồI đốt trụI tất cả - kể cả tôi.
    Tôi ngồI không biết bao lâu. Nhưng khi mở mắt ra xả đàn thì ngài cửa sổ trờI đã mờ mờ sáng. Toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi. Cái mền kê làm toạ cụ và phần nệm giường cũng thấm mồ hôi ướt sũng.
    Tôi chà nóng hai tay rồI xoa bóp toàn thân cho thông máu. Thân thể tôi lúc ấy nhẹ nhàng và sảng khoái lạ lùng. Có điều… toàn thân tôi bốc ra mùi thúi kinh khủng, Nó thum thủm nặng mùi như xác chó mèo chết sình. Lúc đầu tôi còn tưởng ngoài cửa sổ có con chuột chết nào đó. Nhưng sau khi tìm kiếm một hồI, tôi giơ tay lên ngửI thì… Oẹ! mùi thúi xộc thẳng vào mũi xông lên tớI óc làm tôi muốn ói vọt ra. Tôi vộI vàng lau khô mình rồI nhảy vào nhà tắm. Mất gần ba mươi phút kỳ cọ tắm rửa, tôi mớI thoát khỏI sự ám ảnh của mùi hương độc đáo ấy.
    Thả bộ ngoài vườn hoa nhà nghỉ Thanh Đa trong buổI sáng trong lành, tôi mớI cảm nhận hết giá trị của cuộc sống. Thế này mớI là hưởng thụ đây chứ! Chợt nhớ, đã lâu lắm rồI tôi không đi dạo buổI sáng. Tôi nhớ lạI những ngày ở chùa, sáng sớm thầy tôi đã bắt thức dậy đi kinh hành quanh khuôn viên chùa. Lúc ấy là những ngày vui sướng và an lạc nhất...
    Từ sư phụ, tôi nhớ đến sư bá. Lâu lắm rồI tôi không về Thủ Đức. Một cảm giác mong nhớ tự dưng trào lên mãnh liệt đến nỗI tôi muốn đằng vân trở về chùa. MỗI bước chân đi của tôi kéo theo bao nhiêu hoài niệm. Nó cứ như những đợt sóng lòng dồn dập vỗ vào tâm trí…
    CuốI cùng, tôi quyết định bỏ tour Củ Chi. Sau khi nhờ được thằng bạn trong công ty dẫn tour giùm, tôi nói vài lờI giả lả khách sáo vớI mọI ngườI trong đoàn và đi ngay, bỏ cả ăn sáng.
    Từ Thanh Đa đi về Thủ Đức cũng không xa lắm. Vượt qua cầu Bình Triệu rẽ phảI cặp theo con đường song song vớI tuyến đường sắt, tôi về đến chợ Thủ Đức. Con đường này lâu lắm rồI tôi chưa đi ngang. Chính xác là từ sau ngày thầy tôi mất…
    Con đường vào chùa cũng không thay đổI gì mấy. vẫn là những ruộng rau muống nốI tiếp nhau, vẫn là những hàng cây xanh mát mắt. Đây rồI, cánh cổng chùa bằng gỗ cũ kỹ nằm khiêm tốn dướI tán lá bồ đề rợp mát. Cổng vẫn mở rộng như ngày sư ông tôi còn tạI thế. Không khí tĩnh lặng và vắng vẻ quá. Tôi bâng khuâng nhớ đến hai câu đốI từng đọc ở Tịnh xá Trung Tâm:
    “Thiền môn rộng mở ít ngườI đến
    Cửa khám then cài lắm kẻ vô”


    Sợ làm ồn, tôi xuống xe ở cổng và dắt bộ vào. Băng qua sân chùa còn rơi vãi ít chiếc lá đa khô, tôi dẫn xe vào vườn. Một chú tiểu trạc mườI sáu mườI bảy tuổI đang xách nước tướI cây. Nghe tiếng động, chú quay lạI nhìn tôi chăm chú. Tôi chưa kịp hỏI, chú đã nở nụ cươi tươi nói trước:
    - Sư huynh tên Dũng phảI hôn?
    - Đúng rồI, sao chú biết? – Tôi ngạc nhiên hỏI lại.
    Chú tiểu vẫn cườI:
    - Sư phụ có dặn, nếu sư huynh đến thì lên thất gặp sư phụ.
    - Thất nào? Có phảI chỗ của sư ông lúc trước hôn.
    - Dạ đúng rồi. Sau khi khi sư tổ viên tịch, sư phụ dọn lên ở trên đó luôn để tiện việc nhập thất.
    - Vậy sao này sư bá không chữa bệnh nữa sao?
    - Dạ cũng có, nhưng sư phụ chọn ngườI dữ lắm. Có duyên ông mớI chịu chữa. Bằng không, sư phụ kiếm cớ tránh mặt hết.
    - Chà, sau này ông khó khăn quá vậy ta.
    - Không phải. Sư bá không muốn tạo nghiệp nữa. HồI sư tổ viên tịch, ông cũng bị hành hết ba ngày mớI hoá được. Lúc đó, các thầy ở các chùa khác đến tụng kinh cầu nguyện, sư tổ đâu có cho. Ông nói, ba chục năm tạo duyên tạo nghiệp gây ân chuốc oán vớI cõi vô hình, bây giờ bị đình trệ ba ngày có là bao. Ông chỉ biểu sư phụ làm phép giảI hết các sắc thần, sắc binh mà trước đây ông mượn để làm việc…
    - HồI sư ông bị bệnh, tôi kẹt tour miền Trung về không kịp. Có nghe Minh Tịnh kể lạI nhưng không rõ lắm…
    - Sư tổ bị làm mệt suốt ba ngày đêm, ai nấy lo đến rơi nước mắt mà không biết phảI làm sao. Chỉ có sư phụ kề cận trì chú trợ lực cho ông, còn mấy đứa tụI đệ chỉ niệm Phật vòng ngoài.
    - Ủa, vậy ra chú đi tu mấy năm rồI à. Vậy mà tôi hổng biết chú.
    - Làm sao sư huynh biết được. HồI sư thúc mất cho đến bây giờ, huynh có về chùa được mấy lấn đâu. Về thì huynh chạy lên thất sư tổ ngồI miết, sau đó chạy qua phòng sư phụ ngồI nữa, huynh có để ý đến ai đâu.
    Nghe đến đây, tôi khẽ cuốI đầu xấu hổ. Chú tiểu nói đúng. Tôi tệ dần từ sau khi thầy tôi mất…
    - Sau khi sư tổ viên tịch, sư phụ không muốn chữa bệnh nữa. Khi nào gặp ngườI hữu duyên có thể tạo phước sau này, sư phụ mớI ra tay thôi. ĐốI vớI ngườI khác nhờ vả, khách thường thì sư phụ bế quan, khách VIP thì sư phụ đi lánh nơi khác. Riết rồI ngườI ta nản không muốn ghé nữa.
    Tôi thở dài:
    - Thần thông như sư bá mà không giúp ngườI thật là uổng phí.
    - Sư phụ nói, Phật độ hữu duyên nhơn. Ngày xưa, trước khi độ ngườI, đức Thế Tôn thường nhập định quán chiếu nhân duyên các đờI của ngườI ta rồI mớI bắt đầu hoá độ. biết được căn duyên mớI hoá độ được tận gốc. Bây giờ, ngườI ta tu Tâm thì ít tu Tướng thì nhiều – tu Huệ thì ít tu Phước thì nhiều – tu Thật thì ít tu Giả thì nhiều – Chân thành thì ít LợI dụng thì nhiều… trợ duyên cho những con ngườI ấy là tự chuốc thêm phiền não, khó lòng thoát khỏI sanh tử luân hồi. Thôi thì, chùa trồng gì ăn nấy, không cần nhờ vả vào những đồng tiền bất chính của những ngườI giả vờ tin Phật. Hộ Pháp sẽ không bỏ ngườI tu …
    - Vậy là sau này sư bá thường nhập thất lắm hả?
    - Mô Phật. Một tháng sư phụ nhập thất một tuần. Những tháng Hạ, sư phụ không đi Kiết Hạ như các thầy khác mà vô thất ngồI luôn. Còn những ngày không nhập thất, sư phụ ngồI thiền định một ngày bốn thờI Tý Ngọ Mẹo Dậu, mỗI thờI khoảng hai tiếng đồng hồ.
    Chỉ có hôm nay hơi lạ. Sư phụ mớI nhập thất có hai ngày thì sáng này ông dậy dặn đệ nếu có sư huynh nào tên Dũng đến chùa thì biểu lên gặp ông…


    Như vậy sư bá biết mình đến hôm nay!” – Tôi thầm nghĩ và càng kính phục thần thông của sư bá. Giá mà tôi có được một chút của ông thôi thì… Đang nghĩ vẩn vơ, tiếng nói của chú tiểu làm tôi giật mình trở về thực tạI:
    - Sư huynh lên đi, đừng để sư phụ chờ.
    - Ờ há! Mãi nói chuyện mà tôi quên mất. À, mà chú pháp danh gì vậy?
    - Mô Phật, sư phụ đặt pháp danh cho đệ là Minh Trí.
    Thì ra, hàng đệ tử của thầy và sư bá đều đặt chung chữ Minh. Tôi cũng có pháp danh là Minh Thông, nhưng ít ai gọI đến trừ thầy tôi. Có lẽ tạI con ngườI tôi còn nặng thế tục quá chăng?
    Vừa nghĩ ngợI tôi vừa leo lên thất của sư bá. Nói là thất chứ thật ra là phần sân thượng phía sau chùa. Trước đây sư ông về cảI tạo lạI, che mái và ngăn làm hai. Một nửa làm thất và một nửa làm sảnh. Ở ngoài sảnh thờ năm đạo lệnh phù Bàn Cổ bằng vảI vàng. Nét phù được vẽ bằng bút lông đạI tự chấm châu sa và son tàu đỏ thắm. Đó là nơi huynh đệ tôi thỉnh thoảng lên tu luyện theo lệnh của sư ông.
    Tôi leo lên đến nơi, nhìn thấy mọI thứ vẫn như xưa. Không kịp nghĩ ngợI gì vì sư bá tôi đã ngồI đó tự lúc nào. Nhìn cái dáng gầy gầy ngồI khoan thai bên cái bàn gỗ uống trà, tôi xúc động muốn trào nước mắt. Tôi bước nhanh đến chỗ ông ngồI, quỳ sụp xuống thổn thức:
    - Thưa thầy… - Chỉ có hai tiếng thôi, tôi hết biết nói gì.
    Tôi quen gọI sư bá là thầy từ khi thầy tôi dọn nhà về Thủ Đức sống cạnh chùa vớI sư ông (xem “Ngũ Lão Bàn Cổ lệnh phù”).
    Sư bá nhìn tôi im lặng chẳng nói năng gì. Ánh mắt ông toát lên vẻ gì đó vừa nghiêm nghị vừa từ ái. Tôi trang trọng đảnh lễ ông bốn lạy. Ông ngồI tĩnh tạI không hề tỏ thái độ nào.
    Lạy xong, tôi ngẩng nhìn lên, sư bá chỉ tay vào cái ghế lớn bên cạnh bàn ra dấu tôi ngồi. Nhìn cái ghế còn lớn hơn ghế ông ngồI, tôi rụt rè từ chốI và chạy lạI phía bàn thờ lấy cái ghế đẩu nhỏ hơn đặt xuống cạnh ông.
    Sư bá khẽ gật đầu, lạI chỉ tay vào tách trà còn đang bốc khói để sẵn tự lúc nào ở trên bàn. Tôi không hiểu làm sao mà sư bá biết tôi đến lúc này mà rót trà để sẵn.
    - Trà nguộI bớt rồI đó, con uống đi. – Lúc này ông mớI mở miệng.
    Tôi suýt rơi nước mắt. Sư bá còn nhớ rõ tính tôi không thích ăn uống những đồ quá nóng. Ông quan tâm đến tôi như vậy, còn tôi thì…
    Rón tay cầm ly trà lên khẽ nhắp một tí, tôi nghe tỉnh cả người. Mang tiếng là nước trà chứ thật ra chỉ là nước gạo lức rang vàng. Mùi thơm thoang thoảng của gạo rang làm tôi nhớ lạI những ngày xưa, lúc tôi bị đau bụng. Gần một tuần lễ tôi chỉ uống nước gạo rang này cầm hơi… Sư phụ tôi thường đùa tôi: “ Uống nước này đúng một tuần là con thoát thai hoán cốt luôn đó nghe!”.
    - Thưa thầy … - Tôi rụt rè toan nói thì sư bá khoát tay.
    - Thầy biết hết rồi.
    - Sao thầy biết được ạ? - Vừa hỏI xong tôi mớI sực nghĩ mình hỏI quá thừa. Một tia sáng loé lên trong đầu tôi. - Vậy là hồI hôm này thầy đã…
    Sư bá khẽ gật đầu, hơi mỉm cườI vớI tay lấy tách trà đưa lên miệng.
    Thì ra là vậy. Tiếng vỗ bàn hồI hôm là do sư bá dùng phép cứu tôi. Chả trách tạI sao bỗng dưng ma quỷ rủ nhau biến mất sau tiếng động trong đếm ấy.


    64718Tôi leo lên đến nơi, nhìn thấy mọI thứ vẫn như xưa. Không kịp nghĩ ngợI gì vì sư bá tôi đã ngồI đó tự lúc nào. Nhìn cái dáng gầy gầy ngồI khoan thai bên cái bàn gỗ uống trà, tôi xúc động muốn trào nước mắt. Tôi bước nhanh đến chỗ ông ngồI, quỳ sụp xuống thổn thức:
    - Thưa thầy… - Chỉ có hai tiếng thôi, tôi hết biết nói gì.
    Tôi quen gọI sư bá là thầy từ khi thầy tôi dọn nhà về Thủ Đức sống cạnh chùa vớI sư ông (xem “Ngũ Lão Bàn Cổ lệnh phù”).
    Sư bá nhìn tôi im lặng chẳng nói năng gì. Ánh mắt ông toát lên vẻ gì đó vừa nghiêm nghị vừa từ ái. Tôi trang trọng đảnh lễ ông bốn lạy. Ông ngồI tĩnh tạI không hề tỏ thái độ nào.
    Lạy xong, tôi ngẩng nhìn lên, sư bá chỉ tay vào cái ghế lớn bên cạnh bàn ra dấu tôi ngồi. Nhìn cái ghế còn lớn hơn ghế ông ngồI, tôi rụt rè từ chốI và chạy lạI phía bàn thờ lấy cái ghế đẩu nhỏ hơn đặt xuống cạnh ông.
    Sư bá khẽ gật đầu, lạI chỉ tay vào tách trà còn đang bốc khói để sẵn tự lúc nào ở trên bàn. Tôi không hiểu làm sao mà sư bá biết tôi đến lúc này mà rót trà để sẵn.
    - Trà nguộI bớt rồI đó, con uống đi. – Lúc này ông mớI mở miệng.
    Tôi suýt rơi nước mắt. Sư bá còn nhớ rõ tính tôi không thích ăn uống những đồ quá nóng. Ông quan tâm đến tôi như vậy, còn tôi thì…
    Rón tay cầm ly trà lên khẽ nhắp một tí, tôi nghe tỉnh cả người. Mang tiếng là nước trà chứ thật ra chỉ là nước gạo lức rang vàng. Mùi thơm thoang thoảng của gạo rang làm tôi nhớ lạI những ngày xưa, lúc tôi bị đau bụng. Gần một tuần lễ tôi chỉ uống nước gạo rang này cầm hơi… Sư phụ tôi thường đùa tôi: “ Uống nước này đúng một tuần là con thoát thai hoán cốt luôn đó nghe!”.
    - Thưa thầy … - Tôi rụt rè toan nói thì sư bá khoát tay.
    - Thầy biết hết rồi.
    - Sao thầy biết được ạ? - Vừa hỏI xong tôi mớI sực nghĩ mình hỏI quá thừa. Một tia sáng loé lên trong đầu tôi. - Vậy là hồI hôm này thầy đã…
    Sư bá khẽ gật đầu, hơi mỉm cườI vớI tay lấy tách trà đưa lên miệng.
    Thì ra là vậy. Tiếng vỗ bàn hồI hôm là do sư bá dùng phép cứu tôi. Chả trách tạI sao bỗng dưng ma quỷ rủ nhau biến mất sau tiếng động trong đếm ấy.[/QUOTE]

    - Uống trà đi! - Tiếng của sư bá vang lên cắt ngang luồng suy tư vẩn vơ của tôi. Tôi vội vàng đưa tách trà lên miệng hớp một cái cạn sạch rồi với tay đặt lại lên bàn. Sau vài giây rụt rè, tôi hắng giọng hỏi ông:
    - Thưa thầy, con …
    - Con thắc mắc vì sao thầy biết phải không?
    - Dạ, con… - tôi cứ ấp úng không biết phải hỏi thế nào cho phải.
    Khẽ hớp thêm một ngụm trà, sư bá nói:
    - Hồi thầy con mất, ổng có gửi lại mấy đứa con cho thầy chăm sóc. Mấy năm qua, sư huynh Minh An của con bỏ đạo theo đời xem như hết phương trở lại, sư huynh Minh Tịnh của con thì chuyên lo tu luyện khá bền bỉ, thầy cũng không phải lo âu. Chỉ có mình con… - nhìn tôi khẽ thở dài, ông nói tiếp – con cứ lửng lửng lơ lơ, nửa đời nửa đạo. Đường thẳng không đi, cứ lạng bên này, tấp bên nọ, lúc chuyên cần hôm sớm, lúc giãy đãy biếng lười. Thầy làm sao yên tâm được.
    Tôi cúi đầu không dám nhìn sư bá. Ông nói như đi từ trong bụng tôi đi ra, khiến tôi có cảm giác mình làm bất cứ điều gì cũng bị ông nhìn thấy. Nghĩ đên đây bất chợt tôi điếng hồn… nhớ lại mấy bữa trước tôi nghe lời rủ rê của thằng Huỳnh đi uống bia ôm đến quá nửa đêm !!!
    Giọng sư bá vẫn cứ đều đều trầm ấm:
    - Hôi hôm, chư thần mách bảo con đang bị cô hồn khuấy phá, thầy nhân dịp này muốn giúp con trở lại con đường cũ…
    Tôi không kịp giữ ý tứ, vội xen ngang:
    - Thầy cho con hỏi cái phép hồi hôm là phép gì vậy thầy?
    - Cái thằng… cái thói học nghề vẫn không bỏ, gặp đúng hệ là sấn tới – sư bá tôi cười nhẹ - thầy dùng câu :“Ki yắc bút ta tu - giắc thắc ki yắc. “
    - Ủa, cái câu này dùng để hộ thân tránh người khuất mặt phá phách khi đến những nơi có nhiều âm khí mà thầy?
    - Vậy hồi hôm phá con là người gì – sư bá lại vừa cười vừa lắc đầu.
    - Nhưng mà…
    - Nhưng cái gì? Học không đến nơi đến chốn còn cãi lại. Chỉ một câu chú, cách sử dụng cũng nhiều cái diệu dụng khác nhau. Cái này, khi đọc phải vỗ bàn…
    Sư bá mất gần hai mươi phút để ôn lại các bài kinh Nam Tông và giảng lại những chỗ diệu dụng trong lúc sử dụng các câu kinh ấy.
    - Mấy câu kinh này anh em tụi con đọc suốt, vậy mà đến bây giờ mới hiểu.
    - Chỉ có con bây giờ mới hiểu thôi, Minh Tịnh nó hiểu và sử dụng từ lâu rồi. Cứ lo chuyện đời nhiều vô, có ngày con quên sạch hết những gì mọi người dạy con. Hừ! Chỉ có vài vong linh lưu lạc mà con còn không tự cứu mình được… vậy mà thuở xưa còn xách gói đi chữa tà…
    Biết sư bá không giận, nhưng tôi vẫn cúi gằm đầu xuống vì xấu hổ.
    - Việc con về chùa hôm nay cũng đủ chứng tỏ con còn chút cơ duyên. Đã đến thì phải ở lại đây ăn cơm, chiều rồi hẵng về. Thôi, con ra sau giếng tắm cho sạch rồi lên chánh điện cúng ngọ với Minh Trí. Nói Minh Trí đưa tạm cái áo của thầy để mặc…
    Ngày hôm đó, tôi chìm trong không gian tĩnh mịch của ngôi chùa, những sợ hãi, lo âu, toan tính dường như đã chạy hết ra ngoài cổng…
    Cho đến giờ, tôi vẫn thầm cảm ơn mấy con ma vì nhờ nó, tôi mới có cơ hội trở về với ngày xưa…

    MA GIẤU

    - Em chào anh Dũng! Mấy nay anh khoẻ không?
    Đang ngồi uống cà phê tán gẫu cùng sư huynh Minh Tịnh thì một tiếng chào cắt ngang câu chuyện. tôi ngẩng đầu lên nhìn. Một thanh niên ngoài 30 tuổI gầy gò, đen đúa như ngườI dân tộcđứng trước mặt tôi cườI toe toét. Nhìn nụ cười, tôi ngờ ngợ.
    - Hình như em là…
    - TrờI ơi, thằng Bình nè, anh hổng nhớ em hả.
    - Bảy Bình phảI hôn? Ông ơi, em đi đâu mà ghé đây? Không phải đã về Bà Rá ở rồi sao? Sao lại có mặt ở chỗ này. Còn anh Ba thầy của em có khoẻ hôn? Ảnh có về hôn?
    Tôi hỏi liên tu bất tận không kịp cho Bình trả lời, thằng nhỏ cứ đứng ngẩn ra mà cười. Một bàn tay vỗ nhẹ lên đầu gối của tôi, quay lại thấy Minh Tịnh vừa cười vừa chỉ vào cái ghế. Tôi lúc bấy giờ mớ ngớ ra là chưa cho thằng nhỏ ngồI xuống.
    - Thôi chết, anh xin lỗi. Bình ngồi xuống rồi nói chuyện đi em. Gặp lại tao mừng quá nên quên cả việc mời ngồi.
    - Dạ - Bình với tay kéo cái ghế ở bàn bên kia qua và từ tốn ngồi xuống. Trông nó có vẻ mệt mỏi.
    - Em uống gì không?
    - Dạ anh cho em ly cà phê đá ít đường.
    - Sao em biết anh ở đây mà ghé?
    - Dạ, em ghé nhà, nghe người nhà nói anh đi uống cà phê nên thử đi tìm. May sao chư thần chỉ lối vừa ra một đoạn là thấy anh đang ngồi với anh Hai…
    - Ừ, lúc rảnh không biết làm gì là anh rủ ổng đi uống cà phê tán dóc cho đỡ buồn đó mà. Sao, còn em với thầy em dạo này thế nào?
    - Dạ…

    ***
    Tôi quen với thầy trò của Bình cũng trong một lần đi núi. Ngày ấy, trên núi Cấm còn hoang sơ lắm. Người hành hương tứ xứ tụ tập lên Điện Bồ Hong lễ bái cúng dường xong là trải chiếu dướI mấy gộp đá mà ngủ. Người có tiền thì chịu khó đi bộ xuống vài trăm bậc đá sẽ có mấy cái chòi che tạm để giăng võng ngủ. Nhưng hầu như mọI ngườI đều thích ở lạI trên đỉnh hơn. Có lẽ họ muốn được lãnh điển trờI hay vì muốn được tự do nhóm họp và ca hát…
    Đêm đó, người ở lại trên điện đa phần là bổn đạo của phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa, phần còn lại là các vị có phần căn được vô hình dựa xác. Tôi tháp tùng theo đoàn khách hành hương ở khu người Hoa Chợ Lớn. Sau phần cúng lễ, hầu hết thành viên trong xe tôi đều xuống dướI triền để nghỉ ngơi. Chỉ riêng tôi cùng vài người ở lại ngồi đàm đạo chuyện đông tây kim cổ. Không khí lúc đó cũng vui, bên đây rì rầm nói chuyện, bên kia đọc tụng lào xào, Văng vẳng vang lên mấy bài kệ pháp của các vị linh căn về điển…
    Bỗng, ở phía bên kia có tiếng la hét bất thường. Cảm giác có điều bất ổn , tôi cùng vài huynh đệ vôi chạy qua xem. Trong ánh sáng nhập nhoạng của đèn nến nghi ngút trên bệ thờ, tôi nhìn thấy một người phụ nữ đang vật vã. Những người xung quanh đều hoảng hốt tránh ra xa thành một vòng tròn , chỉ còn lại ngiữa vòng hai người đàn ông một trung niên, một trẻ tuổi. Anh bạn trẻ đang cố hết sức giữ chặt vai người phụ nữ, còn người đàn ông trung niên đang dùng nhang khoán thổi. Trớ trêu ở chỗ, càng khoán thổi người đàn bà càng vật vã giữ dội.
    Sau một lúc, người phụ nữ vùng dậy được hất mạnh chàng trai té ngã vào đám đông và gầm gừ gào thét dữ dội. Người đàn ông trung niên có vẻ hốt hoảng và tức giận. Tôi thấy ông ta co tay trái thành Lôi ấn, chuyển chân thành bộ Cương, ngưng thần nắm chặt bó nhang trong tay…
    Không hiểu động lực nào giật tôi ra khỏi đám đông, chạy đến chụp cổ tay ông lại. Người đàn ông quay sang nhìn tôi với vẻ khó hiểu và bực dọc. nhưng lúc ấy tôi còn để ý gì nữa đâu. Chụp ly nước để trên bệ thờ, tôi kết ấn Cát Tường đọc kinh thỉnh Tổ. Một luồng khí ấm áp từ đỉnh đầu lan xuống, tôi lâng lâng sảng khoái. Không hiểu sao tôi bật nói một tràng tiếng lạ, khẩu âm giống giống tiếng Khơme nhưng không phải.
    Người đàn bà đang vật vã bỗng dịu hẳn lại. Bà ta ngồi yên lắng nghe tôi nó
    i một cách chăm chú. Thế rồi


    Người phụ nữ cất tiếng trả lời. Tiếng nói cũng âm hưởng giống cách phát âm của tôi. Cả hai nói chuyện qua lại với nhau liên tu bất tận. Nói ra thì kỳ, trước nay có bao giờ tôi biết nói tiếng Miên tiếng Lèo gì đâu. Hôm nay sao đột ngột xuất khẩu thành lời, một thứ ngôn từ mà mình chưa bao giờ học. Thầy tôi có nói, đó là tiếng âm, tiếng của chư vị Lục Tổ chư vị Lục Xiêm ở cõi giới trên trao điổi với nhau. Nghe thì nghe vậy chứ có áp dụng lần nào đâu mà biết, giờ đây gặp chuyện, cái thứ tiếng lạ đó cứ tuôn trào như nước chảy. Lạ hơn nữa là người phụ nữ nói đến đâu, tôi hiểu ngay đến đó, hiểu một cách tự nhiên như đang nghe tiếng mẹ đẻ của mình…
    Trao đổi với nhau một hồi lâu, người phụ nữ gật đầu ra vẻ đồng ý. Tôi liền bước tới gần hớp một hớp nước trong ly phun lên phía sau lưng người phụ nữ. Bà ta ưỡn người dựng đứng thân mình rồi rũ xuống như tàu lá chuối bị gió quật gãy. Sợ phần điển xuất ra mang theo sinh khí, tôi liền quỳ xuống phía sau lưng hoạ chữ Phật trong phép của Tổ sư Đại động vào giữa hai vai người phụ nữ, miệng lâm râm khấn vái:
    MÔ TÂY PHƯƠNG SƯ TỔ, ÔNG BÙA ĐẠI TIÊN, LỤC CỤ CHUI.
    NAM MÔ ÔNG BÙA, ĐỨC PHẬT VƯƠNG TRỢ LỰC CHO ĐỆ TỬ LÀM PHÉP GIÚP Đ ỜI.. ( còn tiếp )Một Cõi Âm Dương


     
  2. Đẹp Trai Thì Sao Thành Viên Cấp 4

    Tiếp anh , Rùng rợn wá :-ss
     
  3. nhansamqua Thành Viên Cấp 5

    Một Cõi Âm Dươngthanks bác Bụi Trần có cao kiến, nhưng em chỉ sợ làm như thế chít em thì bác onlylap lại tạo thêm nghiệp thui, em thì em tin vào Vô Hình, còn nếu Bác còn nghi ngờ thì Bác có thể thử, vì bản thân trải nghiệm mới hay, chứ em mà có thí nghiệm thì cũng không thể kể hết cho bác nghe được... :41_002:
    em cũng có qua TGVH nhưng ko down được, thanks bác sonjapan nhé, đọc tiếp.
     
  4. onlylap Thành Viên Chưa Kích Hoạt

  5. kiem si Thành Viên Chưa Kích Hoạt

    chờ xem tiếp nào
     
  6. sonjapan Thành Viên Cấp 1

    ( tt )

    Thời gian trôi nhanh khoảng chừng hớp một chung trà, người phụ nữ cựa mình tỉnh dậy. Bà đưa mắt ngơ ngác nhìn quanh như dò hỏi. Tôi ngoắc mấy người ngồi gần đưa bà ta ra khỏi tâm vòng tròn, đoạn trả chung nước lại trên bàn thờ. Tiện tay, tôi thắp bảy nén nhang kỉnh lễ chư vị…
    Người đàn ông trung niên nãy giờ im lặng quan sát việc làm của tôi bây giờ mới lên tiếng:
    - Chào huynh, chẳng hay huynh là…
    - Dạ, tôi ở Sài Gòn mới xuống hồi chiều này.
    - Tôi cũng ở Sài Gòn đây. Chẳng hay huynh ở quận mấy?
    - Dạ, tôi ở quận 5, gần chùa Bà Thiên Hậu đường Nguyễn Trãi.
    - Còn tui ở quận 8, gần cầu Chà Và. Tui với bổn đạo - vừa nói ông vừa chỉ mấy người ngồi quanh – cũng mới xuống hồi chiều này.
    - Huynh ở gần cầu Chà Và vậy có ở đường Bến Ba Đình không vậy?
    - Ủa, huynh biết hả? Tui ở cuối bến Ba Đình, gần chợ Xóm Củi đó.
    - Dạ, thỉnh thoảng tôi cũng có qua đó thăm người quen – Tôi cố tình dấu tung tích của thầy mình.
    - Hay quá. Vậy khi nào có qua, huynh cứ đến gần ngã ba hỏi thăm cậu Ba Hồng, ai cũng biết tui hết đó. Có dịp huynh ghé qua nghen. Còn đây là thằng Bình, học trò của tui – Ông ta quay sang chỉ người thanh niên đứng bên cạnh.
    Khẽ gật đầu chào anh ta, tôi trả lời cho xong chuyện:
    - Dạ. Khi rảnh tôi sẽ ghé…
    Chưa đợi tôi nói hết, cậu Ba Hồng - tức người đàn ông trung niên - đã vội kéo tôi ra ngoài vòng tròn và hỏi nhỏ:
    - Hồi nãy, huynh trao đổi gì với mấy ổng vậy?
    Thì ra huynh ta đang thắc mắc cái vụ nói chuyện tiếng âm. Tôi cười hỏi lại cắc cớ:
    - Vậy huynh biết mấy ổng là ai hôn?
    - Tui biết là chư vị thôi, còn là ai thì chưa rõ lắm.
    - Chưa rõ mà huynh định dùng Ngũ Lôi đánh người ta, thiệt là …
    Ba Hồng cười gượng:
    - Hồi nãy, thấy nó lì quá nên tui định trục ra…
    Lần này đến tôi nghiêm mặt:
    - Tôi nói thiệt lòng, mong huynh tha lỗi nếu có gì xúc phạm. Huynh chưa biết là ai, cũng chưa hỏi rõ ngọn nguồn đã thủ ấn đánh người, không khéo sau này gặp chuyện phiền phức không gỡ nỗi đó. Người ta là điển cô cậu, chưa đủ thời kỳ về xác, huynh triệu thỉnh các vị nhập về lại không giải điển được làm người ta bị kẹt trong xác, vậy mà còn định đánh Ngũ Lôi nữa thì lỗi của huynh nhiều quá xá.
    Cậu Ba chống chế:
    - Tôi nghĩ nếu là chư vị thì phải xuất nhập bình an chứ, có lý đâu lại …
    - Muốn về xác phải có sắc lệnh. Cái xác thối tha này, nhất là xác nữ càng nhiều uế trược, ai mà ngự cho được chứ. Lỡ vào rồi chẳng khác gì cá vô lờ, mắc kẹt lại xác làm sao mà chịu nổi… Hồi nãy, các vị giận huynh lắm đó.
    Cậu Ba Hồng dường như thấm thía, thở dài ngồi im nhìn vào khoảng không trước mặt…


    Chuyện ấy xảy ra thắm thoắt đã gần 10 năm.
    Sau này, thỉnh thoảng qua thăm thầy, tiện đường tôi cũng có ghé nhà cậu Ba Hồng chơi. Nhà cậu cũng không rộng rãi gì, một trệt một gác gỗ. Điện thờ ở trên gác, phần nhà trệt để bán tạp hoá và phòng ngủ, nhà bếp, nhà vệ sinh. Những chuyện giao lưu qua lại có lẽ không cần thiết phải dài dòng làm gì. Có điều, tôi không thường ghé nhà cậu mặc dù cậu rất quý tôi. Bởi mỗi lần ghé, ít nhiều gì tôi cũng phải ngồi đồng tiếp xúc với một loạt các đồng đạo của cậu ta. Nhìn thấy các vị ấy cứ lúc âm lúc dương, không bao giờ chịu tự chủ bản thân mà tu tiến, lúc nào họ cũng chờ đợi có ai nhập xác để nói chuyện huyền cơ khiến tôi cảm thấy buồn lòng. Chư vị về tá điển làm việc giúp đời chẳng qua là muốn lập đủ các công đức để thằng lên bậc cao. Công đức ấy, phần xác được hưởng một phần. Nếu ai biết nương theo điều đó mà tu tập thì mau thăng tiến, ngược lại sẽ trở thành con đồng không hơn không kém.
    Tôi buồn và không muốn tiếp xúc vì hầu hết những người tôi gặp đều sống dựa vào cõi vô hình. Thậm chí không ai giáng điển họ cũng tìm cách gật gù ỡm ờ cho có vẻ linh thiêng huyền bí, nói chuyện thì cứ như người cõi trên, áo quần thì luôn khác người. Nếu không loè loẹt phấn son thì cũng ra vẻ tiên nhân giáng thế. Hỏi thăm gia đình họ mới biết đa số là con cái lang thang học hành không đến nơi đến chốn, vợ chồng hục hặc. Tôi chạnh nghĩ, lúc nào họ cũng ở trên mây như thế, chả trách chồng, vợ, con cái nản lòng mà xa cách. Tôi có đưa vấn đề ra nói thẳng, nhiều vị còn tỏ vẻ giận dỗi hoặc đổ thừa cho căn số. Thiết tưởng, căn số là hoàn cảnh trớ trêu mà con người tìm mọi cách thoát ra nhưng không thoát. Còn họ cứ bỏ nhà bỏ cửa đi hết chùa này miễu nọ, hết đình to am nhỏ, hết núi lớn đến sông dài thì gia đình làm sao cung phụng cho nỗi…
    Càng nghĩ, tôi càng thấy họ xa dần những điều Phật dạy, mê mãi trong ánh hào quang mà chư vị tá về giúp độ. Ngày nào đó không xa, khi công thành quả mãn, chư vị rút điển đi còn trơ lại xác thân, lúc bấy giờ nghiệp đổ ra không ai gánh chịu giùm mình…
    Bẵng một thời gian rất lâu tôi không ghé, nghe đâu gia đình cậu Ba bán nhà đi về kinh tế mới ở tận Bù Băng – Sông Bé (bây giờ là Bình Phước). Thằng Bình là đệ tử thân thiết, cũng không có người thân nên cậu Ba Hồng đưa nó theo sống chung.
    Vậy mà thoắt cái đã hơn ba năm …

    - Dạ.. thầy em có lời hỏi thăm huynh và anh Hai…
    Câu nói của Bảy Bình kéo tôi trở về với thực tại.
    - Vậy dạo này cậu Ba ổng sống ra sao?
    - Vất vả lắm huynh ơi - Giọng Bảy Bình lắng xuống cố nén một tiếng thở dài.
    - Đành chịu thôi. Về vùng kinh tế mới mà, có phải như ở thành phố đâu mà đòi hỏi tiện nghi sung sướng.
    Minh Tịnh cũng góp vào một câu:
    - Ngẫm ra chỉ ở tại đất Sài Gòn này là hạnh phúc nhất. Có nghèo đến đâu cũng không đến nỗi đói kém.
    - Về trên ấy, mọi người sống bằng gì?
    - Dạ, thì cũng làm rẫy là chủ yếu.
    - Ở trên đó yên tĩnh, gần rừng núi, chắc là cậu Ba ổng luyện dữ lắm hả Bình?
    Thằng Bình khẽ cúi đầu:
    - Mất hết rồi huynh ơi. Thầy Tổ hết độ rồi…
    - Vậy là sao ? – Tôi ngơ ngác.
    - Dạ… sư phụ không những chữa bệnh hết được mà còn bị ma rừng phá phách nữa!
    - Trời đất! Có chuyện đó sao?
    Bảy Bình bắt đầu kể, nó kể nhiều lắm nhưng tôi chỉ lược thuật lại hai câu chuyện :
    … Sau khi về Sông Bé gần một năm thì các nguồn hỗ trợ dành cho người đi kinh tế mới cạn sạch. Chính quyền thì ở xa, điều kiện đi lại thì khó khăn, rẫy bắp trồng suốt thời gian qua không cho được bao nhiêu trái, lại không bán được cho ai. Thế là đói.
    Thầy trò thằng Bình phải đi bẫy thú, bắn chim để cải thiện.
    Hôm đó, hai thầy trò đang đi thăm bẫy thì nghe tiếng ếch kêu vang rân. Cậu Ba soi đèn và phát hiện trên mấy gò đất ếch hội đầy. Con nào con nấy bự bằng bàn tay trở lên. Mắt ếch phản chiếu ánh đèn lấp lánh. Mừng rỡ như bắt được vàng, hai thầy trò bỏ cả việc thăm bẫy lao vào bắt ếch. Cái dòng ếch nghĩ cũng lạ, bị đèn chiếu vào mắt là ngồi trơ ra như bị thôi miên, người ta chỉ có việc bước tới nắm lấy ngang thân bỏ vào lồng.
    Chẳng mấy chốc, cái lồng đan bằng tre lồ ô đã đầy. Hai thầy trò khệ nệ mang về nhà, vừa đi vừa tiếc rẻ mấy con ếch chưa bắt.
    Đổ hết giỏ ếch vào cái lu gạo đã trống rỗng, thằng Bình chắn lên nắp đậy một cục đá to cho chắc ăn. Nó cẩn thận để hở ra một chút vừa đủ cho lũ ếch không chết ngộp. Xong, hai thầy trò đi ngủ. Cậu Ba vào ngủ trong buồng, thằng Bình ngủ ở nhà sau….
    Chỉ mới lim dim chưa kịp thả hồn thì.. thằng Bình chợt nghe không khí yên lặng một cách lạ kỳ. Cái im lặng thật đáng sợ. Nó tạo cho người ta một cảm giác bất an. Thằng Bình trăn trở một hồi chợt nhận ra nãy giờ không hề nghe tiếng ếch kêu. Quái! Không con này kêu thì cũng còn con khác chứ, lẽ nào im dữ vậy!
    Nó mò mẫm trong bóng tối lần ra sau hè. Đứng bên lu ếch, Bình đánh que diêm cháy sáng. Một tay cầm diêm, một tay kéo nắp lu xích ra một chút. Vừa nhìn vào lu, Bình đã hốt hoảng hét lên…


    Trời đất ơi…!
    Bình chạy vội vào nhà, vừa lúc cậu Ba đang xỏ dép bước ra.
    - Chuyện gì mà nửa đêm mày la hét vậy hả?
    - Thầy ơi… mấy.. con ếch… nó… - Bình lắp bắp không nói nên lời.
    - Mấy con ếch nó sao? Chết hết rồi hả?
    - Nó… nó…
    - Hay là rắn vô bắt ếch…
    - Hổng phải, nó…
    Câu Ba tức mình bỏ mặc Bình đứng đó, chạy vội ra sau hè. Cô Ba cũng vừa cầm cây đèn bão chạy ra.
    Vừa soi vào lu, cả hai sững sờ chết trân…
    Trong lu không có một con ếch nào, chỉ đầy nhóc những cục đất to tròn bằng nắm tay trở lên.
    Cậu Ba vừa quay trở vào nhà vừa than thở:
    - Hết thời rồi! Hết thời rồi… Ma dám giỡn mặt thầy, ma dám giỡn mặt thầy…
    Cả nhà im lặng như đưa đám, không ai dám nói với ai một tiếng nào.
    Sau đó vài tháng…
    Mùa mưa đến. Muỗi rừng nhiều như trấu. Trời vừa chạng vạng là nó bay ra cả bầy vo ve như tiếng đàn tiếng sáo. Chỉ cần quơ tay cũng nắm được mấy con.
    Cho nên, vừa thấy mặt trời gác núi là ai nấy lo buông mùng. Ai ăn cơm chậm trễ thì bưng luôn vào trong mùng ngồi ăn. Ăn xong rồi đẩy mâm ra ngoài sáng hôm sau mới rửa.
    Nhà cậu Ba nghèo nhất nhì trong xóm (nói là xóm chứ cách xa nhau hàng chục thước mới có một căn nhà lá lụp xụp). Thầy trò cậu phải tranh thủ làm thêm buổi tối. Ban ngày, sau khi đi rẫy về, cậu và Bình chặt thêm mấy khúc tre lồ ô về chẻ nhỏ đan rỗ rá. Buổi tối, thầy trò đốt một đống un bằng lá rừng có mùi cay vừa thay cho đèn dầu vừa để xua muỗi.
    Hôm đó, mợ Ba bị sốt, thằng Bình phải lo dọn rửa chén bát phía sau, còn một mình cậu Ba ngồi vun đống củi khô và lá cây để đốt. Mùa mưa, lá và cành đều ẩm ướt, thổi cho cháy lên được là cả một công trình. Khói bay mịt mù cay xè đôi mắt…
    Bỗng …
    Một tiếng nói vang lên sau lưng, phía cửa rào:
    - Ô, có lửa rồi. Chú cho hơ lửa chút.
    Tưởng có người hàng xóm nào ghé ngang, cậu Ba chẳng thèm quay lưng lại, trả lời:
    - Hơ thì vô hơ, khách sáo gì.
    Một bóng người bước tới ngồi cạnh bên cậu Ba:
    - Cảm ơn nhe!
    - Lại khách sáo. - vừa nói cậu vừa đứng dậy bước vô phía trong hốt thêm mớ lá.
    Đến khi quay lại, cậu Ba điếng hồn “Ơ” lên một tiếng khi nhìn thấy …
    Người đàn ông đang ngồi hơ lửa đội cái nón lá rộng vành kiểu người Tàu, trên người khoác tấm lá bện bằng cỏ tranh phủ ra sau lưng. Áo quần ông ta rách rưới. Hai tay giơ ra phía trước huơ huơ gần lửa, bàn tay gầy đét trơ xương, các ngón cụt gần hết còn trơ cùi…
    Nghe tiếng “ơ” của cậu, người đang ngồi ngước mặt lến nhìn. Trời đất ơi! Trên khuôn mặt đầy xương lạnh lùng như xác chết là hai hốc mắt sâu thẳm, hoàn toàn không có tròng mắt, con người.
    Người đàn ông chợt cất tiếng cười, hàm răng ông nhe ra trắng ởn…


    be continued.
     
  7. nhansamqua Thành Viên Cấp 5

    thanks bác sonjapan tiếp, thanks luôn bác kia cho link luôn... ai cũng tốt hết, mình cũng ủng hộ bác sonjapan, chờ tiếp tập sau đó bác sơn.
     
  8. sonjapan Thành Viên Cấp 1

    ( tt )

    Thần hồn nát thần tính, không kịp suy nghĩ đến một câu chú hộ thân cầu tổ nào khác, cậu Ba quơ tay chụp cái rựa trên đất liệng về phía người đàn ông rồi co cẳng chạy vào nhà…
    Sáng hôm sau, hai thầy trò đi tìm cái rựa…
    Nó nằm tuốt ở bìa rừng, bên cạnh một gò mối bự chảng…


    Câu chuyện của Bảy Bình làm tôi nghẹn ngào. Cuộc đời làm thầy bao nhiêu là truân chuyên. Dù không bất hạnh như cậu Ba nhưng huynh đệ tôi cũng đâu có sung sướng gì!
    Cứu người thì được tiếng khen, không cứu được người thì bị mang tiếng oán. Thậm chí khi đã giúp người qua cơn nguy hiểm, người ta vẫn cho là nhờ đổi thuốc, tìm được bác sĩ hay… Cái thói đời, đau chân thì hả miệng, vừa chạy bác sĩ vừa cầu khẩn tứ tung vừa thỉnh thầy bà đủ hướng. Đến khi khoẻ mạnh thì phẩy tay, ngoảnh mặt cho rằng nhờ khoa học hiện đại, nhờ bác sĩ chuyên khoa mới bên nước ngoài về… Hừ! Bác sĩ mà ở được ngãi ma lai hay mở được độc trùng thư ếm thì mấy ông thầy huyền môn về núi hoặc bỏ nghề từ lâu rồi!
    Chạnh lòng, tôi nhớ lại hai câu thơ của thầy thường hay ngâm ngợi:
    “Nhân tình thường bạc như vôi
    Đến khi gặp ác mới hồi hung tâm”
    Cuộc đời của một ông thầy có bao giờ ăn ngon mặc đẹp. Thậm chí, khi được tặng một cái áo mới, thầy cũng phải thắp hương bàn tổ rồi châm vào cho thủng áo mới dám xỏ vào.
    Tôi nhớ lại ông Út làm thầy sửa sưng trặc ở xóm tôi hồi ấy cũng vậy …lối xóm không ai dám hó hé đến nhà ông, mặc dù ông rất hiền nhưng mọi người đều "chợn". Người ta đồn nhà ông toàn là ngãi nghệ, đến nhà ông thế nào cũng trúng ngãi mà chết. Tôi lúc đầu cũng sợ lắm, nhưng vào nhà ông tôi chẳng thấy cái gì khác hơn bộ bàn ghế cũ mèm, cái bàn thờ đóng tạm bằng tấm ván cũ, một bình hương chõng chơ chẳng có bùa phép ngãi nghệ gì. Tôi được ông chữa đau ở ngón tay. Ngay trong buổi chiều ấy, tay tôi lành lặn bình thường như chưa từng bị trặc. Chúng tôi cám ơn ông và ra về sau khi cúng tổ ... chỉ bằng một cái trứng gà đã luộc sẵn...
    Sau này lớn lên, tôi có quay lại tìn ông. Nhưng ông đã chết được vài năm, căn nhà nhỏ của ông được đứa cháu sang tay cho chủ khác. Thoáng chút ngậm ngùi về cuộc đời làm thầy, sống trong nghèo khó, cô đơn (xóm giềng có ai dám chơi với ông đâu), chết cũng trong cô đơn nghèo khó ( nghe nói lúc ông chết chỉ có một bộ đồ cũ liệm xác, một chiếc hòm phước thiện của trại hòm và vài người tốt bụng tiễn đưa).
    Sau này khi học phép ra sư với thầy, tôi mới thấm thía cái vị cay đắng chua chát của cuộc đời. Minh Tịnh sư huynh tôi cũng đâu có hơn gì, thậm chí còn vất vả bất hạnh hơn nhiều. Tôi còn ung dung đi tour đây đó chứ huynh ấy suốt ngày bị cột chặt vào công việc, phải cày bừa để hùn cơm với gia đình, lúc tan sở lại đạp xe cọc cạch đến nhà người ta chữa bệnh.
    Mà thói đời nghĩ cũng lạ. Phù thịnh không ai chịu phù suy. Thầy càng giàu có càng làm tiền dữ tợn, con công đệ tử càng xúm vào tâng bốc. Thầy lệnh phải cúng bao nhiêu tiền thì phải cung cúc lo đủ bấy nhiêu tiền, không hề dám thở than một tiếng. Nhưng gặp thầy đi xe đạp, mặc áo rách thì khinh khi ra mặt, một ly nước chẳng muốn mời. Thậm chí nghe đề nghị bố thí phóng sanh họ liền nhăn mày nhíu mặt than không có tiền xoay sở…
    Đó là lý do vì sao người đời dễ bị lường gạt đến tiền mất tật mang…
    Thật ra, than thở là nói theo thói đời vậy thôi. Khi vào cửa đạo, ai nếm qua pháp vị mới thấy nó hơn hẳn mọi vị trên cõi đời. Không có gì bình an bằng sự bình an trong tâm hồn con người. Tự biết thế nào là đủ, ung dung trong cuộc sống “an bần lạc đạo”, thế mới là tiên tại thế…


    Dạ, hôm nay em về kiếm huynh là có chuyện gấp.
    Câu nói của thằng Bình kéo tôi trở về với thực tại.
    - Có chuyện gì vậy Bình?
    - Dạ, sư phụ bảo em phải về tìm sư thúc đi một chuyến về Bù Đăng để phụ giúp sư phụ. Nhưng về đây thì sư thúc đi núi mất tiêu rồi. Chuyện lại gấp gáp quá, em chạy lại tìm huynh hú hoạ, biết đâu huynh có thể giúp được gì. May sao, gặp huynh và anh Hai ở đây…
    - Mà chuyện gì mới được, mày cứ vòng vo hoài anh hổng hiểu gì hết.
    Bảy Bình hắng giọng và bắt đầu kể…

    ... Khu dân cư ở Bù Đăng nhà cửa khá thưa thớt. Cách xa hàng chục thước mới có một căn nhà lá. Hiếm hoi lắm mới có vài căn nhà tường lợp tôn xi măng. Đó là nhà của mấy vị cán bộ trong xã sinh sống ở nơi này từ rất lâu. Ở phía sau khu nhà là rừng chuối bạt ngàn kéo dài ngút mắt. Người dân ở đây sinh sống chủ yếu là nghề làm rẫy, tỉa bắp, trồng mì. Các loại cây khác như mít, đu đủ chuối thì trồng tự nhiên, đến khi đủ ngày tháng cây tự động ra trái. Chủ vườn cứ việc ra đốn về đóng vào cần xé mang ra vựa bán.
    Bọn trẻ ở vùng này gần một nửa là thất học. Muốn đến trường Tiểu học, phải lội bộ gần chục cây số mới đến xã. Học Trung học thì phải đi mấy chục cây số ra tận thị trấn. Nhà ai nấy đều nghèo, làm gì có đủ tiền bạc và phương tiện mà đi học như con nít thành thị. Vả lại, đi học hết lấy ai coi nhà và phụ giúp chuyện gia đình. Thôi thì trời sinh sao chịu vậy. Chừng nào khá giả hẵng hay.
    Trẻ con ở nhà một đám lủ khủ lớn nhỏ đủ hết. Nhiều khi ba mẹ chúng đi làm rẫy, không biết chuyện gì làm chúng liền tụ tập nhau lại bày đủ trò để chơi, khi thì nhảy dây, khi thì rượt bắt, lúc thì đá banh, chọi cầu, leo cây, đánh chõng…
    Hôm trước, mấy đứa nhỏ ở không tụ tập lại chơi trò ma chuối…
    Thằng Hiếu con chú Năm trưởng ấp oẳn tù tì bị thua nên ngồi chính giữa làm ma. Bọn trẻ chạy vào rừng chuối cạo phấn chuối đem về xoa đầy mặt mũi tay chân thằng Hiếu. Sau đó, thằng nhỏ bị bắt ngồi chồm hổm, hai tay bịt mặt. Cả đám đi vòng tròn xung quanh mỗi đứa cầm trong tay một tàu lá chuối vừa đi vòng quanh thằng Hiếu, bọn trẻ gõ tàu chuối lên đầu thằng nhỏ vừa hát:
    Con ma chuối
    Ở trong núi
    Ở trong rừng
    Nhảy cà tưng
    Qua con suối
    Về ăn muối
    Về ăn cơm
    Nằm ổ rơm
    Chơi rượt bắt
    Hú… oà… oà…
    Hát chừng vài chập, thằng Hiếu vụt đứng dậy...
    Hai mắt nó giương lên chỉ còn tròng trắng. Hai tay vươn dài về phía trước, lưỡi chợt le ra lòng thòng, nó khệnh khạng bước …
    Lũ trẻ rú lên bỏ chạy tán loạn. Mấy đứa nhỏ hoảng hốt chạy tuốt về nhà đóng cửa lại, hai ba đứa lớn lúc đầu ngỡ thằng Hiếu giả vờ nên còn né qua né lại cười cợt. Sau vài phút, thấy vẻ không bình thường của thằng Hiếu, tụi nhỏ bắt đầu sợ thiệt. Không ai bảo ai, tụi nó cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng tìm chỗ nấp…
    Một lát sau…
    Nghe không khí chừng yên tĩnh trở lại, thằng lớn nhất chạy ra khỏi chỗ ẩn nấp thăm dò. Xung quanh vắng lặng, thằng Hiếu biến đi đâu mất. Những đứa khác cũng lục tục kéo ra, hỏi thăm nhau, chẳng ai thấy thằng Hiếu ở chỗ nào. Thế là nháo nhào đi tìm…
    Chiều tối, người lớn đi rẫy về, thằng Hiếu vẫn bặt vô âm tín. Nghe bọn trẻ kể lại, cả xóm đốt đuốc chạy tìm tứ xứ . Chú Năm xách chiếc xe honda cà tàng chạy thẳng lên xã báo cáo. Xã đội cử mấy dân quân vác súng đi tìm với bà con.
    Một đêm thức trắng. Gần sáng, mọi người lủi thủi kéo về. Ai nấy mệt mỏi rã rời. Chú thím Năm mặt mũi bơ phờ hốc hác…
    Bóng dáng thằng Hiếu vẫn mù mịt.


    Ngày thứ hai trôi qua trong vô vọng. Bóng dáng thằng Hiếu vẫn bặt vô âm tín. Mấy độI tìm kiếm đã toả ra khắp cả vạt rừng để cứu hộ nhưng tất cả đều trở về trong thất vọng. Bây giờ, gia đình chú Năm chỉ còn hy vọng vào nhóm ngườI dân tộc đang lùng ở vạt rừng bên trong.
    Đến tốI, mấy thanh niên ngườI Ch’ro đã về đến xóm. Nhưng, nhìn thấy thái độ ủ rũ của họ, ai nấy đều biết kết quả như thế nào rồi. Già làng dẫn đầu nhóm tìm kiếm lắc đầu nói bằng tiếng Việt lơ lớ:
    - Bọn tui tìm khắp nơi không thấy gì. Cũng không có dấu thú rừng. Tui chắc thằng nhỏ bị con ma bắt đi rồi.
    Thím Năm gục xuống xỉu tại chỗ, mọi người lại phải đưa thím vào nhà cứu chữa…
    Chợt, anh Tư Phước hàng xóm sát nhà cậu Ba Hồng nhớ ra:
    - TạI sao mình không nhờ anhBa ảnh giúp cho. Tui biết ảnh làm thầy hồI còn ở Sài Gòn lận.
    Chú Năm mừng như ngườI chết đuốI vớ phảI phao cứu sinh:
    - Sao anh không nói sớm. Anh đưa tui qua nhà ảnh đi.
    Thế là chú Năm cùng Tư Phước chạy qua kiếm cậu Ba…

    - Dạ - Bảy Bình kết thúc - thầy em nói dạo này khí vận không tốt lắm, không thể làm được chuyện này.Nhưng ngườI ta năn nỉ quá sức, vả lạI chú Năm cũng là ngườI trên xã, không giúp ổng cũng khó khăn trong công việc sau này. Vậy là thầy kếu em tức tốc về Sài Gòn tìm sư thúc trợ giúp. Không có ổng thì may thay gặp hai anh ở đây…
    - Gặp ở đây thì sao? – Tôi hỏI ngược lại.
    - Em định nhờ huynh giúp…
    Bình chưa nói hết câu, tôi trợn mắt:
    - TrờI đất! Bộ em tính kêu anh theo em về Bà Rá hả?
    - Dạ, rốI quá, em chỉ biết nhờ huynh…
    - Nhưng… chuyện này tao chưa làm lần nào hết. Không biết có được không nữa.
    - Huynh ráng giúp giùm thầy trò em. Lúc này, không có huynh em chẳng biết nhờ ai. Huynh làm ơn giúp giùm…
    Thằng Bình năn nỉ làm tôi mủI lòng.
    Còn đang ngẫm nghĩ thì chân tôi bị đá nhẹ một cái. Ngó sang, Minh Tịnh nhìn tôi khẽ gật đầu một cái. Tôi mừng húm:
    - Ông giúp tui nhe!
    Minh Tịnh lạI gật đầu. Tôi thở phào nhẹ nhõm.
    - Thôi được rồi. Trả tiền cà phê rồI mình lên đường luôn. Ghé qua nhà anh lấy đồ cái đã, tiện thể nói vớI mà anh một tiếng kẻo bà trông…
    ***
    Đường về Phước Long xa mù mịt. Ba huynh đệ tôi ngồI bó chả trong chiếc xe chạy bằng than nóng như lò bát quái và chật cứng. Thằng Bình có vẻ quen thuộc nên ngồI tự nhiên, Minh Tịnh lên xe ngồI nhắm mắt như ngủ. Có mình tôi là khó chịu thật sự. Trước nay, mỗI lần đi xa, nếu không đi máy bay thì cũng đi ô tô du lịch gắn máy lạnh đàng hoàng.bây giờ mớI biết cảm giác đi xe than thú vị cỡ nào… Ngồi im một hồI, tôi thử quán tưởng. Thân con ngườI lúc chưa sinh ra cũng đâu có rộng rãi gì hơn. Trong một cáin túi nhau chật hẹp suốt chín tháng mườI ngày. Khi ra đờI lạI bị quấn vòng trong vòng ngoài như bó chả. Lớn lên lạI bị ràng buộc vào trong hàng loạt những thứ linh tinh khác, rồI mãi quây quần trong đờI tạm cũng chật chộI khó chịu tù túng có khác chi mình ngồi trong chiếc xe than này. Chẳng qua, một cảm giác chật hẹp nóng bức có thể cảm nhận được và một cảm giác vô hình không thấy được đó thôi…
    Nghĩ đến đó, tôi thấy cảm giác khó chịu không còn hành hạ mình nữa. Tôi cũng bắt chước Minh Tịnh khoanh tay lim dim mắt. Bất ngờ, sư huynh mở mắt nhìn tôi cườI ý nghĩa. Tôi cũng cườI và nhắm mắt lạI đọc bài kinh hộ mạng: “ Buot tho tế lô…”

    ***
    Vào đến chỗ ở của cậu Ba, tôi mớI biết cuộc sống cậu ấy khổ đến thế nào. Một căn nhà lá ba gian lụp xụp, cái sân hẹp phơi đầy củ khoai mì và bắp. Bước vào trong, cái bàn thờ đóng tạm bằng mấy miếng ván cũ, trơ vơ phía trên là hình Phật Di Đà, Quan âm, phía dướI là tấm sắc thờ chư vị 5 ông đã bạc màu theo năm tháng…
    Cậu Ba từ nhà sau bước lên, nhìn thấy huynh đệ tôi, cậu ớ lên một tiếng rồI đứng trân ngỡ ngàng, xúc động. Có lẽ cậu không ngờ huynh đệ tôi lặn lộI lên tận chốn này…
    Chuyện hàn huyên những tưởng không cần kể lể dài dòng. Huynh đệ chúng tôi ngay sau đó theo cậu Ba sang nhà chú Năm ba nthằng Hiếu. Nghe nói có thầy ở Sài Gòn xuống, bà con trong xóm kéo đến một nhà. Kẻ trong ngườI ngoài lố nhố như xem hát tuồng. Huynh đệ tôi đã quen vớI những chuyện này nên cũng không ngạI ngùng cho lắm.
    Sau khi nghe kể đầu đuôi câu chuyện, Minh Tịnh nhìn đồng hồ nói:
    - Bây giờ cũng chiều rồI, mình phảI khẩn trương lên để kịp tìm thằng nhỏ về trước lúc trờI tối. Để mặt trờI sụp xuống là khó hy vọng lắm. Đêm nay là đêm thứ ba rồi.
    Chú Năm tha thiết:
    - Dạ, thầy cứ chỉ dạy, chuyện gì tụI tui cũng là hết.
    Tư Phước cũng xen vô:
    - Tụi tui cũng giúp nữa thầy. Cả xóm này ai cũng lo cho thằng nhỏ hết trơn, thầh có cần gì cứ nói.
    Minh Tịnh không nói không rằng tiến đến bàn thờ Thổ công thắp nhang khấn vái. Tôi biết huynh ấy đang triệu thỉnh Thổ Thần hỏI việc.
    Giây lát, Minh Tịnh cắm nhang vào lư hương, quay sang bảo tôi:
    - Ông thắm nhang bàn thờ Phật và bàn thờ gia tiên. Đọc bài Ân đức Phật trước, sau đó qua bàn thờ gia tiên lấy tên tuổI thằng nhỏ mà tụng kinh hộI Cửu Huyền Thất Tổ, nhờ họ bảo mạng giùm.
    Quay sang chú Năm:
    - Anh vào bếp lấy cho tôi cái chén mà thằng nhỏ thường dùng ăn cơm. một đôi đũa cũ đem lên đây. Còn bà con – quay sang Tư Phước huynh nói tiếp – ai tuổI Dần, Ngọ Tuất thì đi phụ tìmn thằng nhỏ, ai không phảI tuổI thì cứ ở nhà đi theo không tiện.
    Trong khi tôi cúng bên trong thì Minh Tịnh bước ra sân vẽ bùa làm phép…
    Pháp sự hoàn tất, cái chén của thằng Hiếu được đặt vào trong lư hương cửu huyền. Lấy gạo đổ đầy chén, Minh Tịnh thắp ba cây nhang cắm vào, lấy một cái trứng gà để dướI chân nhang, gác ngang đôi đũa và bắt đầu khởI hành vào rừng.Nhóm ngườI tìm kiếm cũng chia làm ba nhóm theo tuổi. Tôi và Minh Tịnh đi vớI nhóm tuổI Dần, cậu Ba Hồng và chú Năm đi vớI nhóm tuổI Ngọ, thằng Bình và thím Năm đi vớI nhóm tuổI Tuất. MỗI nhóm mang theo chiêng, nắp nồI, vỏ đạn để gõ tạo thành tiếng động. Vừa gõ, họ vừa gọI tên thằng Hiếu om xòm.
    Rừng càng lúc càng dày đặc, trờI cứ tốI dần đi. Chúng tôi bắt đầu sốt ruột. Cây nhang đã tàn hơn một nửa mà bóng dáng thằng Hiếu vẫn không thấy đâu.
    mệt mỏI, chúng tôi ngồI bệt xuống một gốc cây to nghỉ ngơi. TrờI sẫm dần lạI, không gian mờ ảo…
    Bỗng, một con khỉ từ đâu trên cây nhảy xuống chụp lấy cái trứng gà và chạy biến vào rừng mất dạng. MọI ngườI nhốn nháo toan chạy theo thì sư huynh tôi ngăn lại. Nhìn thấy vả mặt tươi cườI của huynh ấy là tôi biết có chuyện vui rôi.
    - Sao ông? Được rồI hả?
    Khẽ gật đầu, huynh ấy gọI lớn: “ Bà con về nghỉ, trờI tốI rồI không tìm được nữa đâu.”
    MọI ngườI lốc thốc kéo về.
    Đến gần nhà chú Năm, ai nấy nghe tiếng ồn ào náo nhiệt. Giọng tư Phước to nhất:
    “… TụI tui mệt quá tính đi vế thì thím Năm bả mắc tiểu. Bả vừa chạy u vô phía sau bụI chuốI để xả thì tụI tui nghe bả la chỏI lỏi. Hết hồn, tui và thằng Bình chạy vô thấy bả đưa tay chỉ bụI chuốI lớn bên trong. mấy ngườI biết gì không? Thằng Hiếu nó ngồI thu lu ở giữa mấy gốc chuối. Mắt nó đứng tròng, tay bó gối. Còn cái miệng nó hả… TrờI đất ơi, nhét đầy nhóc đất cục luôn. TụI tui chạy lạI khiêng thằng nhỏ ra ngoài, móc đất trong miệng nó ra. Ông ơi.. trong đất còn có mấy con trùng bò lổn ngổn thấy mà ớn. Vậy là mấy anh em tôi thay nhau vác nó chạy về đây…”
    Minh Tịnh vẹt mọI ngườI ra, tiếng đến chỗ thằng nhỏ đang nằm trên bộ ván. mặt của nó xanh mét, mắt nắm khít như ngủ. Huynh ấy, lấy lay đặt lên đầu thằng Hiếu nhắm mặt niệm lâm râm, tôi cũng nắm vộI hai ngón chân cái đứa nhỏ để tiếp lực. Đọc xong bài kinh Phật Lực, Minh Tịnh thổI ba hơi vào đỉnh đầu thằng Hiếu. Đoạn, dựng nó lên vỗ ba cái vào giữa hai gù vai.
    Thằng Hiếu cựa mình mở mắt. Thím Năm mừng qua chạy lạI ôm chầm lấy nó khóc nức nở…
    Minh Tịnh dặn:
    - Ở nhà pha nước gừng cho đứa nhỏ uống, đừng bu đông qua nó bị ngộp.
    sau khi tỉnh hẳn. Hiếu bắt đầu kể:
    - HồI chơi trò ma chuối. Con đang ngồI thì có một cô đẹp lắm bước tớI hỏI con muốn đi chơi không, có chỗ này vui lắm. Con vừa gật đầu thì cô đó bước tớI nắm tay con chạy đi vù vù. Đến một chỗ đông ngườI lắm. Họ rủ con ở lạI chơi, họ cho con nhiều đồ ăn vớI kẹo bánh. Đang ăn thì mấy chú đến kêu con về…
    Thì ra thằng nhỏ bị ma chuốI dấu. Hồn nó bị đưa vào cõi ma, cũng may là còn kịp đưa về. Nếu không, để qua đêm nay thế nào nó cũng bị kẹt ở lạI trong đó làm ma rừng suốt đời.

    Chú Năm mừng rỡ liền làm luôn mấy con gà đãi bà con chòm xóm. Dĩ nhiên chúng tôi là thượng khách nên được khẩn khoản ở lạI thưởng thức món gà nướng đất sét đặc biệt do thím Năm làm. Anh em tôi viện cớ ăn chay nên xin phép ra về…
    Trên đường về nhà cậu Ba, tôi và Minh Tịnh khẽ chạnh lòng cho cái vô minh của con người. Lẽ ra, con được cứu trở về thì gia đình phảI hồI tâm chuyển ý mà tin Phật. Đằng này… còn tiếp tục sát sanh để ăn mừng thoát nạn. Nghiệp này cứu được, sau này nghiệp khác chồng lên không biết ai sẽ là ngườI cứu họ đây.
    Nghĩ mà buồn cho ngườI đời. Miệng họ luôn nói tin TrờI tưởng Phật, ngồI nói chuyện vớI nhau toàn lý lẽ cao sâu đến khi gặp chuyện rồI mớI hiểu con ngườI thực tạI là thế nào. Tôi khẽ chua chát nhớ lờI nói của chú Năm trước khi chia tay:
    - Tôi hứa sẽ ăn chay mà. Nhưng đó là chuyện ngày mai. Còn bữa nay, anh em mình nhậu một bữa cho vui, coi như mừng thằng nhỏ bình an trở về…
    Không biết khi nghiệp báo đổ tớI, có ai đứng ra hẹn ngày mai không nhỉ?
    … TốI đó, ngồI nói chuyện vớI cậu Ba đến gần sáng. Chúng tôi mớI biết thêm nhiều câu chuyện về sự thăng trầm của cậu suốt thờI gian qua. Thôi! Làm thầy là để trả nghiệp. Nghiệp hết rồI thì mọI thứ lạI bình ổn như xưa thôi.
    Nhìn lên bà thờ lấp loé mấy cây nhang cháy đỏ, tôi biết chư Thần vẫn còn ở đó. Nhưng, đâu có chư thần nào chịu xen vào nhân quả thế gian đâu. Họ chỉ xuất hiện đỡ lưng trong những lúc tốI cần thiết… Đó lại là chuyện khác sau này của câu ba, không phải là câu chuyện bây giờ
    … Ba giờ sáng, thầy trò thằng Bình đã thức dậy tiễn huynh đệ tôi ra lộ lớn. Nơi đó, những chiếc xe than chở chuốI mít, khoai mì đang đổ về Sài Gòn. Chúng tôi sẽ đi nhờ một trong những chiếc xe than ấy. Quà tặng mang về là … mấy củ khoai mì mà cô Ba thức dậy nấu từ hồI sớm.
    Chiếc xe than rồ máy chạy bon bon trên con đường về thành phố. Bóng thầy trò cậu Ba nhanh chóng biến mất trong màn đêm. MỗI ngườI lạI tiếp tục cuộc hành trình của mình…
    Còn gia đình chú năm? Có lẽ giờ này họ vẫn đang ngủ ngon sau bữa tiệc rượu linh đình.
    Ngó sang Minh Tịnh, huynh ấy lạI tiếp tục khoanh tay lim dim không biết đang ngủ hay thức.
    Ngó ra ngoài, trờI vẫn còn tốI đen như mực. Chiếc xe than chở chúng tôi đang cố pha đèn vào khoảng không gian đen tốI để tìm đường chạy…
     
  9. nhansamqua Thành Viên Cấp 5

    thanks Bác sonjapan 1 phát nửa nhé, chờ xem tiếp, hôm nay cuối tuần bác khuyến mãi thêm 1 tập nửa đi bác.... hay quá
     
  10. akela304 Thành Viên Chưa Kích Hoạt

    tic...tac...tic...tac.....
     
  11. theworld Banned

    ui chu cha dai le the
     
  12. nhansamqua Thành Viên Cấp 5

    hết rồi hả bác sonjapan? sao không tiếp hả bác?
     
  13. boomvtp Banned

    tiếp đi bác sonjapan ơi hehe..
     
  14. tthanhthang Thành Viên Cấp 2

    chắc bác sonjapan hôm nay k đi làm rồi, ngồi chờ sáng giờ coi tiếp mà chẳng thấy đâu hic
     
  15. NCK Thành Viên Cấp 2

    bác dài truyền hình này chán ghê luôn vay đó,hôm nay không post bài cho a e coi mà cũng trễ giờ nũa
     
  16. boomvtp Banned

    haizzz... chắc hôm nay là ngày post bài khác Một Cõi Âm Dương
     
  17. YamahaTaurus Thành Viên Cấp 2

    Hôm nay vô topic nay mấy lần mà chưa thấy bác ấy chiếu tập tiếp theo Một Cõi Âm Dương
     
  18. sonjapan Thành Viên Cấp 1

    [:burn_joss_stick: e xin sorry các pak vì mấy ngày nay công việc bận quá, sáng sớm vào cty chưa làm việc gì hết đã lo tranh thủ post bài không thì các pak chữi em suốt ngày mất. Xin trân trọng thông báo với các pak là câu truyện Một Cõi Âm Dương đến đây đã hết vì tác giả không chịu viết tiếp Một Cõi Âm Dương để lại biết bao nuối tiếc hụt hẫng cho đọc giả, vị thầy này bây giờ đã bước chân vào cửa Phật, xin chúc Thầy Minh Thông được an lạc, tu hành tinh tấn trong cõi ta bà này.

    Sẵng đây nếu các pak đồng ý, mình xin post tiếp theo bài " Cuối tầng địa ngục " của tác giả Nguyễn Văn Phúc, bài này có phản động hay không thì tùy theo người đọc cảm nhận, nếu thích thì MODs có thể xóa, nhưng hãy coi nó chỉ là dĩ vãng, suy nghĩ và tâm sự của người tù, người con của dân tộc Việt Nam đã 1 thời lầm lỡ, thanks MODs.


    CUỐI TẦNG ĐỊA NGỤC
    Đỗ Văn Phúc

    Phần mở đầu
    Lịch Sử Sang Trang
    Khi trời rạng sáng, tiếng súng lớn nhỏ từ các ngoại ô, nhất là hướng phi trường Tân Sơn Nhất, đã rời rạc dần và chấm dứt hẳn vào khoảng xế trưa; sau khi Đài Phát Thanh Sài Gòn loan truyền lệnh buông súng của Tổng Thống ba ngày Dương Văn Minh. Dân chúng bắt đầu rời các nơi trú ẩn ùa ra đường. Người ta đã thấy các binh sĩ Cộng Sản miền Bắc tràn vào các ngõ nghách. Khi chạy lúp xúp qua những xóm nhà dân, họ chỉa súng quát tháo om sòm để biểu lộ quyền uy của kẻ thắng trận. Bên ngoài đường phố, đã thấy những đoàn xe đủ loại: từ xe buýt chở khách đến các xe đò đường dài, xe tải lẫn trong những chiếc xe Molotova màu cứt ngựa. Trên xe là các du kích, lính địa phương Việt Cộng miền Nam. Sự phân biệt lính Việt Cộng miền Nam và bộ đội miền Bắc rất dễ dàng. Vì lính Việt Cộng miền Nam thì ăn mặc lộn xộn, đủ kiểu đủ màu. Từ bộ bà ba đen cho đến chiếc quần ka ki xanh cũ, cái áo người thì trắng đã ngả sang màu cháo lòng; người thì xanh, đỏ tím vàng… Họ đội những chiếc nón tai bèo và quàng quanh cổ chiếc khăn rằn hoặc xanh hoặc đỏ; chân mang đôi dép cao su cắt từ vỏ xe hơi và đặc biệt là họ có cùng một khuôn mặt đầy sát khí. Lính Bắc Việt thì khác hẳn. Họ là những thanh thiếu niên còn rất trẻ; khuôn mặt xanh xao có vẻ ngờ nghệch, nhưng trang bị vũ khí đầy người. Họ mặc những bộ binh phục xanh lá cây thùng thình cắt may vụng về, quá khổ so với thân thể ốm đói nhỏ thó của họ.
    Thỉnh thoảng, người ta thấy vài chiếc xe díp mui trần còn nguyên vẹn huy hiệu của quân đội miền Nam chạy qua. Trên xe là các thanh niên bặm trợn, và các thầy tu mặc áo nâu sồng. Họ mang băng đỏ bên cánh tay và cầm những khẩu súng M16 của Mỹ mới lượm được bên đường do quân miền Nam vứt bỏ. Đó là bọn đón gió trở cờ mà người ta gọi là bọn “cách mạng 30 tháng tư”
    Hoà bình! Hoà bình!
    Như một dòng nước trong mát đối với những kẻ lữ hành trên sa mạc đã nhiều ngày và sắp quỵ gục. Như một chấm xanh xanh phiá chân trời đối với người thủy thủ đang lạc hướng ngoài biển khơi. Đó là ước vọng sâu sắc nhất của những người Việt Nam cả hai bên bờ vĩ tuyến 17 sau 30 năm chiến tranh điêu linh, nếu tính từ khi chiến tranh Pháp Việt bắt đầu. Hoà bình! Trên quê hương vốn đã điêu tàn sẽ không còn nghe tiếng súng nổ, bom rơi. Vành khăn sô sẽ ngưng quấn trên mái đầu xanh các thiếu phụ. Những người cha chinh chiến bao năm sẽ trở về săn sóc dạy dỗ đàn con. Các bà mẹ sẽ không phải nhòa mắt đứng trước cửa ngày ngày ngóng tin con từ những chiến trường mờ mịt nào đó.
    Sau một cuộc chiến dài đăng đẳng và quá tàn khốc, người Việt Nam đã quá kiệt lực. Họ mong mỏi hoà bình, và sẵn sàng chấp nhận trả với bất cứ giá nào. Đối với người dân thường miền Nam, họ biết sẽ có cuộc đổi thay sâu sắc dẫn đến nhiều mất mát. Nhưng ở mức độ nào thì họ không thể đoán ra được. Những người miền Bắc đã di cư vào Nam năm 1954 thì biết là sẽ khốn khổ, khốc liệt có thể đổ nhiều máu. Những quân nhân, cán bộ chính quyền miền Nam thì đau đớn biết rằng từ đây sẽ mất tất cả. Một tương lai ảm đạm đang chờ đón họ và gia đình. Nhưng họ chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Họ đã mất các cơ hội leo lên những chuyến bay vội vàng hay những con tàu nêm kín người rời bến trong những giây phút hỗn loạn cuối tháng tư. Những người cầm đầu đã nhanh chân tẩu thoát. Giờ này không ai chỉ bày cho họ phương hướng nữa. Họ chờ đợi một cách bi hùng những gì sắp xảy đến cho đời mình.

    Khi chiếc xe tăng T-54 của Nga sô chế tạo cán sập chiếc cổng sắt của dinh Độc Lập và đám quần thần Dương Văn Minh ríu rít buớc ra đứng sắp hàng như những tù nhân chờ giải giao thì coi như “Lịch sử đã sang trang!”
    Một trang tương đối huy hoàng của chế độ Cộng hoà đã bị xếp lại.
    Chương 1
    Trại Tù Long Khánh

    Phần 1: Lệnh Tập Trung: mười lăm Ngày Học Tập
    Vài ngày sau, trong lúc thành phố Sài Gòn vẫn còn hoang mang và hỗn loạn, tôi thu xếp đưa vợ và bốn cháu về lại Vũng Tàu. Cầu Cỏ May bị đánh sập trước đó khoảng một tuần, hành khách phải xuống xe dùng đò qua sông. Hai vợ chồng tôi và bốn cháu bé – có một cháu sơ sanh - vất vả vô cùng, loay hoay với mớ tài sản thu gọn trong hai chiếc vali lớn. Đến nhà, gặp lại Mẹ tôi mừng rỡ vì thấy con cháu đều bình yên. Những đêm 28, 29 tháng Tư, Việt Cộng pháo kích bằng hoả tiễn vào khu nhà thờ Tân Sa Châu, là nơi tiểu gia đình chúng tôi đang thuê nhà trú ngụ trong thời gian tôi làm việc cho hãng thầu LSI chuyên bảo trì phi cơ C-130 của Không Đoàn 53 Chiến Thuật. Đã quá quen với bom đạn, tôi bảo vợ con cứ ngủ yên trên giường. Bom rớt trúng chỗ thì núp đâu cũng chết; còn rớt xa thì còn mảnh văng theo vòng cầu đã có vách tường cản bớt sức công phá.
    Tuy ở Vũng Tàu đã lâu, nhưng tôi ít bạn. Thời còn ở bộ binh thì mỗi năm về phép có một lần, ru rú ở nhà. Thời gian phục vụ trong quân chủng Không quân thì cả gia đình di chuyển theo ra Phan Rang. Vì thế, tôi chẳng có ai để hỏi han tình thế và bàn chuyện. Ông Sáu Khương, một người thợ hớt tóc gần nhà đến thăm, khuyên lơn an ủi. Hoá ra ông là cán bộ cơ sở của Việt Cộng tại địa phương. Ông biết quá nhiều về tôi, từ cá tính đến quan điểm lập trường. Bây giờ, trong chế độ mới, ông là khóm trưởng khóm Rẫy, phường Thắng Tam rồi. Sẽ phải vất vả vì ông này thôi.
    Loanh quanh ở nhà được gần một tháng thì bắt đầu nghe có thông cáo gọi anh em hạ sĩ quan binh sĩ đi học tập ba ngày tại địa phương. Lớp này vừa về thì có lệnh cho sĩ quan cấp tá đi “học tập” một tháng. Kế đó là sĩ quan cấp úy trong mười lăm ngày. Xét ra cũng hợp lý thôi. Cấp nhỏ “học” ít ngày; cấp trung “học” nhiều hơn một chút; cấp cao thì “học” dài ngày. Thế là giải toả hết âu lo về việc “tắm máu”; ai nấy thở phào như cất bớt một gánh lo âu. Bây giờ chỉ còn câu hỏi của bản thân tôi. Thế thì những người đã giải ngũ “học” bao lâu? Sao không thấy nhắc đến trong thông cáo?
    Ông Sáu Khương nhanh nhẩu góp ý:
    - Đã tham gia quân đội “ngụy” thì bề gì cũng phải “học” thôi. Đi sớm thì về sớm.Đi trễ thì về trễ.

    Thế là tôi thu xếp một túi hành trang gọn, bọc theo một ít tiền vừa đủ chi dùng trong mười lăm ngày; tạm biệt mẹ, hôn vợ và các con rồi quày quả ra đi.
    - Mười lăm ngày cũng nhanh. Em rán tiêu xài dè xẻn chút tiền còn lại, chờ anh về.

    Tuy đã quen nếp sống xa nhau từ những năm tôi đi chiến đấu xa nhà, vợ tôi cũng cảm thấy ái ngại. Có một điều trùng hợp ngẫu nhiên. Trước đó mấy hôm, rảnh rang không làm gì, tôi lôi cuốn “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” của C. V. Georghiu ra đọc. Câu chuyện anh chàng Ian Moritz ở xứ Romania cũng từ giã người vợ đang mang bầu để theo lệnh tập trung đi làm lao động trong muời lăm ngày ở phòng tuyến biên giới Romania và Hungaria. Rồi biền biệt muời lăm năm, anh phải trải qua hàng chục trại tù khổ sai của nhiều nước khác nhau trước khi được quân đội Mỹ cứu thoát ở Đức khi Thế Chiến thứ hai kết thúc. Tôi vô tâm không hề suy nghĩ và so sánh đến hoàn cảnh của mình. Vì nếu thật biết vậy, ai trong trường hợp này cũng thà trốn đi chứ có ngu gì đút đầu vào cái bẫy gian dối kia!

    Ngày Thứ Nhất của Mười Lăm Ngày “Học Tập Cải Tạo”

    Chúng tôi được những chiếc xe đò dân sự đưa về hướng Bắc trên con đường tỉnh lộ, qua các địa danh Bình Ba, Bình Giã nổi tiếng một thời. Xe dừng ở “Trại Lê Lợi” trên một ngọn đồi nhỏ, nơi trước đây là căn cứ Tiếp Vận của Tiểu Khu Long Khánh. Tên trại vẫn còn là tên cũ của Quân Lực VNCH mà Việt Cộng chưa kịp thay đổi. Mấy trăm con người được đưa vào trong bốn dãy nhà tôn tiền chế trước đây làm nhà kho; nhưng nay đã trống trải ngoại trừ bốn dãy sạp gỗ mới làm xong để làm chỗ ngủ cho “cải tạo viên”. Nơi đây có một đơn vị quân chính quy Bắc Việt trú đóng. Bao bì, thùng bọng của quân Cộng hoà vương vãi đó đây, nhưng hàng hoá, quân dụng chắc đã bị cộng quân thanh toán gọn gàng hết rồi. Một sĩ quan Cộng Sản đọc tên từng mười người, phiên chế thành một A (tiểu đội); bốn A thành một B (trung đội); bốn B thành một C (đại đội) và huớng dẫn mỗi C vào một căn nhà. Nhiều người tìm những bạn bè quen biết để chiếm các chỗ ngủ kế nhau. Riêng tôi, không quen ai, nên chẳng bận tâm mấy. Nằm đâu cũng thế; chỉ mười lăm ngày thì cũng nhanh thôi. Trong đoàn chúng tôi có một nữ Trung Úy, - chị Lê Thị Huệ - phục vụ ở Đặc Khu Vũng Tàu. Chị Huệ là vợ của anh Hồ Văn Khởi[1], năm 1971 là trưởng ban Hai kiêm Trung đội trưởng Quân Báo của Tiểu đoàn 4/8 nơi tôi đang chỉ huy Đại đội 15. Sau trận Snuol, anh được chuyển về trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Tôi không quen với chị Huệ, nên cũng không tiện tiếp xúc. Chị thu vén một góc cuối căn nhà để làm chỗ ngủ vì biết chắc sẽ không có chỗ nào khác đặc biệt cho phụ nữ tại một nơi mà chỉ toàn nam giới. Trên chiến trường Miền Đông Nam Phần, tôi đã nhiều lần phát giác các căn cứ du kích gồm một tổ hợp những hầm chìm dưới đất. Trong các hầm đều có lương thực dự trữ và đặc biệt có đủ quần áo, đồ lót phụ nữ. Tra vấn tù binh mới biết rằng họ sống chung đụng gái trai như thế (hai nam một nữ trong một hầm), Có lẽ quen việc chung đụng như thế, nên họ không nhìn thấy và thông cảm cho một tình huống rất khó khăn cho những nữ binh miền Nam, và cho ngay cả mấy trăm bạn nam đồng cảnh.
    Buổi chiều đầu tiên, mấy anh lính Bắc Việt nhìn chúng tôi có vẻ dò xét; và một phần nào e sợ. Thì ra các chính trị viên Cộng Sản đã nhồi nhét vào đầu óc họ hình ảnh người lính miền Nam chuyên giết người để ăn gan uống mật, “cực kỳ” hung ác. Có anh, khi bất ngờ chạm mặt chúng tôi, đã tỏ ra hốt hoảng. Sau này mới biết là họ tưởng quân nhân miền Nam ai cũng giỏi võ nên họ sợ bị tấn công.....

    còn tiếp..
     
  19. Lavie2410 Thành Viên Cấp 3

    Truyện bắt đầu hết thấy hay và chuyển sang chiều hướng xuyên tạc. Bạn sonjapan nên cân nhắc trước khi post tiếp.
     
  20. boomvtp Banned

    đánh dấu... giờ đi học đã tối về đọc